CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ CHẤT LƯỢNG DỊCH VỤ THẺ TÍN DỤNG 1. CÁC KHÁI NIỆM VỀ DỊCH VỤ VÀ CHẤT LƯỢNG DỊCH VỤ 1. Khái niệm về dịch vụ Theo V.J Bitner (2000) dịch vụ là các cách thức, hành vi, quá trình thực hiện một công việc nào đó nhằm tạo giá trị sử dụng cho khách hàng nhằm thỏa mãn nhu cầu và mong đợi của khách hàng. Theo Kotler (2003) dịch vụ là một hoạt động hay lợi ích cung ứng nhằm để trao đổi, chủ yếu là vô hình và không dẫn đến việc chuyển quyền sở hữu.
Việc thực hiện có thể gắn liền hoặc không gắn liền với sản phẩm vật chất kèm theo. Theo lý thuyết marketing, có bốn đặc điểm để phân biệt giữa sản phẩm là hàng hóa hay dịch vụ theo bốn đặc điểm sau: 1. Tính vô hình của dịch vụ: Dịch vụ không sử dụng năm giác quan nhìn, nghe, ngửi, nếm, chạm để cảm nhận trước khi sử dụng như các sản phẩm vật chất. Khách hàng chỉ nhận định và đánh giá được sản phẩm dịch vụ ngay khi dịch vụ được cung cấp do đó nó có tính vô hình.
Tính không tách rời được: Hoạt động dịch vụ coi trọng yếu tố con người, giữa người tạo ra nó và phân phối nó phải là một. Điều này có nghĩa là quá trình cung cấp và tiếp nhận dịch vụ tiến hành đồng thời, liên tục cùng một lúc với sự hiện diện của khách hàng trong suốt thời gian sản xuất. Do vậy, chất lượng dịch vụ sẽ dựa theo phán đoán chủ quan của khách hàng. Dịch vụ không thể tích lũy, dự trữ và kiểm nghiệm trước.
Tính không đồng nhất, không ổn định: Đối với sản phẩm dịch vụ khó có thể đánh giá đầy đủ vì tùy thuộc thời điểm tạo ra. Chất lượng dịch vụ phụ thuộc vào người cung cấp, thời gian, địa điểm. Doanh nghiệp muốn nâng cao chất lượng dịch vụ phải đầu tư vào huấn luyện và đào tạo nhân viên. Đa dạng khi đánh giá, tiêu chuẩn hóa từng sản phẩm dịch vụ.
Tính mong manh, không lưu giữ: Không bị hư hỏng, không để tồn kho, để dành, để bán hoặc sử dụng, dẫn đến phải nghiên cứu kỹ cung cầu. Tóm lại: Dịch vụ là một sản phẩm vô hình, không sở hữu một cái gì đó, có thể gắn hay không gắn với một sản phẩm vật chất, dịch vụ bao gồm các hoạt động và kết quả mà một bên có thể cung cấp cho bên kia. Khái niệm về chất lượng dịch vụ Mỗi lĩnh vực kinh doanh, ngành nghề sẽ có các định nghĩa về chất lượng dịch vụ khác nhau, chất lượng dịch vụ là một khái niệm rất rộng và phức tạp, do sự khác biệt giữa sản phẩm, dịch vụ. Tùy vào mục đích, hướng tiếp cận, sau đây là một vài định nghĩa về chất lượng dịch vụ.
Theo Tổ chức Tiêu chuẩn hoá Quốc tế, điều 3.1 của tiêu chuẩn ISO 9000:2005 định nghĩa chất lượng là mức độ đáp ứng các yêu cầu của một tập hợp có đặc tính vốn có. Điều này có nghĩa là chất lượng là mức độ phù hợp với yêu cầu của khách hàng, trong đó yêu cầu có thể được công bố, ngầm hiểu chung hoặc bắt buộc. Tương tự theo Parasuraman và cộng sự (1988); Zeithaml (1988); Bitner và cộng sự (1990) ; Bolton và Drew (1991a, b) ; Cronin và Taylor (1992); Bitner và Hubert (1994) nhìn chung chất lượng dịch vụ là đánh giá chung, thẩm dịnh tổng thể về dịch vụ dài hạn, xem xét tính nổi trội, ưu việt của dịch vụ tổng thể, được mô tả như một hình thức thái độ có hai cấu trúc là chất lượng dịch vụ và thái độ. Allport (1935) xác định thái độ như là một khuynh hướng học hỏi để đáp ứng các yêu cầu của một đối tượng một cách nhất quán.
