phần mở đầu và kết luận. kết cấu khóa luận gồm 3 chương: Chƣơng I: Cơ sở lý luận về tín dụng Ngân hàng và chất lƣợng tín dụng Ngân hàng. Chƣơng II: Thực trạng chất lƣợng tín dụng tại Ngân hàng TMCP Sài Gòn – chi nhánh Hồng Bàng. Sinh viên: Ngô Thị Việt Nga Page 1 Lớp: QT 1402T Trường ĐHDL Hải Phòng Khóa luận tốt nghiệp Chƣơng III: Một số giải pháp nâng cao chất lƣợng hoạt động tín dụng tại Ngân hàng TMCP Sài Gòn – chi nhánh Hồng Bàng.
Đề tài này được nghiên cứu trong giai đoạn nền kinh tế Viêt Nam có nghiều biến động. Cụ thể là nền kinh tế toàn cầu suy thoái, hàng loạt các doanh nghiệp trong nước giải thể và phá sản. Theo thống kê, năm 2013 là năm thứ 6 nền kinh tế Việt Nam rơi vào trì trệ, tăng trưởng dưới mức tiềm năng. Đây cũng là giai đoạn bất ổn kinh tế vĩ mô kéo dài nhất tính từ đầu thập niên 1990 đến nay.
Trên cơ sở nghiên cứu các số liệu về hoạt động tín dụng tại Ngân hàng TMCP Sài Gòn – chi nhánh Hồng Bàng trong 3 năm 2011, 2012, 2013 ta sẽ xem xét các tác động của những biến động trên đã ảnh hưởng đến hoạt động tín dụng của Ngân hàng như thế nào từ đó đưa ra những giải pháp thiết thực có thể áp dụng vào thực tiễn. Là một sinh viên mới được trang bị kiến thức căn bản, thời gian nghiên cứu và kinh nghiệm thực tế còn hạn chế nên khóa luận không thể tránh khỏi những thiếu sót. Em rất mong nhận được sự đóng góp ý kiến của các thầy cô giáo, các cán bộ công nhân viên Ngân hàng TMCP Sài Gòn – chi nhánh Hồng Bàng và bất cứ ai quan tâm đến vấn đề này để đề tài được hoàn thiện hơn! Sinh viên: Ngô Thị Việt Nga Page 2 Lớp: QT 1402T Trường ĐHDL Hải Phòng Khóa luận tốt nghiệp Chƣơng I CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TÍN DỤNG NGÂN HÀNG VÀ CHẤT LƢỢNG TÍN DỤNG NGÂN HÀNG 1. Khái quát về hoạt động tín dụng tại Ngân hàng thƣơng mại 1.
Khái quát về Ngân hàng thƣơng mại 1. Khái niệm Ngân hàng thương mại Ngân hàng thương mại đã hình thành tồn tại và phát triển hàng trăm năm gắn liền với sự phát triển của nền kinh tế hàng hóa. Sự phát triển hệ thống Ngân hàng thương mại đã có tác động rất lớn và quan trọng đến quá trình phát triển của nền kinh tế hàng hóa, ngược lại kinh tế hàng hóa phát triển mạnh mẽ đến giai đoạn cao nhất là nền kinh tế thị trường thì Ngân hàng thương mại cũng ngày càng được hoàn thiện và trở thành định chế tài chính không thể thiếu được. - Theo pháp lệnh Việt Nam ban hành ngày 23/05/1990 thì Ngân hàng thương mại được định nghĩa: “Ngân hàng thương mại là một tổ chức kinh doanh tiền tệ mà hoạt động chủ yếu và thường xuyên là nhận tiền gửi từ khách hàng với trách nhiệm hoàn trả và sử dụng số tiền đó để cho vay, thực hiện các nghiệp vụ chiết khấu và phương tiện thanh toán”.
