phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn gồm những nội dung chính sau: Chƣơng 1: Cơ sở lý luận về tín dụng và chất lượng tín dụng của ngân hàng thương mại Chƣơng 2: Thực trạng chất lượng tín dụng tại ngân hàng thương mại cổ phần quốc tế Việt Nam – chi nhánh Lý Thường Kiệt Chƣơng 3: Giải pháp nâng cao chất lượng tín dụng tại ngân hàng thương mại cổ phần quốc tế Việt Nam – chi nhánh Lý Thường Kiệt 5 CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TÍN DỤNG VÀ CHẤT LƢỢNG TÍN DỤNG CỦA NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI 1. TỔNG QUAN VỀ TÍN DỤNG CỦA NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI 1. Khái niệm tín dụng ngân hàng thƣơng mại Hoạt động tín dụng được diễn ra ở hầu hết tất cả các tổ chức tín dụng, bao gồm ngân hàng và các tổ chức tài chính phi ngân hàng. Trong đó, đối với các ngân hàng thương mại, hoạt động tín dụng được coi là nghiệp vụ truyền thống, đóng vai trò quan trọng, góp phần tạo nên nguồn thu nhập chính của các ngân hàng thương mại.
Cụ thể, theo luật các tổ chức tín dụng được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XII, kỳ họp thứ 7 thông qua ngày 16 tháng 6 năm 2010, ngân hàng là loại hình tổ chức tín dụng có thể được thực hiện tất cả các hoạt động ngân hàng theo quy định [18]. Theo tính chất và mục tiêu hoạt động, các loại hình ngân hàng bao gồm ngân hàng thương mại, ngân hàng chính sách, ngân hàng hợp tác xã. Ngân hàng thương mại là loại hình ngân hàng được thực hiện tất cả các hoạt động ngân hàng và các hoạt động kinh doanh khác theo quy định của Luật các tổ chức tín dụng nhằm mục tiêu lợi nhuận.[18] Theo quan điểm của Mác: “Tín dụng là sự vay mượn một lượng giá trị giữa người sở hữu và người sử dụng để sau một thời gian người sở hữu (người cho vay) sẽ thu về một lượng giá trị lớn hơn giá trị ban đầu.” Tín dụng ngân hàng là một khái niệm liên quan đến mối quan hệ kinh tế giữa bên cho vay (ngân hàng) và bên đi vay (cá nhân, tổ chức, hộ gia đình. Trong đó, bên cho vay sẽ chuyển giao cho bên đi vay quyền sử dụng một lượng giá trị (thường dưới hình thái tiền tệ) trong một khoảng thời gian nhất định với những điều kiện mà hai bên cùng nhau thỏa thuận đưa ra trong hợp đồng (thỏa thuận này bao gồm thời gian trả, lãi suất phù hợp với lợi ích của cả hai bên, phương thức thanh toán, tài sản thế chấp.) 6 Đứng trên phương diện các ngân hàng thương mại, theo Luật các tổ chức tín dụng được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XII, kỳ họp thứ 7 thông qua ngày 16 tháng 6 năm 2010 thì “Cấp tín dụng là việc TCTD thoả thuận để khách hàng sử dụng một khoản tiền với nguyên tắc hoàn trả bằng các nghiệp vụ cho vay, chiết khấu, cho thuê tài chính, bảo lãnh và các nghiệp vụ khác”[18].
