Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về chất lượng cho vay tiêu dùng tại Ngân hàng thương mại; Chương 2: Phương pháp nghiên cứu Chương 3: Thực trạng chất lượng cho vay tiêu dùng tại Ngân hàng Agribank chi nhánh huyện Phú Bình Nam Thái Nguyên. Chương 4: Một số giải pháp nâng cao chất lượng cho vay tiêu dùng tại Ngân hàng Agribank chi nhánh huyện Phú Bình Nam Thái Nguyên. 5 CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ CHẤT LƢỢNG CHO VAY TIÊU DÙNG TẠI NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI 1. Cơ sở lý luận về chất lƣợng cho vay tiêu dùng tại các Ngân hàng thƣơng mại.
Khái niệm Ngân hàng thương mại Khái niệm Theo Peter Rose (2004), Quản trị Ngân hàng Thương mại, NXB Tài chính, Hà Nội Thuật ngữ Ngân hàng thương mại (Commercial Bank) là một thuật ngữ dùng để chỉ tổ chức tài chính thực hiện các hoạt động liên quan đến lĩnh vực cung cấp tiền tệ, trung gian trao đổi tiền tệ, cung cấp dịch vụ tài chính (như tài khoản tiết kiệm, chứng chỉ tiền gửi…) cho khách hàng cá nhân và doanh nghiệp. Các ngân hàng thương mại kiếm tiền chủ yếu bằng cách cung cấp các loại khoản vay khác nhau cho khách hàng và tính lãi suất. Nguồn tiền của ngân hàng đến từ tiền mà khách hàng gửi vào tài khoản tiết kiệm, tài khoản séc, tài khoản thị trường tiền tệ và chứng chỉ tiền gửi. Người gửi tiền được hưởng lãi trên số tiền gửi của họ với ngân hàng.
Tuy nhiên, lãi suất trả cho người gửi tiền nhỏ hơn lãi suất cho vay áp dụng với người đi vay. Kết quả là chênh lệch giữa hai mức lãi suất trở thành nguồn lợi nhuận chính của ngân hàng thương mại. Đặc điểm của Ngân hàng thương mại Ngân hàng thương mại có quy mô lớn, cấu trúc tài sản đặc biệt Ngân hàng thương mại có quy mô lớn về tổng tài sản và vốn chủ sở hữu. Để thành lập một ngân hàng thương mại phải có vốn điều lệ tối thiểu 3.
Mạng lưới chi nhánh rộng khắp trải dài trên khắp cả nước. Cấu trúc tài sản của ngân hàng phần lớn là tài sản tài chính. Có nhiều rủi ro, chịu sự kiểm soát chặt chẽ của pháp luật Với tính chất kinh doanh đặc biệt là trung gian tài chính giữa các bên, ngân hàng thương mại thường tham gia vào những cam kết mà chưa được chuyển vốn, tham gia bảo lãnh,.Bên cạnh đó, nguồn vốn của ngân hàng chủ yếu là tiền huy động vốn của người dân thông qua hình thức gửi tiết kiệm. Hình thức này có đặc điểm là có 6 thể bị rút trước hạn, số lượng không dự báo trước được.
Vì thế kinh doanh ngân hàng chịu rất nhiều rủi ro như rủi ro tín dụng, rủi ro lãi suất, rủi ro thanh khoản, rủi ro ngoại hối,.Với quy mô rộng lớn và có tính chi phối xã hội cao, ngân hàng thương mại là một định chế tài chính chịu sự kiểm soát chặt chẽ của Nhà nước thông qua Luật Ngân Hàng Nhà nước Việt Nam 2010, trong đó quy định rõ về điều kiện kinh doanh, các hoạt động được phép kinh doanh,. Tính liên kết và tính ổn định của hệ thống ngân hàng là rất lớn Hệ thống ngân hàng có tính phụ thuộc rất cao, các ngân hàng liên kết với nhau thông qua các hoạt động trong đó ngân hàng đóng vai tr là trung gian hoặc khách hàng của ngân hàng kia. Vì vậy chỉ cần một ngân hàng gặp trục trặc dù chỉ là ngân hàng nhỏ thì có nguy cơ phá vỡ cả liên kết mắt xích này. Chức năng NHTM Trung gian tín dụng Đây là chức năng quan trọng nhất của ngân hàng thương mại.