- Theo luật các Tổ chức tín dụng: “Ngân hàng thương mại là loại hình Ngân hàng được thực hiện tất cả cả các hoạt động Ngân hàng và các hoạt động kinh doanh khác theo quy định của luật này nhằm mục tiêu lơi nhuận”. Từ những nhận định trên có thể thấy Ngân hàng thương mại là một trong những định chế tài chính mà đặc trưng là cung cấp đa dạng các dịch vụ tài chính với nghiệp vụ cơ bản là nhận tiền gửi, cho vay và cung ứng các dịch vụ thanh toán. Ngoài ra, Ngân hàng thương mại còn cung cấp nhiều dịch vụ khác nhằm thỏa mãn tối đa nhu cầu về sản phẩm dịch vụ của xã hội. Chức năng của Ngân hàng thương mại Ngân hàng thương mại là một tổ chức kinh doanh tiền tệ đóng vai trò rất lớn trong quá trình thúc đẩy phát triển kinh tế với 3 chức năng cơ bản sau: - Chức năng trung gian tín dụng Chức năng trung gian tín dụng được xem là chức năng quan trọng nhất của Ngân hàng thương mại.
Khi thực hiện chức năng trung gian tín dụng, Ngân hàng thương mại đóng vai trò là cầu nối giữa người thừa vốn và người có nhu cầu về vốn. Với chức năng này, Ngân hàng thương mại vừa đóng vai trò là Sinh viên: Ngô Thị Việt Nga Page 3 Lớp: QT 1402T Trường ĐHDL Hải Phòng Khóa luận tốt nghiệp người đi vay, vừa đóng vai trò là người cho vay và hưởng lợi nhuận là khoản chênh lệch giữa lãi suất nhận gửi và lãi suất cho vay và góp phần tạo lợi ích cho tất cả các bên tham gia: người gửi tiền, người đi vay và chính bản thân Ngân hàng. - Chức năng trung gian thanh toán Ở đây Ngân hàng thương mại đóng vai trò là thủ quỹ cho các doanh nghiệp và cá nhân, thực hiện các thanh toán theo yêu cầu của khách hàng như trích tiền từ tài khoản tiền gửi của họ để thanh toán tiền hàng hóa, dịch vụ hoặc nhập vào tài khoản tiền gửi của khách hàng tiền thu bán hàng và các khoản thu khác theo lệnh của họ. Các Ngân hàng thương mại cung cấp cho khách hàng nhiều phương tiện thanh toán tiện lợi như séc, ủy nhiệm chi, ủy nhiệm thu, thẻ rút tiền, thẻ thanh toán, thẻ tín dụng…tùy theo yêu cầu khách hàng có thể chọn cho mình phương thức thanh toán phù hợp.
Nhờ đó mà các chủ thể kinh tế không phải giữ tiền trong túi mà họ có thể sử dụng một phương thức nào đó để thực hiện khoản thanh toán. Do vậy các chủ thể kinh tế sẽ tiết kiệm được rất nhiều chi phí, thời gian lại đảm bảo thanh toán an toàn. Chức năng này vô hình chung đã thúc đẩy lưu thông hàng hóa, đẩy nhanh tốc độ thanh toán, tốc độ lưu chuyển vốn, từ đó góp phần phát triển kinh tế. - Chức năng tạo tiền Tạo tiền là một chức năng quan trọng phản ánh rõ bản chất của Ngân hàng thương mại.
Với mục tiêu là tìm kiếm lợi nhuận như là một yêu cầu chính cho sự tồn tại và phát triển của mình, các Ngân hàng thương mại với nghiệp vụ kinh doanh mang tính đặc thù của mình đã vô hình chung thực hiện chức năng tạo tiền cho nền kinh tế. Chức năng tạo tiền được thực thi trên cơ sở hai chức năng khác của Ngân hàng thương mại là chức năng tín dụng và chức năng thanh toán. Thông qua chức năng trung gian tín dụng, Ngân hàng sử dụng số vốn huy động được để cho vay, số tiền cho vay ra lại được khách hàng sử dụng để mua hàng hóa, thanh toán dịch vụ trong khi số dư trên tài khoản tiền gửi thanh toán của khách hàng vẫn được coi là một bộ phận của tiền giao dịch, được họ sử dụng để mua hàng hóa, thanh toán dịch vụ…. Sinh viên: Ngô Thị Việt Nga Page 4 Lớp: QT 1402T Trường ĐHDL Hải Phòng Khóa luận tốt nghiệp Với chức năng này, hệ thống Ngân hàng thương mại đã làm tăng tổng phương tiện thanh toán trong nền kinh tế, đáp ứng nhu cầu thanh toán, chi trả của xã hội.