Như vậy, trên cơ sở tiếp cận theo chức năng hoạt động của ngân hàng thì tín dụng được hiểu như sau: Tín dụng là một giao dịch về tài sản (chủ yếu là tiền) giữa bên cho vay (ngân hàng và các định chế tài chính khác) và bên đi vay (cá nhân, doanh nghiệp và các chủ thể khác), trong đó bên cho vay chuyển giao tài sản cho bên đi vay sử dụng trong một thời hạn nhất định theo thỏa thuận, bên đi vay có trách nhiệm hoàn trả vô điều kiện vốn gốc và lãi cho bên cho vay khi đến hạn thanh toán.[14] Trong nền kinh tế thị trường, ngân hàng thương mại là thành phần không thể thiếu giúp cho quá trình kinh doanh và tiêu dùng của mọi chủ thể trong xã hội có thể thực hiện một cách suôn sẻ và có hiệu quả. Đây là người cho vay lớn nhất trong toàn bộ nền kinh tế bởi ngân hàng thương mại thường là trung gian đứng giữa các bên, là người đi vay để cho vay các chủ thể khác. Ngân hàng đã góp phần đáp ứng nhu cầu vốn trong xã hội, giúp cho mọi hoạt động được diễn ra, tăng cơ hội gia tăng lợi nhuận cho tất cả các chủ thể khác trong nền kinh tế cũng như cho chính bản thân các NHTM. Vậy, tín dụng ngân hàng thương mại là quan hệ vay mượn về vốn giữa ngân hàng thương mại và các chủ thể khác trong nền kinh tế, trong đó ngân hàng thương mại với tư cách là bên cho vay và các chủ thể khác đóng vai trò là người đi vay.
Bên cho vay (NHTM) chuyển giao quyền sử dụng vốn cho bên đi vay (các chủ thể khác trong nền kinh tế) trong một khoảng thời gian nhất định theo những điều kiện mà hai bên thỏa thuận dựa trên nguyên tắc hoàn trả cả gốc và lãi. Đặc điểm của tín dụng ngân hàng thƣơng mại - Tín dụng ngân hàng thương mại được thực hiện chủ yếu dưới hình thức tiền tệ Trong quan hệ tín dụng ngân hàng, các ngân hàng bằng những chính sách nhất định về lãi suất, thời hạn đã huy động được các nguồn tài chính tạm thời nhàn rỗi trong xã hội để tạo ra quỹ tiền tệ của mình. Song song với việc trên, các ngân hàng với lượng tiền huy động được của mình sẽ đáp ứng nhu cầu về nguồn tài chính của các chủ thể khác trong nền kinh tế. Như vậy, tiền ở đây là công cụ thực hiện tín dụng - Quá trình vận động và phát triển của tín dụng ngân hàng độc lập tương đối với sự vận động và phát triển của quá trình tái sản xuất xã hội.[4] Vốn tín dụng ngân hàng là một bộ phận không thể thiếu được của quá trình tái sản xuất xã hội.
Khối lượng hàng hoá sản xuất và lưu thông tăng lên thì nhu cầu vốn tín dụng Ngân hàng cũng tăng lên. Trong trường hợp này vốn tín dụng ngân hàng vận động phù hợp với sự vận động và phát triển của quá trình tái sản xuất xã hội. Tuy nhiên, trong nhiều trường hợp, vốn tín dụng Ngân hàng không tham gia vào quá trình sản xuất và lưu thông hàng hoá, mà chúng được sử dụng vào những mục đích phi sản xuất như: Chiết khấu hoặc cầm cố các thương phiếu khống, trái phiếu của chính phủ. Cũng có thể vốn tín dụng Ngân hàng được sử dụng vào những vụ mua bán chứng khoán sai mục đích, thiếu đảm bảo, không có hiệu quả kinh tế.
Những trường hợp trên, mặc dù nhu cầu tín dụng ngân hàng có gia tăng, nhưng sản xuất và lưu thông hàng hoá không tăng. Vì vậy, quá trình vận động của tín dụng ngân hàng và quá trình phát triển của tái sản xuất xã hội độc lập tương đối với nhau. - Khối lượng tín dụng lớn, thời hạn tín dụng đa dạng và phạm vi hoạt động của tín dụng ngân hàng rộng. Tín dụng ngân hàng có nguy cơ xảy ra nhiều rủi ro Phạm vi hoạt động của tín dụng ngân hàng không chỉ dừng lại ở các doanh nghiệp, mà hoạt động giao dịch tín dụng còn diễn ra với các tác nhân khác thuộc 8 mọi thành phần kinh tế, mọi lĩnh vực trong nền kinh tế quốc dân với nhiều thời hạn khác nhau như ngắn hạn, trung hạn, dài hạn.
