CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Sơ lược về lịch sử nghiên cứu vấn đề 1. Trên thế giới “QL công tác NCKH” K.deisen, Xlasinxki do Nguyễn Văn Lân dịch từ bản tiếng Nga, Nguyễn Xuân Khoa hiệu đính, bản viết tay, 1983 tại thư viện ĐH Sư phạm Hà Nội. Đây là một quyển sách phản ánh lý luận QL Xã hội Chủ nghĩa, mang nặng tư tưởng bao cấp, kế hoạch hóa Xã hội Chủ nghĩa trong thời kỳ trước, khi Liên xô và hệ thống các nước Xã hội Chủ nghĩa đang PT.
Dù có nhiều điểm lạc hậu do lịch sử nhưng có nhiều vấn đề vẫn còn giá trị. Chẳng hạn các tác giả đã đề cao vai trò của HĐNCKH trong sự phát triển của xã hội và chỉ ra những điểm đặc thù của công tác QL HĐNCKH so với QL các lĩnh vực khác. Trong đó, đáng lưu ý là việc cần xây dựng chính sách ưu tiên đặc biệt về điều kiện làm việc và chế độ đãi ngộ thoả đáng để động viên các nhà KH toàn tâm toàn ý cho việc NC. “How to study science”, Drewes F - 2 nd Edi – Dubuque: Wm.Brown Publisher, 2000 và “Be a scientist”, Moyer, L.Hackett, Newyork: Me Graw.
Hill, 2000 là những tài liệu thích hợp cho sinh viên và những người bước đầu tập sự NCKH. Đó là những chỉ dẫn cơ bản ban đầu về PP luận và PP NCKH. “Social research methods: Qualitative and quantitative approaches”, Fourth edition, W. Lawrence Neuman Univercity of Wisconsin at Whitewater, Publisher: Aliyn and Bacon, 2000 nêu ra đặc điểm, phân tích bản chất đặc trưng của KH xã hội, đưa ra những gợi ý, chỉ dẫn về quy trình các bước NC của KH xã hội, trong đó có KH QL.
Tuy các tác giả đề tài này chưa NC được một cách hệ thống vấn đề QL HĐNCKH ở nước ngoài bởi vì việc tìm thấy một tài liệu đầy đủ, sát thực về việc QL HĐNCKH ở trường CĐ, ĐH là hết sức khó khăn. Trong khi đó, có rất 11 nhiều tài liệu về các phạm trù, các vấn đề liên quan đến HĐNCKH như về QL, QLGD, PP luận CNKH. Ở Việt Nam Từ việc nhận thức đúng đắn về vai trò quyết định của công tác QL đối với HĐNCKH và những khó khăn vướng mắc trong quá trình HĐNCKH ở các trường đại học và cao đẳng, các nhà KH đã có những NC với nhiều góc độ, ở nhiều khía cạnh và cấp độ khác nhau. Trước 1990, Viện NC ĐH và GD chuyên nghiệp có đề tài: “Tổ chức và QL NC triển khai trong các trường ĐH phục vụ sản xuất, đời sống và quốc phòng” do GS.PTS Lê Thạc Cán chủ nhiệm, CT cấp Nhà nước, mã số 60A.
Năm 1991, Viện NC PT GD hoàn thành đề tài: “NC những biện pháp để PT và nâng cao hiệu quả hoạt động KH&CN và lao động sản xuất trong nhà trường”, mã số B91-38-14 do kỹ sư Vũ Tiến Thành làm chủ nhiệm. Các đề tài trên đã đóng góp những lý luận và giải pháp của công tác QL hoạt động KH&CN của ngành GD&ĐT, gắn với đặc điểm tình hình trong giai đoạn đó. Năm 1995, Viện NC PT GD chủ trì đề tài “Điều tra đánh giá hiện trạng tiềm lực KH&CN của các trường ĐH và CĐ Việt Nam”, là đề tài cấp Bộ, do GSTS. Thân Đức Hiền làm chủ nhiệm.
