Tổng quan nghiên cứu

Tại Việt Nam, hơn 60% tổng lượng dòng chảy mặt hàng năm hình thành từ ngoài biên giới lãnh thổ, đặt an ninh tài nguyên nước trước những thách thức lớn về tính bền vững. Tại tỉnh Sơn La, nông nghiệp đóng vai trò trụ cột với giá trị sản xuất chiếm tới 50% cơ cấu kinh tế huyện Mai Sơn vào năm 2019 và mục tiêu tăng trưởng toàn ngành đạt 3,3%/năm đến năm 2030. Tuy nhiên, toàn tỉnh có 105 hồ chứa và 953 đập dâng nhưng hơn 50% công trình đã vận hành trên 25 đến 30 năm, rơi vào tình trạng xuống cấp và chỉ đáp ứng được khoảng 50% đến 60% năng lực thiết kế ban đầu.

Vấn đề nghiên cứu trọng tâm xuất phát từ thực trạng vùng cao nguyên Nà Sản thuộc huyện Mai Sơn với 1.480 ha đất canh tác và hơn 10.060 nhân khẩu đang đối mặt với nguy cơ thiếu hụt nguồn nước trầm trọng trong mùa khô. Mùa kiệt kéo dài từ tháng 10 đến tháng 4 năm sau khiến nguồn nước mặt cạn kiệt cục bộ, trong khi biến đổi khí hậu làm gia tăng biên độ thời tiết cực đoan.

Mục tiêu cụ thể của công trình là đánh giá toàn diện hiện trạng cấp nước, tính toán nhu cầu sử dụng nước đa ngành theo kịch bản biến đổi khí hậu RCP4.5 kết hợp mức tăng trưởng dân số tự nhiên 1,49%/năm, từ đó thiết lập phương án cân bằng nước và đề xuất hệ thống giải pháp công trình, phi công trình nâng cao hiệu quả cấp nước cho hệ thống thủy lợi Nà Sản giai đoạn 2020 đến 2050.

Phạm vi không gian tập trung tại 4 xã trọng điểm gồm Chiềng Dong, Chiềng Mai, Chiềng Mung và Hát Lót thuộc huyện Mai Sơn, sử dụng chuỗi dữ liệu khí tượng thủy văn chuẩn 58 năm từ năm 1961 đến năm 2019. Ý nghĩa nghiên cứu thể hiện qua việc bảo đảm cấp nước tưới tin cậy cho 1.480 ha cây trồng (trong đó cây cà phê chiếm ưu thế với 1.050 ha tương đương 72,41%), ổn định nước sinh hoạt cho 12.016 người năm 2035 và 16.149 người năm 2050, cắt giảm tỷ lệ thất thoát nước từ 25% đến 30% xuống dưới 10%, đồng thời phòng ngừa các đợt hạn hán từng gây thiệt hại hơn 79 tỷ đồng giai đoạn 2012 đến 2019.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu vận dụng Lý thuyết Quản lý Tổng hợp Tài nguyên Nước (IWRM) và Lý thuyết Cân bằng Nước Lưu vực làm nền tảng khoa học cốt lõi. Khung lý thuyết IWRM định hướng điều phối hài hòa giữa bảo tồn hệ sinh thái tự nhiên và phân bổ nguồn nước công bằng cho các ngành kinh tế bao gồm trồng trọt, chăn nuôi, nuôi trồng thủy sản và sinh hoạt đô thị - nông thôn.

Mô hình nghiên cứu xây dựng dựa trên phương trình cân bằng nước tổng thể cho lưu vực suối Nậm Dong và suối Nậm Mua kết hợp đường phân bổ nồng độ khí nhà kính đại diện RCP4.5 theo Báo cáo Đánh giá lần thứ 5 của Ban Liên chính phủ về Biến đổi Khí hậu (IPCC). Mô hình tích hợp chuỗi thông số khí hậu dự phóng với hệ số cây trồng Kc theo chuẩn FAO để xác định nhu cầu bốc thoát hơi tiềm năng (ETo).