Ngân hàng thương mại tạo tiền phụ thuộc vào tỷ lệ dự trữ bắt buộc của Ngân hàng Trung ương đã áp dụng đối với Ngân hàng thương mại, do vậy Ngân hàng Trung ương có thể tăng tỷ lệ này khi lượng cung tiền vào nền kinh tế lớn. Các nghiệp vụ kinh doanh cơ bản của Ngân hàng thương mại Với mỗi loại hình Ngân hàng khác nhau thì có các nghiệp vụ kinh doanh cơ bản khác nhau và các Ngân hàng thương mại cũng vậy. Với những đặc trưng, chức năng riêng biệt của mình thì Ngân hàng thương mại có các nghiệp vụ cơ bản sau: a. Nghiệp vụ huy động vốn Huy động vốn là nghiệp vụ đầu tiên khởi tạo nguồn vốn cho các hoạt động kinh doanh của Ngân hàng nên có thể nói đây là nghiệp vụ cơ bản và quan trọng nhất.
Vốn được Ngân hàng huy động dưới nhiều hình thức khác nhau như: tiền gửi, đi vay, phát hành giấy tờ có giá…Ngân hàng thương mại phải đa dạng hóa các hình thức huy động vốn với lãi suất hấp dẫn để có thể huy động được nhiều nguồn vốn có chất lượng tốt, chủ động trong hoạt động kinh doanh, thu được lợi nhuận đồng thời đáp ứng nhu cầu vốn cho sự nghiệp công nghiệp hóa – hiện đại hóa đất nước. Nghiệp vụ tín dụng Tín dụng là nghiệp vụ có vị trí rất quan trọng trong hoạt động kinh doanh của mỗi Ngân hàng thương mại và đây là nghiệp vụ sinh lời lớn nhất của Ngân hàng thông qua thu lãi cho vay.Các sản phẩm gắn liền với tín dụng bao gồm: cho vay kinh doanh, cho vay tiêu dùng, tín dụng thuê mua, đầu tư vào giấy tờ có giá, góp vốn liên doanh liên kết. Nghiệp vụ ngân quỹ Tính “an toàn” là một trong những nhân tố mà Ngân hàng thương mại phải quan tâm để đạt đến mục tiêu cuối cùng là lợi nhuận. Vì vậy, bên cạnh việc cho vay và đầu tư để thu lại lợi nhuận, Ngân hàng phải sử dụng một phần vốn huy động được để đảm bảo tính an toàn về khả năng thanh toán và thực hiện các quy định dự trữ bắt buộc do Ngân hàng Nhà nước đề ra.
Sinh viên: Ngô Thị Việt Nga Page 5 Lớp: QT 1402T Trường ĐHDL Hải Phòng Khóa luận tốt nghiệp d. Nghiệp vụ khác Ngoài ba nghiệp vụ cơ bản trên, Ngân hàng thương mại còn có các nghiệp vụ trung gian góp phần mang lại lợi nhuận cho bản thân Ngân hàng như: nghiệp vụ mua bán giấy tờ có giá, nghiệp vụ kinh doanh ngoại hối, vàng bạc, đá quý và các hoạt động dịch vụ như: dịch vụ bảo hiểm, tư vấn tài chính tiền tệ… 1. Khái niệm, đặc điểm tín dụng Ngân hàng Qua lịch sử phát triển, tín dụng là một phạm trù kinh tế và cũng là sản phẩm của nền kinh tế hàng hóa. Nó là một động lực thúc đẩy nền kinh tế hàng hóa phát triển lên một giai đoạn cao hơn.
Tồn tại và phát triển qua nhiều hình thái kinh tế xã hội; ngày nay, tín dụng được hiểu theo ngôn ngữ thông thường là quan hệ vay mượn dựa trên những nguyên tắc: -Người cho vay chuyển giao cho người đi vay một lượng giá trị nhất định. Giá trị này có thể dưới hình thái tiền tệ. hoặc dưới hình thái vật chất như: hàng hóa, máy móc, thiết bị, bất động sản…. -Người đi vay chỉ sử dụng đối tượng vay tạm thời trong một thời gian nhất định.
Sau khi hết thời hạn theo thỏa thuận, người đi vay phải hoàn trả cho người cho vay. -Giá trị hoàn trả thông thường lớn hơn giá trị ban đầu.