Đề tài này chỉ dừng lại ở khâu điều tra nguồn lực KH&CN của các trường ĐH và CĐ tại thời điểm đó mà chưa đề cập đến giải pháp nâng cao hiệu quả của hoạt động KH&CN. Năm 1998, tác giả Ninh Đức Nhận hoàn thành luận văn thạc sĩ “Một số giải pháp đổi mới công tác QL hoạt động KH&CN ở trường ĐH trong giai đoạn mới”. Đề tài đã đề xuất một số giải pháp đổi mới công tác QL hoạt động KH&CN ở hệ thống các trường ĐH nhằm nâng cao hiệu quả của công tác QL hoạt động KH&CN cho các trường ĐH trong giai đoạn đó. Trong năm 2000, có hai luận văn thạc sĩ của Cao Thị Thu Hằng và Nông Thị Hạnh đã NC tìm hiểu thực trạng, phân tích các nguyên nhân ảnh hưởng đến kết quả NCKH GD của sinh viên và đưa ra các giải pháp nâng cao 12 kết quả hoạt động này cho sinh viên trường CĐ Sư phạm Hải Dương và CĐ Sư phạm Cao Bằng.
Năm 2001, Bùi Thị Kim Phượng có đề tài “Thực trạng và biện pháp nâng cao chất lượng NCKH GD cho sinh viên trường CĐ Sư phạm Ninh Bình”. Năm 2005, Lê Thị Thanh Chung bảo vệ luận án tiến sĩ với đề tài “Biện pháp nâng cao chất lượng NCKH GD của sinh viên ĐH sư phạm”. Nguyễn Thị Kim Nhung bảo vệ thành công luận văn thạc sỹ chuyên ngành QLGD với đề tài “Một số biện pháp QL HĐNCKH GD của trường CĐ sư phạm Hưng Yên”. Trên cơ sở phân tích thực trạng, tìm ra những nguyên nhân ảnh hưởng kết quả của HĐNCKH ở Trường CĐ Sư phạm Hưng Yên, tác giả đã đưa ra 7 biện pháp QL để nâng cao chất lượng, hiệu quả cho NCKH GD của trường này.
Trên Tạp chí Giáo dục gần đây có nhiều nhà KH và nhà QLGD đăng những công trình NC và bài viết về HĐNCKH ở GD ĐH như: - “NCKH góp phần đổi mới PP dạy học nhằm nâng cao chất lượng ĐT ĐH” của TS. - “Sinh viên NCKH - Một biện pháp quan trọng để nâng cao chất lượng ĐT ở trường ĐH Bách khoa Hà Nội” của PGS. - “NCKH GD trong giai đoạn tới” của PGS. Nguyễn Hữu Châu (Viện chiến lược và CT GD).
- “Sinh viên NCKH - Động lực chính để biến quá trình ĐT thành quá trình tự ĐT” của GS. - “PP đánh giá ý nghĩa và tính khả thi của các biện pháp QL” của TS. Bùi Văn Quân (Trường ĐH sư phạm Hà Nội), số 133 (kỳ 1-3 - 2006. - “Logic nội dung và các nhiệm vụ NC đề tài KH về giải pháp QLGD” của TS.
Nguyễn Phúc Châu (Học viện Cán bộ QLGD - ĐT Trung ương), số143, kỳ 1- 8/2006. 13 Tạp chí “Văn hóa Nghệ An”số 73, ra ngày 25-3-2006 có bài “NCKH trong sinh viên Nghệ An – những cái thiếu” của Nguyễn Đình Long. Tác giả đã chỉ ra một số hạn chế, bất cập trong công tác QL, chỉ đạo của các trường ĐH và CĐ cũng như về điều kiện NCKH thiếu thốn của sinh viên trên địa bàn Nghệ An dẫn đến những khiếm khuyết, phiến diện trong quá trình NCKH của sinh viên. Năm 2010, Đặng Văn Hoài thực hiện luận văn thạc sĩ “Một số giải pháp nâng cao công tác QL HĐNCKH của GV Trường CĐ Cộng đồng Hà Nội”.
Tác giả đã đánh giá được thực trạng QL HĐNCKH của GV Trường CĐ Cộng đồng Hà Nội và đã đề xuất được những đổi mới, bổ sung để hoàn thiện hơn các giải pháp QL HĐNCKH của GV. Tác giả cũng đã tiến hành khảo nghiệm tính hiệu quả, tính khả thi của những giải pháp đã đề ra trong luận văn. Năm 2011, Trương Tấn Đạt thực hiện luận văn thạc sĩ “Một số biện pháp QL HĐNCKH của sinh viên Trường ĐH Đồng Tháp”. Tác giả đã nêu lên được thực trạng của công tác QL hoạt động NCKH của sinh viên Trường ĐH Đồng Tháp và một số biện pháp QL hoạt động NCKH của sinh viên Trường ĐH Đồng Tháp.