Bitner và Hubert (1994) thì nhận thức về chất lượng dịch vụ có thể xảy ra ở nhiều cấp độ khác nhau trong một tổ chức. Ví dụ: với các dịch vụ cốt lõi, môi trường vật lý, tương tác với các nhà cung cấp dịch vụ. Mặt khác, sự hài lòng tổng thể của khách hàng với các dịch vụ của tổ chức được dựa trên một hoặc tất cả các chức năng như cuộc gặp mặt, kinh nghiệm của khách hàng khi sử dụng dịch vụ của tổ chức đó. Sự hài lòng của khách hàng tương tự như chất lượng dịch vụ xảy ra ở nhiều cấp độ trong tổ chức như sự hài lòng với những người liên hệ, cùng làm việc, các bên liên quan, sự hài lòng với các dịch vụ ngân hàng cốt lõi như tiền gửi tiết kiệm thẻ, chuyển tiền và sự hài lòng với các tổ 7 chức như một toàn thể.
Theo quan điểm hiện nay về chất lượng dịch vụ có những đặc điểm sau: - Chất lượng là làm thỏa mãn các yêu cầu của khách hàng, một sản phẩm dịch vụ được xem là đáp ứng đầy đủ các yêu cầu của khách hàng thì sản phẩm dịch vụ đó được xem là có chất lượng. - Chất lượng phụ thuộc rất nhiều vào thời gian, không gian, môi trường, điều kiện sử dụng, do đó khi nhu cầu thay đổi, chất lượng cũng thay đổi theo, vì chất lượng đo lường bằng mức độ thỏa mãn nhu cầu của khách hàng. - Nhu cầu của khách hàng có thể được công bố rõ ràng như quy định, tiêu chuẩn, được ngầm hiểu chung theo văn hóa dịch vụ khác nhau ở từng quốc gia, dân tộc, hay có những nhu cầu mà khách hàng cảm nhận được trong và sau khi kết thúc quá trình sử dụng. Khái niệm và phân biệt thẻ tín dụng Theo tính chất thanh toán của thẻ Thẻ tín dụng là phương tiện dùng để thanh toán hàng hóa, dịch vụ gián tiếp, với một hạn mức tín dụng nhất định mà ngân hàng cung cấp dựa trên sự tín nhiệm, tài chính, sổ ký quỹ hay tài sản thế chấp.
Thẻ tín dụng là sản phẩm kết hợp giữa tín dụng và thanh toán, là công cụ trong lĩnh vực cho vay tiêu dùng và là hình thức thanh toán hàng hóa không dùng tiền mặt ngay khi mua hàng. Ngân hàng sẽ ứng trước tiền cho người bán và khách hàng sẽ trả dần số tiền hoặc toàn bộ số dư trên sao kê hàng tháng trước ngày đến hạn. Lưu ý chủ thẻ phải thanh toán số dư tối thiểu trước ngày thanh toán gần nhất để tránh phí phạt chậm thanh toán. Thẻ tín dụng có tính tuần hoàn sau khi thanh toán số dư, thẻ tín dụng sẽ tự động nâng hạn mức số tiền được sử dụng cho lần thanh toán tiếp theo.
Thẻ tín dụng không bị trừ tiền trực tiếp vào tài khoản tiền gửi thanh toán sau khi mua hàng hay ứng tiền mặt trước.Thẻ tín dụng ngân hàng là mối quan hệ chặt chẽ giữa người mua hàng, các đơn vị cung ứng hàng hóa, dịch vụ và các tổ chức tài chính - tín dụng. 8 Thẻ ghi nợ: Là loại thẻ được sử dụng để chi trả tiền hàng hoá, dịch vụ, rút tiền tại máy ATM và POS thông qua hệ thống thanh toán, thiết bị điện tử ở cửa hàng hay máy rút tiền dựa trên số dư tài khoản tiền gửi, tài khoản thanh toán của mình tại ngân hàng phát hành. Thẻ thanh toán không có hạn mức tín dụng do thẻ phụ thuộc vào số dư hiện có trên tài khoản. Có 2 loại thẻ ghi nợ: Thẻ Online: Những thông tin giao dịch được kết nối trực tiếp từ thiết bị điện tử đặt tại cơ sở chấp nhận thẻ do đó khi thanh toán các giao dịch được khấu trừ trực tiếp, lập tức vào tài khoản của chủ thẻ.