Hệ thống khái niệm chuyên ngành chính được áp dụng xuyên suốt bao gồm:

  1. Suất tưới thiết kế với tần suất bảo đảm P = 85% dành cho cây trồng nông nghiệp;
  2. Bốc thoát hơi nước tham chiếu (ETo) xác định qua công thức FAO Penman-Monteith;
  3. Dung tích hữu ích hồ chứa (dung tích hữu ích của hồ Chiềng Dong đạt 3,44 triệu m3 trên tổng dung tích toàn bộ 3,99 triệu m3);
  4. Tỷ lệ suy giảm dòng chảy mùa kiệt của lưu vực sông suối vùng đồi núi dốc;
  5. Hệ số tổn thất truyền dẫn mạng lưới ống kín áp lực cao HDPE.

Phương pháp nghiên cứu

Nguồn dữ liệu đầu vào sử dụng chuỗi số liệu quan trắc khí hậu liên tục 58 năm (1961 - 2019) tại Trạm Khí tượng Sơn La (cách khu vực dự án 16 km). Bộ dữ liệu xác lập các đặc trưng khí hậu nền tảng: nhiệt độ trung bình năm đạt 21,1°C, lượng mưa trung bình nhiều năm đạt 1.402 mm, độ ẩm không khí 81%, lượng bốc hơi trung bình 949 mm và tổng số giờ nắng đạt 2.004 giờ/năm. Dữ liệu kinh tế - xã hội thu thập từ Niên giám thống kê huyện Mai Sơn năm 2019 với tổng quy mô 26.576 nhân khẩu trên 4 xã vùng dự án.

Phương pháp phân tích bao gồm phương pháp thống kê xác suất để tính toán tần suất mưa thiết kế P = 85%, phương pháp phân tích hệ thống cân bằng dòng chảy đến và nhu cầu dùng nước theo 12 tháng, cùng phương pháp mô hình hóa thủy lực mạng lưới truyền dẫn.

Cỡ mẫu nghiên cứu bao trùm toàn bộ chuỗi quan trắc 58 năm lịch sử, khảo sát hiện trạng 40 công trình thủy lợi phân tán và phân tích mẫu đất trên 1.480 ha canh tác, xác định nhóm đất Feralit mùn đỏ vàng chiếm tỷ lệ lớn nhất với 45,50% quỹ đất. Phương pháp chọn mẫu toàn diện được áp dụng nhằm loại bỏ sai số cục bộ.

Lý do lựa chọn phương pháp cân bằng hệ thống kết hợp kịch bản RCP4.5 xuất phát từ đặc thù địa hình carxtơ vùng núi cao Tây Bắc, nơi dòng chảy kiệt nhạy cảm cao với biến động nhiệt độ (dự báo tăng 0,7°C vào đầu thế kỷ và tăng 1,6°C vào giữa thế kỷ), giúp lượng hóa chính xác độ lệch pha giữa nguồn cấp tự nhiên và thời điểm tiêu thụ nước đỉnh điểm của cây trồng.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Phát hiện thứ nhất chỉ ra sự gia tăng mạnh mẽ về tổng nhu cầu dùng nước toàn hệ thống do đô thị hóa và mở rộng nông nghiệp hàng hóa. Dân số vùng hưởng lợi dự báo tăng từ 10.060 người năm 2019 lên 12.016 người năm 2035 và đạt 16.149 người vào năm 2050 (tăng 60,52%). Nhu cầu nước tưới cho 1.480 ha đất canh tác (gồm 1.050 ha cà phê, 180 ha lúa 2 vụ và 220 ha cây hàng năm) chiếm trên 85% tổng nhu cầu nước, đòi hỏi nguồn cung cấp ổn định quanh năm.

Phát hiện thứ hai làm rõ quy luật biến động dòng chảy dưới tác động của kịch bản BĐKH RCP4.5. Dù tổng lượng mưa năm dự báo tăng 7,0% ở thời kỳ 2016-2035 và tăng 15,5% ở thời kỳ 2050, phân bổ mưa trong năm lại mất cân đối nghiêm trọng: lượng mưa mùa khô chỉ chiếm từ 20% đến 30% tổng lượng mưa cả năm. Dòng chảy đến lưu vực suối Nậm Dong và Nậm Mua trong các tháng kiệt nhất (tháng 2, tháng 3 và tháng 4) suy giảm từ 12% đến 17%, gây ra hiện tượng khô hạn khốc liệt.

