CHƯƠNG 1 NHŨNG VẤN ĐÊ VÈ CHÁT LƯỢNG TÍN DỤNG CỦA NHCSXH ĐÓI VỚI HỌC SINH SINH VIÊN. Tổng quan về Ngân hàng Chính sách xã hội 1. K h á i n i ệ m N g â n h à n g c h í n h s á c h x ã h ộ i Thời kỳ sản xuất hàng hoá phát triển làm xuất hiện sự trao đổi hàng hoá giản đon. Cùng với sự xuất hiện của nền kinh tế hàng hoá và sự trao đổi sản phẩm làm ra đã làm xuất hiện vật ngang giá chung để trao đổi.
Trên cơ sở đó, đồng tiền xuất hiện thích ứng với quan hệ mua bán trao đổi hàng hoá dịch vụ. Quan hệ trao đổi hàng hoá phát triển làm xuất hiện tầng lớp thương nhân mới làm nghề đổi tiền để đáp ứng nhu cầu. Sau đó, các tầng lớp này làm thêm dịch vụ nhận tiền gửi và cho vay. Dần dần phát triển thành nghề kinh doanh và gọi làm nghề ngân hàng.
Hoạt động ban đầu này mang hình thức như "tiệm cầm đồ". Bao gồm các hoạt động cơ bản như sau: Thanh toán bù trừ chuyển lẫn nhau thông qua việc mua bán cùng ngân hàng. Nghiệp vụ chuyển ngân tức chuyển từ nơi này đi nơi khác. Ngân hàng thực hiện bảo lãnh chiếc khấu.
Giai đoạn cho vay (cung ứng tiền). Ngân hàng tạo ra tiền các chúng thư do ngân hàng phát hành như séc ngày nay. Năm 1609 - 1694 các ngân hàng đều có quyền tạo ra các giấy bạc, gây cản trở cho lun thông và phát triển kinh tế, Nhà nước can thiệp vào hoạt động ngân hàng để hạn chế việc phát hành. Các ngân hàng ngày càng phát triển và đa dạng về nghiệp vụ kinh doanh.
Nhiêu loại chủ thể hoạt động trong lĩnh vực ngân hàng, ngân hàng trung ương, ngân hàng thương mại, ngân hàng chính sách, Tổ chức tín dụng phi ngân hàng. ơ nhiêu nước không đưa ra một định nghĩa tông quát về hoạt động ngân hàng mà liệt kê các hoạt động được coi là hoạt động ngân hàng. 7 Theo đạo luật về ngành tín dụng của Cộng Hòa Liên Bang Đức 1992, Luật Ba Lan 1989. Luật tổ chức tài chính và ngân hàng của Malaysia 1989.
liệt kê các hoạt động ngân hàng như: Huy động tiền gửi ngân hàng, cấp tín dụng. Thực hiện các dịch vụ thanh toán. Việt Nam, theo điều 9 Luật ngân hàng và điều 20 khoản 7 luật tổ chức tín dụng thì "Hoạt động ngân hàng là hoạt động kinh doanh tiền tệ và dịch vụ ngân hàng vói nội dung thường xuyên là nhận tiền gửi, và sử dụng số tiền này để cấp tín dụng và cung ứng các dịch vụ thanh toán” [18]. Đối tượng kinh doanh của ngân hàng là tiền tệ.
Nội dung kinh doanh chủ yếu của hoạt động ngân hàng là nhận tiền gửi, cấp tín dụng và cung ứng các dịch vụ thanh toán. Hiện nay có nhiều cách thể hiện khác nhau về định nghĩa ngân hàng, tùy thuộc vào tập quán pháp luật của từng quốc gia, từng vùng lãnh thổ nhưng khi đi sâu phân tích, khai thác nội dung của từng định nghĩa đó, người ta dễ dàng nhận thấy rằng. Tất cả các ngân hàng đều có chung một tính chất đó là việc nhận tiền ký thác - tiền gửi không kỳ hạn và có kỳ hạn, để sử dụng vào các nghiệp vụ cho vay, chiết khấu và các dịch vụ kinh doanh khác của chính ngân hàng. Luật ngân hàng năm 2010 khoản 12 điều 4 “hoạt động ngân hàng” là hoạt động kinh doanh, cung ứng thường xuyên một hoặc một số nghiệp vụ: nhận tiền gửi, cấp tín dụng, và cung ứng dịch vụ thanh toán qua tài khoản.
