CHƯƠNG 1 TÌNH HÌNH CHUNG CỦA KHU VỰC 1.1 Đặc điểm tự nhiên vùng.1 Vị trí địa lý. Hoà An là một huyện miền núi thuộc tỉnh Cao Bằng, nằm ở vị trí trung tâm tỉnh và bao quanh thành phố Cao Bằng. Huyện Hoà An có tọa độ địa lý: + Từ: 22030’10”- 22052’30” Vĩ độ Bắc P P P P + Từ: 106000’00”-106024’33” Kinh độ đông P P P P Hoà An có tổng diện tích 60.701 ha, dân số 53.726 người, chia thành 21 đơn vị hành chính gồm 20 xã và 01 thị trấn. Phạm vi ranh giới của Hòa An bao gồm: + Phía Bắc: giáp các huyện Hà Quảng, Trà Lĩnh.
+ Phía Nam: giáp Huyện Thạch An + Phía Đông: giáp huyện Quảng Uyên, Quảng Hòa + Phía Tây : Giáp các huyện Nguyên Bình, Thông Nông Hình 1.1: Bản đồ vị trí địa lý tỉnh Cao Bằng Trung tâm huyện Hòa An là thị trấn Nước Hai, nằm trên tỉnh lộ 203 cách thành phố Cao Bằng 16 km về hướng Tây Bắc. Trên địa bàn huyện, giao thông -5- đường bộ chủ yếu là các tuyến đường huyết mạch trong tỉnh gồm có quốc lộ 3, quốc lộ 4, quốc lộ 34, tỉnh lộ 203, tỉnh lộ 204 và nhờ có các tuyến đường này mà Hòa An đã trở thành cầu nối giữa trung tâm hành chính, kinh tế, văn hóa, xã hội của tỉnh Cao Bằng với các huyện khác trong tỉnh và nước láng giềng Trung Quốc (Hòa An cách cửa khẩu Sóc Giang – Hà Quảng 40km về phía Bắc). Nhìn chung huyện Hòa An có vị trí tương đối thuận lợi để giao lưu phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội với các địa bàn khác trong tỉnh, ngoài tỉnh và với nước Cộng hòa nhân nhân Trung Hoa qua cửa khẩu Sóc Giang.2 Đặc điểm địa hình. Hoà An có kiến tạo hình dạng lòng máng dọc theo sông Bằng theo hướng Tây Bắc- Đông Nam.
Độ cao trung bình 350m so với mực nước biển ( thấp nhất 135m, cao nhất 1011m). Địa hình ở đây chia cắt phức tạp, đại bộ phận có đồi núi thấp xen kẽ địa hình karst (đá vôi) với các thung lũng sâu giữa núi. Sự phân hoá nên địa hình phân theo 3 vùng địa hình chính: miền núi, trung du và đồng bằng ven sông. Đặc điểm phân bố các dạng địa hình như sau: + Vùng địa hình đồng bằng: Độ cao trung bình 140 – 200m so với mực nước biển, phân bố tập trung trên địa bàn 8 xã, thị trấn ở trung tâm huyện dọc hai bờ sông Bằng Giang.
Đây là vùng địa hình bằng ( độ dốc phần lớn dưới 80), được P P hình thành chủ yếu do bồi đắp phù sa của các sông, suối thuộc hệ thống sông Bằng Giang. Trên địa hình này đã hình thành những cánh đồng lúa nước xen kẽ các nương, bãi trồng màu khá màu mỡ. Đây là vùng sản xuất lúa có quy mô tập trung lớn không chỉ của huyện mà còn của toàn tỉnh Cao Bằng. Vùng địa hình này chiếm 17% diện tích toàn huyện.
+ Vùng địa hình trung du: Độ cao trung bình 300 – 350m, phân bố tập trung ở các xã phía bắc, Đông Bắc và phía Nam của huyện. Đa phần đất có độ dốc trên 250 xen kẽ có các thung lũng hẹp và chân sườn đồi dốc thoải, độ dốc dưới 200, có thể bố trí trồng cây ngắn ngày, cây lâu năm và cây ăn quả kết hợp với phát triển lâm nghiệp. Vùng địa hình này chiếm 63% diện tích toàn huyện. -6- + Vùng địa hình miền núi: Độ cao trung bình 350 – 400m so với mực nước biển, phân bố ở 6 xã phía Tây, Đông Bắc và phía Đông huyện, trong đó tập trung nhất ở 4 xã phía Đông.