Phát hiện thứ ba chứng minh năng lực phục vụ nghèo nàn của hệ thống công trình cũ. Hiện trạng 40 công trình thủy lợi nhỏ và tạm bợ chỉ cung cấp nước tưới cho 522 ha lúa (217 ha đông xuân, 305 ha vụ mùa) và 6,1 ha thủy sản, khiến 958 ha đất nông nghiệp còn lại thiếu nước tưới hoàn toàn. Hơn 98% dân số có nước sinh hoạt nhưng chưa đến 5% được tiếp cận nguồn nước sạch đạt quy chuẩn vệ sinh.

Phát hiện thứ tư khẳng định việc xây dựng hồ Chiềng Dong (dung tích 3,99 triệu m3, dung tích chết 0,55 triệu m3) kết hợp nâng cấp đập Bản Ban là giải pháp then chốt giúp điều tiết cắt giảm 100% tình trạng thiếu nước, bảo đảm an ninh tài nguyên nước đến năm 2050 cho toàn vùng cao nguyên Nà Sản.

Thảo luận kết quả

Nguyên nhân căn bản dẫn đến sự mất cân đối cung - cầu nước tại Nà Sản là do đặc trưng địa hình carxtơ chia cắt mạnh, độ dốc sườn núi lớn khiến đáy sông suối thấp hơn mặt bằng canh tác từ 10 đến 15 m, triệt tiêu khả năng tự chảy truyền thống. Thêm vào đó, tập quán tưới tràn thủ công gây thất thoát nước mặt từ 25% đến 30% và làm xói mòn tầng đất mặt màu mỡ.

So sánh với nghiên cứu của Viện Quy hoạch Thủy lợi năm 2014 tại lưu vực sông Mã (dự báo nhu cầu nước tăng 35% đến 41% và dòng chảy kiệt giảm 15% đến 17% vào năm 2050), kết quả của luận văn phản ánh tính tương đồng cao về quy luật khí tượng thủy văn Tây Bắc. Phát hiện này cũng củng cố công trình của Hoàng Thanh Tùng (2019) trên 16 hồ chứa miền núi, khẳng định hồ chứa đa mục tiêu là công cụ hữu hiệu nhất để kiểm soát dòng chảy mùa khô.

Về mặt trực quan hóa, toàn bộ diễn biến cân bằng nước được trình bày tối ưu qua biểu đồ đường kép so sánh dòng chảy đến tự nhiên với tổng nhu cầu nước 12 tháng, kết hợp bảng ma trận cân bằng nước chi tiết theo từng thời kỳ 2016-2035 và 2050. Cách biểu diễn này chỉ rõ thâm hụt nước cực đại rơi vào tháng 3 và tháng 4 hàng năm, cung cấp cơ sở trực quan cho việc lập lịch xả hồ.

Đề xuất và khuyến nghị

Thứ nhất, đẩy nhanh tiến độ thi công và đưa vào vận hành cụm công trình đầu mối hồ chứa nước Chiềng Dong với đập bê tông trọng lực cao 38,8 m, chiều dài đỉnh đập 119 m, dung tích hữu ích 3,44 triệu m3 và mực nước dâng bình thường 760,00 m; hoàn thành nghiệm thu trước năm 2023 dưới sự quản lý của Ban Quản lý Dự án Đầu tư Xây dựng Ngành Nông nghiệp tỉnh Sơn La.

Thứ hai, nâng cấp đập Bản Ban và kiên cố hóa 6,0 km tuyến kênh chính Bản Ban bằng bê tông cốt thép đạt lưu lượng thiết kế 1,3 m3/s; xây dựng đường hầm chuyển nước không áp dài 166 m (kích thước 1,7 x 1,9 m) sang hồ Xum Lôm; lắp đặt mạng lưới 25 km tuyến ống áp lực kín bằng vật liệu HDPE chịu áp đường kính từ D315 đến D710 nhằm giảm tỷ lệ thất thoát nước xuống dưới 8%, hoàn thành toàn bộ giai đoạn 2022 đến 2025 do Công ty TNHH MTV Quản lý Khai thác Công trình Thủy lợi Sơn La phụ trách.