Nhìn chung, các tác giả đã đóng góp lý luận và hướng giải quyết nhiều vấn đề thực tiễn trong công tác QL HĐNCKH ở các trường ĐH và CĐ. Các tác giả đều đề cao ý nghĩa, vai trò của NCKH đối với việc nâng cao chất lượng dạy học, ĐT trong các nhà trường. Tuy nhiên, mỗi công trình hoặc chỉ giải quyết một vài vấn đề riêng lẻ, hoặc chỉ có giá trị gắn với một nhà trường trong một giai đoạn lịch sử ngắn với những hoàn cảnh chính trị, kinh tế xã hội nhất thời. Nhiều công trình lại mang tầm bao quát lớn với những lý luận và kiến giải quá chung chung, khó vận dụng vào thực tiễn cụ thể.
Có thể nói ở Việt Nam, chưa có một công trình NC nào giải quyết tương đối đầy đủ và cụ thể vấn đề QL HĐNCKH ở trường CĐ. Trong các công trình NC về công tác QL HĐNCKH ở trường cao đẳng, đại đa số quan 14 tâm đến HĐNCKH của sinh viên. Có rất ít đề tài trực tiếp đề cập đến công tác QL HĐNCKH của GV. Mặt khác ở những đề tài này, các kiến giải vẫn còn chung chung và chưa vận dụng những PP QL tiên tiến, hiện đại.
Phần đánh giá thực trạng HĐNCKH vẫn chưa xác đáng vì chỉ căn cứ vào những số liệu thống kê mà không dựa vào những tiêu chuẩn KH, phần giải pháp thiếu tính chỉ dẫn hành động cụ thể và ít có những cái mới thực sự. Bối cảnh kinh tế xã hội gần đây có nhiều biến đổi nhanh chóng. GD nói chung, công tác QLGD nói riêng đang đứng trước những yêu cầu mới cao hơn. Điều đó đòi hỏi HĐNCKH, nhất là KH về QLGD phải được đổi mới mạnh mẽ.
Cần phải có những NC mới thích ứng và có giá trị thực tiễn cao. Đề tài này nhằm phát hiện những giải pháp QL cụ thể, phù hợp để HĐNCKH của GV Trường ĐH Đồng Tháp đạt kết quả cao hơn, góp phần xây dựng Nhà trường lớn mạnh hơn. Một số khái niệm cơ bản 1. Trường đại học Trường ĐH là một cơ sở GD bậc cao tiếp theo bậc trung học dành cho những học sinh có khả năng và nguyện vọng học tập tiếp lên trên.
Trường ĐH cung cấp cho sinh viên học vấn cao và cấp các bằng cấp khoa học trong nhiều các lĩnh vực ngành nghề. Các trường ĐH có thể cung cấp các chương trình bậc ĐH và sau ĐH. Giảng viên, Đội ngũ giảng viên 1. Giảng viên Chịu ảnh hưởng của văn hoá Trung Quốc, lúc đầu nhân dân ta cũng gọi người làm nghề dạy học là “Sư”.
Ông cha ta có câu “Nhất tự vi sư, bán tự vi sư” để khuyên răn người học thái độ tôn kính đối với nhà giáo. Khi chữ nôm ra đời, nhân dân không gọi nhà giáo bằng “Sư” mà gọi là “Thầy”, “Thầy” là “Người có trình độ hướng dẫn, dạy bảo”. Khi tiếp thu văn minh phương tây, “Thầy giáo được nhân dân ta gọi để chỉ người dạy học nói chung”. Có thể “Thầy giáo” là phiên âm tiếng Việt của thuật ngữ “Giáo sư” vốn có nguồn 15 gốc từ danh từ “Professor” của người châu Âu.
Sau này “Thầy giáo” đôi khi được hiểu theo nghĩa hẹp chỉ người dạy học là nam giới, còn nữ giới làm nghề này gọi là “Cô giáo”. Ngày nay, chúng ta gọi thống nhất những người làm nghề dạy học là “Nhà giáo”. Theo điều 70, Luật giáo dục của Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam: “Nhà giáo là người làm nhiệm vụ giảng dạy, GD trong nhà trường hoặc cơ sở giáo dục khác” [30, tr 53].