Ngân hàng thương mại sẽ là cầu nối trung gian giữa những người có nguồn tiền thặng dư sẵn sàng gửi để sinh lời và những người cần tiền. Nói cách khác, ngân hàng vừa đóng vai tr là người đi vay vừa đóng vai tr là người cho vay và hưởng lợi nhuận từ khoản tiền từ lãi suất chênh lệch giữa hai quy trình. Đây được coi là một quá trình thúc đẩy nền kinh tế, những người có lượng tiền nhàn rỗi sẽ cho ngân hàng vay qua hình thức gửi tiết kiệm, và ngân hàng cho những người cần tiền vay vốn để thực hiện những mục đích của mình, cả ba bên đều có lợi. Đây cũng chính là hoạt động mang lại nhiều doanh thu nhất cho ngân hàng.
Trung gian thanh toán Ngân hàng đóng vai tr là thủ quỹ cho các doanh nghiệp và cá nhân và thực hiện những thanh toán theo yêu cầu của khách hàng. Ngân hàng cũng cung cấp cho khách hàng nhiều phương tiện thanh toán tiện lợi như thẻ thanh toán, thẻ tín dụng,. Giúp khách hàng đẩy nhanh các hình thức thanh toán và chi trả vừa đảm bảo an toàn, tiết kiệm chi phí vận chuyển, vừa tiết kiệm thời gian. Tạo tiền Với mục tiêu tìm kiếm lợi nhuận, ngân hàng vô hình chung thực hiện chức năng tạo tiền cho nền kinh tế thông qua hoạt động tín dụng và thanh toán.
Thông 7 qua chức năng trung gian tín dụng, ngân hàng sử dụng nguồn vốn huy động được để cho vay. Sau đó, số tiền đó lại được đưa vào nền kinh tế thông qua hoạt động mua hàng hóa, trong khi những người có số dư tài khoản tiếp lại tiêu dùng thông qua các hình thức thanh toán qua thẻ. Các hoạt động chủ yếu của NHTM Nghiệp vụ tài sản có Nghiệp vụ tài sản có của ngân hàng bao gồm các nghiệp vụ liên quan đến việc sử dụng các khoản huy động được từ tài sản nợ gồm: - Nghiệp vụ gây quỹ - Nghiệp vụ tín dụng - Nghiệp vụ đầu tư Nghiệp vụ tài sản nợ Là nghiệp vụ huy động vốn kinh doanh cho ngân hàng, bao gồm các nghiệp vụ: - Nghiệp vụ tạo vốn - Nghiệp vụ huy động vốn tự có - Nghiệp vụ huy động vốn khác Nghiệp vụ khác Là những nghiệp vụ ngân hàng làm trung gian thực hiện những việc theo yêu cầu của khách hàng như thanh toán,. gồm có: - Nghiệp vụ bảo lãnh - Nghiệp vụ phái sinh - Nghiệp vụ chuyển nhượng các khoản cho vay - Các nghiệp vụ khác như: thanh toán, cho thuê két sắt,.
Lý luận về cho vay tiêu dùng 1. Khái niệm và đặc điểm a, Khái niệm Theo Mai Văn Bạn (2015), Nghiệp vụ ngân hàng thương mại, NXB Tài Chính và Peter Rose (2012), Giáo trình Quản trị NHTM), Nhà xuất bản Tài chính, cho vay tiêu dùng là các khoản cho vay được thực hiện để tài trợ cho nhu cầu tiêu dùng cá nhân. Tùy thuộc vào tình hình tài chính của mình mà người vay có nhu cầu vay khác nhau. Các khoản cho vay tiêu dùng là nguồn tài chính quan trọng giúp 8 những người vay trang trải nhu cầu mua sắm, sửa chữa, cải tạo, nâng cấp nhà ở; đồ dùng gia đình và xe cộ.