Thứ ba, chuyển đổi kỹ thuật tưới mặt sang công nghệ tưới tiết kiệm nước (tưới nhỏ giọt kết hợp bón phân hòa tan) cho 1.050 ha cây cà phê và cây ăn quả, đặt mục tiêu tiết kiệm từ 40% đến 60% lượng nước tiêu thụ so với tưới tràn, đồng thời gia tăng năng suất cây trồng thêm 15% đến 20%; triển khai liên tục từ năm 2023 đến năm 2030 do Phòng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn huyện Mai Sơn chủ trì phối hợp cùng các hợp tác xã nông nghiệp.

Thứ tư, tái cấu trúc tổ chức quản lý khai thác thông qua việc thành lập 4 Tổ chức Hợp tác Dùng nước (WUA) tại 4 xã, áp dụng hệ thống giám sát mực nước và điều tiết van đóng mở tự động SCADA/IoT; đồng thời điều chỉnh khung lịch thời vụ gieo cấy lúa đông xuân sớm hơn từ 10 đến 15 ngày để tránh cao điểm hạn kiệt tháng 4, hoàn thành chuẩn hóa quy chế vận hành trong năm 2024 do Ủy ban nhân dân huyện Mai Sơn phê duyệt.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Nhóm cơ quan quản lý nhà nước và hoạch định chính sách (Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Sơn La, Chi cục Thủy lợi, UBND huyện Mai Sơn): Luận văn cung cấp hệ thống số liệu cân bằng nước định lượng và cơ sở khoa học để phê duyệt quy hoạch thủy lợi, phân bổ vốn đầu tư công trình cấp nước cho 1.480 ha vùng kinh tế trọng điểm Nà Sản tầm nhìn đến năm 2050.

Nhóm đơn vị quản lý, khai thác và vận hành công trình thủy nông: Đội ngũ kỹ sư tại Công ty Khai thác Thủy lợi Sơn La và các trạm thủy nông cơ sở có thể trực tiếp ứng dụng quy trình vận hành liên hồ Chiềng Dong - đập Bản Ban, khai thác biểu đồ điều tiết 3,44 triệu m3 nước và áp dụng tiêu chuẩn kỹ thuật vận hành mạng đường ống HDPE dài hơn 25 km.

Nhóm viện nghiên cứu, giảng viên và học viên cao học chuyên ngành Kỹ thuật Tài nguyên Nước, Thủy văn và Biến đổi Khí hậu: Đề tài là tài liệu tham khảo giá trị về phương pháp tích hợp kịch bản RCP4.5 vào bài toán cân bằng nước vùng núi carxtơ, khai thác chuỗi số liệu khí hậu 58 năm và mô hình phân phối dòng chảy tháng phục vụ công tác giảng dạy, nghiên cứu mở rộng.

Nhóm doanh nghiệp nông nghiệp, hợp tác xã và hộ nông dân canh tác tại cao nguyên Nà Sản: Nắm vững biểu đồ cấp nước theo tháng của hệ thống thủy lợi mới và nhận chuyển giao giải pháp tưới nhỏ giọt tiết kiệm 40% đến 60% nước cho 1.050 ha cà phê, giúp nâng cao hiệu quả kinh tế và chủ động ứng phó rủi ro hạn hán.

Câu hỏi thường gặp

Kịch bản biến đổi khí hậu RCP4.5 tác động cụ thể ra sao đến nguồn nước tại khu vực Nà Sản? Theo kịch bản RCP4.5, nhiệt độ trung bình tại khu vực dự báo tăng 0,7°C giai đoạn đầu thế kỷ và tăng 1,6°C vào giữa thế kỷ, làm tăng lượng bốc hơi tiềm năng. Dù tổng lượng mưa năm tăng từ 7,0% đến 15,5%, lượng mưa mùa khô lại suy giảm cục bộ, khiến dòng chảy kiệt các tháng 2 đến tháng 4 trên suối Nậm Dong giảm 12% đến 17%, làm tăng đột biến nguy cơ thiếu nước tưới cho 1.480 ha cây trồng.

Tại sao mạng lưới đường ống HDPE áp lực được lựa chọn thay thế kênh dẫn hở truyền thống? Cao nguyên Nà Sản có địa hình dốc mạnh và nền đá vôi carxtơ nứt nẻ, khiến kênh hở truyền thống bị thất thoát nước ngấm và bồi lắng bùn cát lên tới 25% đến 30%. Tuyến ống áp lực kín HDPE dài 25 km với đường kính D315 đến D710 giúp triệt tiêu thất thoát ngấm bốc hơi, đưa tỷ lệ tổn thất xuống dưới 8% và giải quyết triệt để chênh lệch độ cao 10 đến 15 m giữa đáy suối và đồng ruộng.

