Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu
Khối doanh nghiệp nhỏ và vừa (DNNVV) giữ vai trò then chốt trong cấu trúc kinh tế Việt Nam. Theo số liệu được tác giả viện dẫn trong khóa luận, các DNNVV chiếm khoảng 96% tổng số doanh nghiệp, đóng góp khoảng 37% vào Tổng sản phẩm quốc nội (GDP) và giải quyết việc làm cho hơn 28% lực lượng lao động của cả nước. Mặc dù có tính linh hoạt cao và khả năng thích ứng nhanh với thị trường, rào cản lớn nhất đối với sự phát triển của khu vực này là tình trạng thiếu hụt nguồn vốn tài trợ cho các hoạt động sản xuất kinh doanh và mở rộng đầu tư. Phần lớn các DNNVV phải tìm đến kênh tín dụng ngân hàng thương mại, nhưng năng lực tiếp cận vốn thường bị hạn chế bởi các điều kiện thẩm định chặt chẽ, tình trạng thiếu hụt tài sản bảo đảm và năng lực quản trị tài chính chưa minh bạch.
Tại Ngân hàng Thương mại Cổ phần (TMCP) Á Châu – Chi nhánh Đông Đô (địa bàn quận Thanh Xuân, Hà Nội), phân khúc khách hàng DNNVV được xác định là trọng tâm phục vụ trong chiến lược phát triển tín dụng bán lẻ. Tuy nhiên, trong giai đoạn 2018–2019, hoạt động sản xuất kinh doanh của các khách hàng doanh nghiệp chịu ảnh hưởng tiêu cực từ cuộc chiến tranh thương mại Mỹ – Trung dẫn đến gián đoạn nguồn nguyên liệu đầu vào nhập khẩu từ Trung Quốc. Tiếp đó, sự bùng phát của đại dịch COVID-19 vào quý 1/2020 đã tác động trực tiếp đến các doanh nghiệp thuộc ngành du lịch, dịch vụ, sản xuất và chế tạo trên địa bàn. Áp lực kép từ môi trường kinh tế vĩ mô khiến nhiều khách hàng doanh nghiệp của chi nhánh rơi vào cảnh đình trệ, suy giảm dòng tiền trả nợ, dẫn tới nguy cơ phát sinh nợ quá hạn và nợ xấu, đe dọa trực tiếp đến chất lượng hoạt động cho vay của chi nhánh.
Để giải quyết vấn đề thực tiễn trên, khóa luận xác định 3 mục tiêu nghiên cứu cụ thể:
- Hệ thống hóa cơ sở lý luận về DNNVV, hoạt động cho vay và chất lượng cho vay đối với DNNVV của các ngân hàng thương mại.
- Phân tích thực trạng và đánh giá chất lượng cho vay đối với khách hàng DNNVV tại Ngân hàng TMCP Á Châu – Chi nhánh Đông Đô trong giai đoạn 2017–2019.
- Đề xuất hệ thống các giải pháp và kiến nghị nhằm nâng cao chất lượng cho vay DNNVV tại Ngân hàng TMCP Á Châu – Chi nhánh Đông Đô trong giai đoạn tiếp theo.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài được xác định như sau:
- Đối tượng nghiên cứu: Hoạt động cho vay và chất lượng cho vay đối với khách hàng doanh nghiệp nhỏ và vừa tại chi nhánh.
- Phạm vi không gian: Ngân hàng TMCP Á Châu – Chi nhánh Đông Đô (bao gồm trụ sở chi nhánh và 6 phòng giao dịch trực thuộc tại khu vực Nam Hà Nội).
- Phạm vi thời gian: Số liệu hoạt động kinh doanh và tín dụng thu thập trong giai đoạn từ năm 2017 đến năm 2019, có liên hệ bối cảnh phát sinh trong quý 1/2020.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp
Khóa luận xây dựng hệ thống cơ sở lý thuyết dựa trên các chuẩn mực phân loại doanh nghiệp và quy định pháp lý hiện hành của ngành ngân hàng Việt Nam:
- Khái niệm và phân loại DNNVV: Tác giả đối chiếu giữa tiêu chí của Ngân hàng Thế giới (World Bank) căn cứ theo số lao động, quy mô tài sản và doanh thu hàng năm với quy định tại Nghị định số 39/2018/NĐ-CP của Chính phủ. Theo Nghị định số 39/2018/NĐ-CP, DNNVV là cơ sở sản xuất kinh doanh độc lập đã đăng ký kinh doanh, có số lao động tham gia bảo hiểm xã hội bình quân năm không quá 200 người và tổng doanh thu năm không quá 300 tỷ đồng hoặc tổng nguồn vốn không quá 100 tỷ đồng.