Bên cạnh đó, những chi tiêu cho nhu cầu giáo dục, y tế và du lịch. cũng có thể được tài trợ bởi cho vay tiêu dùng Trên thực tế, có rất nhiều cách định nghĩa khác nhau về cho vay tiêu dùng. Sự khác nhau đó xuất phát từ đặc trưng của cho vay tiêu dùng ở mỗi nước có phần khác nhau. Ở nhiều nước, khái niệm cho vay tiêu dùng không bao hàm khoản cho vay để mua nhà cửa mà chỉ là những khoản cho vay để mua các động sản như ô tô, các đồ điện dân dụng.và cho các nhu cầu sinh hoạt khác (sinh đẻ, cưới xin, du lịch.
Cho vay tiêu dùng cho phép sử dụng trước khả năng mua, do đó tác động gián tiếp kích thích sản xuất phát triển. trong những giai đoạn mà nền kinh tế ở trạng thái giảm phát, mở rộng cho vay tiêu dùng là đ n bẩy để kích cầu, tạo động lực cho các nhà sản xuất tăng đầu tư, mở rộng sản xuất góp phần vào sự tăng trưởng của nền kinh tế. song trong giai đoạn lạm phát, nhu cầu chi tiêu của người tiêu dùng bị hạn chế, cho vay tiêu dùng bị thu hẹp. b, Đặc điểm Theo Peter Rose, Giáo trình Quản trị NHTM (2004), Nhà xuất bản Tài chính, cho vay tiêu dùng có một số nét đặc điểm nổi bật sau: Quy mô của từng hợp đồng cho vay tiêu dùng thường nhỏ nhưng số lượng các món vay lớn.
Tùy thuộc vào mục đích sử dụng và thu nhập hàng tháng mà giá trị các khoản vay thường khác nhau. Tuy nhiên có một đặc điểm chung là giá trị các khoản vay này thường rất nhỏ so với các khoản vay cho mục đích kinh doanh do đây là khoản vay phục vụ cho mục đích tiêu dùng của cá nhân, hộ gia đình mà giá trị của của hàng hóa tiêu dùng thường không quá lớn hoặc khách hàng đã có sự tích lũy từ trước đối với những nhu cầu của mình. Khi xã hội ngày càng phát triển, thu nhập của người dân ngày càng được nâng cao, nhu cầu tiêu dùng cũng sẽ tăng lên trong khi không phải ai cũng có khả năng đáp ứng nhu cầu của mình ở thời điểm hiện tại vì vậy nhu cầu vay cho mục đích tiêu dùng ngày càng gia tăng. Điều này dẫn đến số lượng khách hàng có nhu cầu vay vốn là rất đông, khiến tổng quy mô cho vay tiêu dùng ngày càng lớn.
9 Lãi suất cho vay tiêu dùng thường được cố định và cao hơn lãi suất của các loại cho vay trong lĩnh vực nông nghiệp, công nghiệp, thương mại và dịch vụ. Lãi suất cho vay tiêu dùng không linh hoạt như các khoản vay kinh doanh khác, căn cứ trên lãi suất huy động đầu vào. đây là yếu tố tiềm ẩn rủi ro cho ngân hàng khi lãi suất huy động tăng. các khoản vay tiêu dùng thường được định giá rất cao.
lãi suất cho vay tiêu dùng cao như vậy là do các khoản vay tiêu dùng có chi phí lớn và rủi ro cao trong danh mục cho vay của ngân hàng. Nhu cầu vay tiêu dùng của khách hàng thường phụ thuộc vào chu kỳ kinh tế. Khi nền kinh tế tăng trưởng mạnh, mọi người tin tưởng rằng trong tương lai mình sẽ có nhiều tiền hơn nhu cầu tiêu dùng cũng sẽ lớn hơn. Ngược lại, thời kỳ kinh tế suy thoái, người dân sẽ có xu hướng tiết kiệm hơn là tiêu dùng nên họ sẽ hạn chế nhu cầu tìm kiếm các khoản vay từ ngân hàng.
Nhu cầu vay tiêu dùng của khách hàng hầu như ít co dãn với lãi suất. Người đi vay thông thường chỉ quan tâm tới số tiền mà họ phải thanh toán định kỳ theo hàng tháng, quý, hơn là lãi suất họ phải chịu. Thu nhập và trình độ học vấn có tác động rất lớn đến việc sử dụng các khoản tiền vay của người tiêu dùng.