Quy mô dung tích hồ Chiềng Dong có đáp ứng đủ nhu cầu nước cho các giai đoạn tương lai không? Hồ chứa Chiềng Dong được thiết kế với dung tích toàn bộ 3,99 triệu m3, dung tích hữu ích 3,44 triệu m3 tại mực nước dâng bình thường 760,00 m. Khi vận hành kết hợp với đập dâng Bản Ban, nguồn nước trữ trong hồ đáp ứng đầy đủ 100% nhu cầu tưới cho 1.480 ha đất canh tác và cung cấp nước sinh hoạt cho 16.149 người dân vào năm 2050 với tần suất bảo đảm P = 85%.

Hiệu quả thực tế của giải pháp tưới nhỏ giọt cho vùng trồng cà phê Mai Sơn là gì? Áp dụng công nghệ tưới nhỏ giọt cho 1.050 ha cà phê giúp giảm từ 40% đến 60% lượng nước tiêu thụ so với tưới tràn, đồng thời giảm 20% lượng phân bón thất thoát qua rửa trôi. Giải pháp này giúp duy trì độ ẩm tối ưu cho vùng rễ trong giai đoạn cây ra hoa kết trái vào tháng 2 và tháng 3, giúp tăng năng suất vườn cây từ 15% đến 20% ngay trong mùa khô hạn.

Hệ thống công trình mới đóng góp gì vào việc giảm thiểu thiệt hại thiên tai tại địa phương? Giai đoạn 2012 đến 2019, thiên tai hạn hán và mưa lũ cực đoan đã gây thiệt hại kinh tế hơn 79 tỷ đồng tại huyện Mai Sơn, gần tương đương tổng thu ngân sách 82,957 tỷ đồng của huyện năm 2019. Hệ thống thủy lợi Nà Sản hoàn thiện giúp kiểm soát nguồn nước chủ động, cắt giảm triệt để thiệt hại mùa vụ do khô hạn và ổn định sinh kế lâu dài cho người dân.

Kết luận

  • Đánh giá xác thực hiện trạng suy thoái của 40 công trình thủy lợi cũ và lượng hóa tình trạng thiếu nước tưới cho 958 ha canh tác tại 4 xã vùng cao nguyên Nà Sản.
  • Ứng dụng thành công chuỗi dữ liệu khí tượng thủy văn 58 năm và kịch bản BĐKH RCP4.5 để tính toán cân bằng nước chi tiết theo 12 tháng cho các mốc thời gian 2016-2035 và 2050.
  • Khẳng định vai trò quyết định của hồ Chiềng Dong (dung tích 3,99 triệu m3) và đập Bản Ban trong việc bảo đảm cấp nước đa mục tiêu cho 1.480 ha nông nghiệp và 16.149 người dân.
  • Đề xuất hệ thống giải pháp công trình đồng bộ gồm 6,0 km kênh dẫn bê tông, hầm xuyên núi dài 166 m và 25 km đường ống HDPE kín kết hợp công nghệ tưới nhỏ giọt tiết kiệm 40% đến 60% nước.
  • Thiết lập khung quản trị thông minh SCADA và điều chỉnh khung lịch thời vụ gieo cấy sớm 10 đến 15 ngày nhằm thích ứng linh hoạt trước các diễn biến cực đoan của khí hậu.

Đóng góp khoa học lớn nhất của luận văn là cung cấp bộ công cụ tính toán thủy văn - thủy lực thực chứng và giải pháp cấp nước khép kín cho vùng cao nguyên carxtơ Tây Bắc. Lộ trình triển khai tiếp theo đặt mục tiêu hoàn thành cụm đầu mối hồ Chiềng Dong trước năm 2023, hoàn thiện mạng lưới phân phối đường ống năm 2025 và phủ rộng 100% diện tích tưới tiết kiệm trước năm 2030. Các nhà quản lý, kỹ sư và nhà nghiên cứu quan tâm có thể khai thác toàn văn luận văn để ứng dụng trực tiếp mô hình vào các lưu vực tương đồng trên phạm vi cả nước.