Thẻ Offline: Các thông tin giao dịch được lưu tại máy điện tử của cơ sở chấp nhận thẻ và sẽ được khấu trừ vào tài khoản của chủ thẻ vài ngày sau Ngoài 2 loại thẻ trên còn có thẻ rút tiền mặt Thẻ rút tiền mặt: là thẻ chỉ dùng để rút tiền mặt từ tài khoản tại các máy rút tiền tự động (ATM) hay có những tiện ích khác như kiểm tra số dư tài khoản, chuyển khoản, chi trả khoản vay. Thẻ này yêu cầu chủ thẻ là phải ký quỹ tiền hay có sẵn lượng tiền trong tài khoản hoặc được ngân hàng cấp tín dụng thấu chi. Thẻ lưu trữ giá trị: là thẻ phát hành bằng cách nộp một số tiền nhất định để mua hàng hóa, dịch vụ, do đó mỗi lần sử dụng thì số tiền trên thẻ bị trừ dần 1. LỢI ÍCH CỦA VIỆC TĂNG CHẤT LƯỢNG DỊCH VỤ Có rất nhiều nghiên cứu hiện nay xem xét việc tăng chất lượng dịch vụ tác động như thế nào đến sự hài lòng và lòng trung thành của khách hàng.
Các khái niệm này là độc lập nhưng có mối quan hệ chặt chẽ với nhau. Ở đây, công ty hay tổ chức cung cấp chất lượng dịch vụ tốt sẽ làm cho khách hàng hài lòng, và sự hài lòng là điều kiện tiên quyết để duy trì nền tảng khách hàng để đạt được lòng trung thành của khách hàng đối với công ty hay tổ chức đó nhằm giúp doanh nghiệp đạt các mục tiêu kinh tế như lợi nhuận, thị phần Reichheld (1996) và khách hàng trung thành cũng được đánh giá như là một tài sản của tổ chức Wernerfelt (1991). Tăng sự hài lòng của khách hàng đối với chất lượng dịch vụ Sự hài lòng được đo lường theo những cách khác nhau và có nhiều quan điểm khác nhau về đo lường mức độ hài lòng của khách hàng. Nhìn chung, sự hài lòng của khách hàng là phản ứng của họ mang tính cảm xúc khi sử dụng, trải nghiệm về sản phẩm dịch vụ và là phản ứng về sự khác biệt cảm nhận giữa kinh nghiệm của họ trước và sau khi dịch vụ được cung cấp so với mong đợi nhận được Parasuraman và cộng sự (1988) Theo Oliver (1997) Sự hài lòng là sự phản ứng của người tiêu dùng với việc được đáp ứng những mong muốn.
Mức độ hài lòng là sự so sánh giữa mong đợi trước và sau khi sử dụng sản phẩm, dịch vụ. Giese và Cote (2000) cho rằng có ba yếu tố tổng quát cấu tạo thành biến tiềm ẩn sự thỏa mãn khách hàng: - Sự thỏa mãn của khách hàng là một đáp ứng cảm xúc tổng thể sản phẩm dịch vụ được cung cấp, đó là các biến đổi về cường độ cảm xúc. - Để cảm xúc được đáp ứng thì cảm xúc đó phải gắn liền với mục tiêu riêng biệt như là sự lựa chọn sản phẩm, mua hàng hoá hay tiêu dùng sản phẩm. - Cuối cùng cảm xúc đáp ứng chiếm dụng tại một thời điểm riêng biệt, là các biến đổi về trạng thái.
Tuy nhiên có giới hạn chung trong khoảng thời gian mà sự việc tồn tại. Theo Kano (1984) thì khách hàng có ba cấp độ về nhu cầu đó là nhu cầu cơ bản, nhu cầu biểu hiện, nhu cầu tiềm ẩn.