Nên địa hình này chủ yếu là các dãy núi đá vôi dốc đứng xen kẽ một số khe lũng bằng, hẹp, khả năng khai thác sử dụng vào nông nghiệp của vùng địa hình này rất hạn chế, trong lâm nghiệp chủ yếu bảo vệ, phục hồi dạng rừng núi đá, vùng địa hình này chiếm 20% diện tích toàn huyện. Đặc điểm địa hình của Hoà An cho thấy sự phân hoá rõ rệt, các vùng địa hình khác nhau gây khó khăn cho việc đi lại và xây dựng cơ sở hạ tầng nhưng lại mang ưu thế đa dạng trong khả năng khai thác sử dụng đất vào phát triển nông - lâm nghiệp, tuy nhiên trong sử dụng đất cần đặc biệt chú trọng nâng cao hiệu quả khai thác, đặc biệt đối với vùng địa hình bằng phẳng là nơi tập trung dân cư cao gắn liền với quá trình đô thị hoá và hệ thống cơ sở hạ tầng phát triển mạnh gây sức ép lớn. Các vùng địa hình đồi núi cần gắn việc khai thác sử dụng với bảo vệ tài nguyên, môi trường nhằm đảm bảo tính bền vững trong quá trình sử dụng.3 Khí hậu Hoà An chịu ảnh hưởng của khí hậu lục địa nhiệt đới gió mùa và phân hóa thành 2 mùa: - Mùa đông nhiệt độ thấp, khô lạnh, ít mưa, đôi khi có sương muối. - Mùa hè nhiệt độ và độ ẩm cao, mưa nhiều, đôi khi có mưa đá.
Những đặc trưng trong chế độ khí hậu, thời tiết của Hoà An như sau: - Chế độ nhiệt: Nền nhiệt trung bình cả năm khoảng 20 – 220C, trung bình tối đa cao lên P P tới 32,30C ( tháng 7) và nhiệt độ trung bình thấp là 10,40C (tháng 1). Nền nhiệt phân P P P P hoá trong năm theo 2 mùa rõ rệt: Mùa nóng, ẩm từ tháng 5- 9 và mùa khô - lạnh từ tháng 10 – 4 năm sau. Nhiệt độ trung bình các tháng nóng đạt 26,50C, nhiệt độ trung P P bình các tháng mùa lạnh khoảng 18,90C. Biên độ nhiệt trung bình giữa các tháng P P trong năm khoảng 7,20C, biên độ nhiệt ngày đêm cũng khá cao, bình quân khoảng P P 6,80C, mùa lạnh có thể lên tới 8,20C.
P P P P -7- Nhiệt độ của Hoà An đảm bảo cho khả năng canh tác 2-3 vụ cây ngắn ngày trong năm, tuy nhiên cần chú ý tới nền nhiệt thấp trong vụ Đông Xuân dễ ảnh hưởng xấu tới sinh trưởng cây trồng và với vụ mùa nếu cấy muộn dễ gặp rét làm hạn chế tới năng suất, do vậy cần đặc biệt chú ý lựa chọn một cơ cấu thời vụ và bộ giống thích hợp để hạn chế những ảnh hưởng bất thuận trong chế độ nhiệt. Nhìn chung, chế độ nhiệt của Hoà An mang lại ưu thế thích nghi cho phát triển một cơ cấu cây trồng đa dạng: Cận nhiệt đới, á nhiệt đới và nhiệt đới. - Chế độ ẩm: Lượng mưa bình quân của Hoà An khoảng 1300 -1500 mm/năm. Tuy nhiên phân bố không đều, lượng mưa trong mùa mưa ( từ tháng 3 đến tháng 8 ) chiếm tới 80% lượng mưa cả năm, giữa các tiểu vùng địa hình lượng mưa biến động lượng mưa ảnh hưởng lớn tới độ ẩm trong mùa khô, lạnh làm hạn chế đáng kể tới khả năng từng vụ cây trồng trên những diện tích chưa chủ động tưới.