Tùy thuộc vào mỗi giai đoạn phát triển lịch sử cụ thể của mồi quốc gia, khả năng kinh tế và mức độ cần giải quyết vấn đề an sinh xã hội. Chính phủ sẽ thiết lập những mục tiêu, chưong trình cụ thể. [ 18] Phát triển kinh tể đi đôi với xóa đói giảm nghèo là chủ trương nhất quán của Đảng ta trong quá trình đổi mới và xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Chính sách tín dụng ưu đãi cho người nghèo, vùng nghèo đã được thực hiện ở nước ta ngay từ ngày thành lập Ngân hàng quốc gia Việt Nam (năm 1951) và đã trở thành công cụ xóa đói giảm nghèo cơ bản và bền vững.
Quan hệ tín dụng “có vay có trả”, “cho cần câu thay vì 8 cho cá”, vừa giúp cho người nghèo có vốn để sản xuất, tiếp cận từng bước với kinh tế thị trường, vừa đặt ra cho các cấp ủy Đảng, chính quyền và đoàn thể phải có trách nhiệm đến cùng trong việc giúp đỡ người nghèo vượt qua khó khăn, phát triển kinh tế, cải thiện cuộc sống và nâng cao vị thế của họ trong xã hội. Tại Hội nghị Ban chấp hành Trung ương Đảng lần thứ 5 khóa VII (tháng 6 năm 1993), Đảng ta chủ trương “Hỗ trợ giúp người nghèo bằng cách cho vay vốn, hướng dẫn cách làm ăn, tranh thủ các nguồn tài trợ nhân đạo trong và ngoài nước, phấn đấu tăng hộ giàu đi đôi với xóa đói giảm nghèo”. Quỳ được sử dụng cho vay hộ nghèo thiếu vốn sản xuất kinh doanh với lãi suất ưu đãi, mức cho vay là 500.000 đồng/hộ, người vay không phải thế chấp tài sản. Ngày 31/8/1995 Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 525/QĐ-TTg về việc thành lập Ngân hàng Phục vụ người nghèo (NHNg), đặt trong NHNo&PTNT, hoạt động không vì mục tiêu lợi nhuận, để cung cấp nguồn vốn ưu đãi cho hộ nghèo.
Bên cạnh NHNg, nguồn vốn từ ngân sách nhà nước hỗ trợ người nghèo và các đối tượng chính sách khác còn được giao cho nhiều cơ quan nhà nước, hội đoàn thể và ngân hàng thương mại cùng thực hiện theo các kênh khác nhau, làm cho nguồn lực của Nhà nước bị chồng chéo, phân tán. Mặt khác đề tạo điều kiện cho các ngân hàng thương mại chuyên hăn sang kinh doanh, nâng cao khả năng cạnh tranh trên thị trường và hội nhập kinh tế quốc tế, cần thiết phải tách tín dụng chính sách ra khỏi tín dụng thương mại. Đe tiếp tục thực hiện mục tiêu Thiên niên kỷ về xóa đói giảm nghèo, đòi hỏi phải tập trung nguồn lực do Nhà nước huy động được 9 vào một tổ chức tín dụng duy nhất, nhằm tạo nên sức mạnh có tính đột phá, giúp giảm nghèo nhanh và bền vững. Trên cơ sở đó, ngày 04/10/2002, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 78/2002/NĐ-CP về tín dụng đối với người nghèo và các đối tượng chính sách khác và Thủ tướng Chính phủ đã ký Quyết định số 131/2002/ỌĐ-TTg về việc thành lập Ngân hàng Chính sách xã hội (NHCSXH) trên cơ sở tổ chức lại NHNg, tách khỏi NHNo&PTNT Việt Nam.