- Khái niệm hoạt động cho vay: Dựa trên Thông tư số 39/2016/TT-NHNN của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam quy định về hoạt động cho vay của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài đối với khách hàng.
- Khái niệm chất lượng cho vay: Khóa luận kế thừa quan điểm học thuật của Đỗ Đức Hiệp (2016), xác định chất lượng cho vay là sự dung hòa và thỏa mãn đồng thời lợi ích của ba chủ thể: phía ngân hàng (đảm bảo an toàn vốn, thu hồi đủ gốc và lãi, tối ưu hóa lợi nhuận), phía khách hàng (được cung ứng vốn kịp thời, thủ tục thuận tiện, chi phí lãi suất hợp lý) và phía nền kinh tế – xã hội (thúc đẩy sản xuất, tạo việc làm và hạn chế rủi ro hệ thống).
- Quy định phân loại nợ: Áp dụng khoản 3 Điều 1 Quyết định 18/2007/QĐ-NHNN (sửa đổi, bổ sung Điều 6 Quyết định 493/2005/QĐ-NHNN) của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước để phân loại 5 nhóm nợ: Nhóm 1 (Nợ đủ tiêu chuẩn), Nhóm 2 (Nợ cần chú ý - quá hạn từ 10 đến 90 ngày hoặc nợ cơ cấu lại lần đầu), Nhóm 3 (Nợ dưới tiêu chuẩn - quá hạn từ 91 đến 180 ngày), Nhóm 4 (Nợ nghi ngờ - quá hạn từ 181 đến 360 ngày) và Nhóm 5 (Nợ có khả năng mất vốn - quá hạn trên 360 ngày). Nợ xấu được xác định bao gồm các khoản nợ từ nhóm 3 đến nhóm 5.
- Hệ thống chỉ tiêu đo lường chất lượng cho vay:
- Chỉ tiêu định tính: Mức độ đáp ứng nhu cầu vốn của khách hàng; trình độ chuyên môn và đạo đức nghề nghiệp của cán bộ tín dụng; tính minh bạch và ổn định của chính sách tín dụng; độ tín nhiệm của khách hàng doanh nghiệp.
- Chỉ tiêu định lượng: Quy mô và tốc độ tăng trưởng dư nợ cho vay DNNVV ($K$); tỷ lệ dư nợ cho vay DNNVV trên tổng dư nợ; vòng quay vốn tín dụng (tỷ số giữa doanh số thu nợ và dư nợ bình quân); tỷ lệ nợ quá hạn; tỷ lệ nợ xấu; tỷ trọng thu lãi từ cho vay DNNVV trong tổng thu nhập lãi.
Phương pháp nghiên cứu được tác giả vận dụng gồm:
- Phương pháp thống kê, tổng hợp số liệu: Tập hợp chuỗi dữ liệu thứ cấp từ các bảng cân đối kế toán, báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh và báo cáo tín dụng nội bộ của ACB Chi nhánh Đông Đô giai đoạn 2017–2019.
- Phương pháp phân tích so sánh và phân tích chi tiết: So sánh số liệu tuyệt đối và tương đối qua từng năm tài chính để xác định tốc độ tăng trưởng, biến động cơ cấu nguồn vốn, dư nợ, doanh số giải ngân, doanh số thu nợ và các nhóm nợ; từ đó chỉ ra nguyên nhân khách quan và chủ quan ảnh hưởng đến chất lượng tín dụng.