Với số lượng tiền huy động được từ nguồn tiền nhàn rỗi trong nền kinh tế, ngân hàng thương mại có thể đáp ứng được nhu cầu tín dụng của đông đảo các thành phần kinh tế khác nhau với những giá trị từ bé nhất cho tới lớn nhất. Hoạt động tín dụng ngân hàng mang lại nguồn lợi nhuận lớn cho các ngân hàng thương mại, tuy nhiên đi kèm với nó là nhiều rủi ro có thể gặp phải trong quy trình thực hiện. Đó chính là rủi ro do một khách hàng hay một nhóm khách hàng vay vốn không trả được nợ cho NHTM. Ngày nay, do nhu cầu về vốn mở rộng sản xuất kinh doanh, cải tiến trang thiết bị kỹ thuật, nâng cao công nghệ và các nhu cầu phục vụ sản xuất kinh doanh luôn không ngừng tăng lên.
Để đáp ứng được những nhu cầu này, các NHTM cũng phải luôn mở rộng quy mô hoạt động tín dụng, điều đó có nghĩa là rủi ro tín dụng cũng có nguy cơ phát sinh nhiều hơn. Các hình thức tín dụng ngân hàng a. Căn cứ vào thời hạn cho vay - Tín dụng ngắn hạn: Là loại cho vay có thời hạn nhỏ hơn hoặc bằng 1 năm, chủ yếu được sử dụng để bù đắp thiếu hụt vốn lưu động và các nhu cầu chi tiêu ngắn hạn của các chủ thể trong xã hội - Tín dụng trung hạn: Thời hạn của tín dụng trung hạn thường trên 1 năm đến 5 năm. Tuy nhiên, thời hạn của tín dụng trung hạn thường có sự thay đổi được quy định bởi Ngân hàng Nhà nước vì thời hạn tín dụng còn phụ thuộc vào yếu tố rất lớn đó là sự phát triển của quá trình tái sản xuất xã hội.
Mỗi một thời kỳ khác nhau, NHNN có thể thay đổi tùy thuộc vào điều kiện phát triển tại thời điểm đó. Trên thế giới, có những nước quy định thời hạn này lên tới 7 năm. Tín dụng trung hạn chủ yếu được sử dụng để mua sắm tài sản cố định, cải tạo hoặc đổi thiết bị, công nghệ, mở rộng kinh doanh, xây dựng các dự án mới có quy mô vừa và nhỏ phục vụ đời sống, sản xuất… - Tín dụng dài hạn là loại tín dụng mà thời hạn của nó dài hơn đối với tín dụng trung hạn, thông thường là lớn hơn 5 năm. Loại tín dụng này được cung cấp 9 để đáp ứng các nhu cầu dài hạn như xây dựng nhà ở, các thiết bị, các phương tiện vận tải có quy mô lớn, xây dựng các xí nghiệp, nhà máy lớn, các dự án đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng… b.
Căn cứ vào mức độ tín nhiệm đối với khách hàng: - Tín dụng có bảo đảm không phải bằng tài sản là loại tín dụng không có tài sản thế chấp, cầm cố hoặc sự bảo lãnh của người thứ ba, mà có sự bảo đảm bằng tín chấp, cho vay theo chỉ định của Chính phủ hay hộ nông dân vay vốn có bảo lãnh của Chính quyền địa phương, các tổ chức đoàn thể. - Tín dụng có tài sản bảo đảm là loại cho vay mà ngân hàng chỉ cho vay khi khách hàng phải có tài sản thế chấp, cầm cố, hoặc có người thứ ba đứng ra bảo lãnh. Căn cứ vào hình thái giá trị của tín dụng: - Tín dụng bằng tiền: là loại tín dụng mà hình thái giá trị của tín dụng được cung cấp bằng tiền.