Các loại hình Ngân hàng Chính sách xã hội Ngan hang Chinh sach có 2 loại: NHCS phục vụ các chính sách phát triển của Chính phủ gọi là ngân hàng Phát triển. NHCS phục vụ các chính sách xã hội của Chính phủ còn gọi là NHCSXH. NHCSXH phục vụ chủ yếu là người nghèo, những hộ gia đình thuộc đoi tuợng chinh sach hoặc hộ gia đình trong vùng khó khăn, bât lợi về tự nhiên kinh tê xã hội hay nói cách khác đó là những đối tượng mà bản thân họ kho có khả năng tiêp cận và tận dụng những cơ hội để phát triển, những dịch vụ tài chính chính thức của hệ thống ngân hàng thương mại, trong đó có HSSV những hộ nghèo nhưng muốn học tập để có nghề nghiệp. NHCSXH là một tổ chức thuộc sở hữu Nhà nước, thực hiện vai trò trung gian chuyển tải vốn cho vay của Chính phủ đến đối tượng thụ hưởng chinh sach, nham thực hiẹn nhiệm vụ và mục tiêu kinh tê, chính trị xã hội của Chính phủ [18].
Một số điểm khác biệt giữa ngân hàng chính sách xã hội và ngân hàng thưong mại NHCSXH là một định chế tài chính thuộc loại hình các Ngân hàng chính sách quy định tại Khoản 2, Điều 4 và Điều 17 Luật Ngân hàng và Tổ chức tín dụng ngày 16/6/2010. Tên đầy đủ là: Ngân hàng Chính sách xã hội. Tên giao dịch quốc tế là: Vietnam Bank for Social Policies. NHCSXH hoạt đọng khong V I mục tiêu lợi nhuận, có vôn điêu lệ được Nhà nước cấp đến năm 2010 là 10.000 tỷ đồng, có tổng tài sản trên 100.000 tỷ đồng, được Nhà 10 nước bảo đảm khả năng thanh toán, tỷ lệ dự trữ bắt buộc bằng 0%, không phải tham gia bảo hiêm tiên gửi, được miễn thuế và các khoản phải nộp ngân sách Nhà nước.
NHCSXH được tiêp nhận vốn của Nhà nước và huy động vốn của các tô chức, cá nhân trong và ngoài nước để cho vay các đối tượng và các điều kiện tín dụng do người cung cấp vốn quy định. Quản tri NHCSXH là Hội đồng quản trị (HĐQT) và Ban đại diện Hội đồng quản trị các cấp gồm cán bộ lãnh đạo của một số cơ quan quản lý nhà nước và các tổ chức chính trị - xã hội hoạt động theo hình thức kiêm nhiệm. Bộ máy điều hành tác nghiệp được tổ chức thống nhất từ Trung ương đến huyện. Trên 80% vốn của NHCSXH ủy thác cho các tổ chức chính trị - xã hội.
Ngân hàng tổ chức giao dịch tại tất cả các xã, phường trong cả nước. Mặc dù mục đích hoạt động không vì lợi nhuận, nhưng NHCSXH cho vay chính sách vẫn tồn tại không chỉ ở nền kinh tế định hướng xã hội chủ nghĩa, mà cả trong nền kinh tế thị trường, không chỉ ở các nước đang phát tnên mà ở cả các nước phát triên. NHCSXH một loại hình ngân hàng hoạt động có tính chât đặc biệt không phải mục đích là kiếm lợi nhuận mà là tự trang trải để có thể hoạt động bền vững. Vai trò chủ yếu của Ngân hàng Chính sách xã hội Phục vụ sản xuât và lưu thông hàng hóa, góp phần giải quyết công ăn việc làm, khai thác khả năng tiêm tàng trong nên kinh tế, thúc đẩy quá trình tích tụ tập trung sản xuât, giải quyêt tôt môi quan hệ giữa tăng trưởng tín dụng với tăng trưởng kinh tế.
Một trong những nhiệm vụ trọng tâm Chính phủ đặt ra trong Nghị quyết 30/2008/NQ-CP là đảm bảo an sinh xã hội. Với vai trò là ngân hàng thực hiện nhiệm vụ chính trị của Đảng và là công cụ đòn bẩy kinh tế, khuyến khích đâu tư của Nhà nước trong công cuộc xoá đói giảm nghèo, ổn định xã 11 hội, thúc đẩy tạo nguồn nguyên khí quốc gia, phát triển nguồn nhân lực trí tuệ phục vụ hiện đại hóa đất nước, trọng trách đặt lên vai Ngân hàng Chính sách xã hội Việt Nam lớn hơn, cấp bách hơn.