Tuy nhiên, trong mùa khô ( từ tháng 12 đến tháng 3) có khoảng 26 ngày có mưa phùn làm tăng chế độ ẩm trong mùa khô. Mùa mưa với lượng mưa tập trung thường gây rửa trôi, xói mòn đất vùng đồi núi và kèm theo lũ gây sạt lở đất vùng thung lũng ven sông Bằng, những yếu tố này đòi hỏi cần chú trọng các biện pháp bảo vệ đất, đặc biệt chú trọng phục hồi vốn rừng, tăng độ che phủ và có các chế độ canh tác hợp lý nhằm hạn chế các tác động bất thường trong chế độ mưa, lũ. Lượng bốc hơi bình quân ở Hoà An khoảng 800 – 1000mm/năm tuy nhiên diễn biến không đều theo mùa. Trong mùa khô lạnh lượng bốc hơi thường cao hơn lượng mưa từ 2 -7 lần.
Đây là yếu tố chính gây nên tình trạng hạn gay gắt trong vụ Đông Xuân ( hệ số khô hạn thời kỳ này thường dưới mức 0,5 thậm chí có tháng tới 0,12). Thời kỳ này thường không chỉ ảnh hưởng đến cây trồng, hạn chế tới khả năng tăng vụ cây trồng ngắn ngày, mà còn ảnh hưởng xấu tới đàn gia súc ( do thiếu thức ăn) và đời sống sinh hoạt của cư dân ( thiếu nước sinh hoạt ). Trong mùa nóng, tuy lượng bốc hơi cao nhưng thường xấp xỉ hoặc thấp hơn lượng mưa, nên chế độ ẩm được cải thiện đảm bảo điều kiện cho sản xuất và đời sống. -8- - Độ ẩm không khí bình quân cả năm 82% và biến đổi từ 77% đến 85% tuỳ thuộc thời kỳ mưa và lượng nước bốc hơi.
Nhìn chung chế độ ẩm của Hòa An tương đối ổn định, tuy nhiên cần chú trọng trong thời kỳ khô hạn để có những giải pháp kỹ thuật nhằm nâng cao hệ số sử dụng đất ( thuỷ lợi, bố trí mùa vụ thích hợp, lựa chọn bộ giống chịu hạn…). Một số hiện tượng thời tiết đặc biệt khác: + Mưa đá: có thể xảy ra vào các tháng 3, 4, và 9, 10. Tuy ít gặp nhưng khi xảy ra thường gây tổn hại cho cây trồng ngắn ngày như lúa, thuốc lá… + Sương muối: thường xảy ra vào tháng 12 và tháng 1, mỗi đợt 1-2 ngày, thời kỳ có sương muối thường kèm giá rét nên gây hại nặng cho các loại cây trồng và đàn trâu bò. + Lũ lụt: thường xảy ra trong các tháng mùa mưa, tại các vùng ven sông suối gây lũ quét, xói lở đất.ảnh hưởng tới cuộc sống của nhân dân.
Với đặc điểm khí hậu thời tiết về nền nhiệt, độ ẩm cần bố trí nhiều vụ cây trồng trong năm, nâng cao hệ số sử dụng đất. Đồng thời cần hạn chế những tác động bất thuận của chế độ khí hậu - thời tiết tới đất đai và cây trồng như rửa trôi, xói mòn đất, khô hạn, sương muối, mưa đá v. Bằng các biện pháp kỹ thuật thích hợp để đảm bảo sử dụng đất hiệu quả và bền vững.4 Địa chất thủy văn Chế độ thuỷ văn trên các sông, suối ở huyện Hòa An phụ thuộc chủ yếu vào chế độ mưa và khả năng điều tiết của lưu vực, có thể chia ra làm 2 mùa rõ rệt là mùa lũ và mùa cạn. - Mùa lũ: mùa lũ trên các sông, suối ở huyện tương đối đồng nhất về thời gian, thường bắt đầu vào tháng 6 và kết thúc vào tháng 10.
Tuy nhiên trong từng năm cụ thể, giới hạn này có thể dao động trong phạm vi 1 tháng nhưng ít khi xảy ra. Lượng nước trên các sông, suối trong mùa lũ thường chiếm khoảng 65 - 80% lượng nước cả năm. Trong mùa lũ, sự phân phối dòng chảy của các tháng không đều, lũ lớn thường tập trung vào 3 tháng 6,7,8, đặc biệt tháng 7 và tháng 8 là những tháng có dòng chảy lớn nhất.