- Nguồn dữ liệu: Dữ liệu nội bộ cung cấp bởi Phòng Khách hàng Doanh nghiệp và Phòng Hành chính – Nhân sự thuộc Ngân hàng TMCP Á Châu – Chi nhánh Đông Đô, kết hợp các văn bản nghiệp vụ như Công văn số 151/NVCV-QLRRTD.19 ngày 02/05/2020 của ACB về định hướng chính sách tín dụng.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Những vấn đề cơ bản về chất lượng cho vay đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa tại NHTM
Chương 1 tập trung hệ thống hóa cơ sở lý luận về đặc thù hoạt động của khối DNNVV và các nghiệp vụ tín dụng ngân hàng thương mại. Tác giả phân tích các đặc trưng kinh tế của DNNVV bao gồm: tính linh hoạt cao, vòng quay vốn nhanh, khả năng thích ứng nhanh nhạy với biến động thị trường; tuy nhiên nhóm doanh nghiệp này gặp hạn chế lớn về quy mô vốn chủ sở hữu, trình độ công nghệ thường ở mức trung bình hoặc lạc hậu, thiếu kinh nghiệm quản lý và thiếu tài sản có giá trị cao để thế chấp.
Về phương thức cấp tín dụng, hoạt động cho vay DNNVV được phân loại theo thời hạn (ngắn hạn bổ sung vốn lưu động, trung và dài hạn đầu tư tài sản cố định), theo phương thức cấp vốn (từng lần, theo hạn mức, thấu chi), theo hình thức bảo đảm (thế chấp, cầm cố, tín chấp) hoặc theo loại tiền (nội tệ, ngoại tệ). Tác giả làm rõ nội hàm của chất lượng cho vay và các nhóm chỉ tiêu đánh giá định tính, định lượng.
Chương này cũng phân tích hai nhóm nhân tố tác động đến chất lượng tín dụng:
- Nhân tố khách quan: Thuộc về khách hàng (sự minh bạch của báo cáo tài chính, tính khả thi của phương án kinh doanh, năng lực điều hành của ban lãnh đạo); môi trường kinh doanh và mức độ cạnh tranh giữa các tổ chức tín dụng trên địa bàn; các chính sách tiền tệ và công cụ điều tiết vĩ mô của Ngân hàng Nhà nước.
- Nhân tố chủ quan: Chính sách tín dụng và khẩu vị rủi ro của ngân hàng; năng lực thu thập, phân loại và xử lý thông tin khách hàng; quy trình và thủ tục cấp tín dụng; năng lực chuyên môn trong công tác thẩm định dự án và đạo đức nghề nghiệp của đội ngũ cán bộ quan hệ khách hàng.
Chương 2: Thực trạng chất lượng cho vay doanh nghiệp nhỏ và vừa tại Ngân hàng Thương mại Cổ phần Á Châu – Chi nhánh Đông Đô
Chương 2 mô tả quá trình phát triển của đơn vị khảo sát: tiền thân là Phòng giao dịch Nam Hà Nội khai trương ngày 11/11/2011, sau 3 năm hoạt động đã được nâng cấp thành Chi nhánh Đông Đô vào ngày 11/11/2014 theo Thông tư số 21/2013/TT-NHNN và Văn bản chấp thuận số 1861/HAN-TTGS1 của Ngân hàng Nhà nước Chi nhánh TP. Hà Nội. Mô hình tổ chức gồm Ban Giám đốc, Bộ phận Giao dịch ngân quỹ, Bộ phận Hỗ trợ tín dụng, Bộ phận Tín dụng (Phòng Khách hàng Doanh nghiệp và Phòng Khách hàng Cá nhân) và Phòng Hành chính – Nhân sự.
Tác giả phân tích dữ liệu kinh doanh giai đoạn 2017–2019 qua các bảng số liệu thực tế:
Bảng 1: Tổng hợp các chỉ tiêu hoạt động và chất lượng cho vay DNNVV tại ACB Đông Đô (2017–2019)
(Đơn vị tính: Tỷ đồng)
| Chỉ tiêu |
Năm 2017 |
Năm 2018 |
Năm 2019 |
Tăng trưởng 2018/2017 |
Tăng trưởng 2019/2018 |
| Tổng nguồn vốn huy động |
898,00 |
955,00 |
1.097,00 |
+6,35% |
+14,87% |
| - Tiền gửi của dân cư |
522,00 |
565,00 |
595,00 |
+8,24% |
+5,31% |
| - Tiền gửi của tổ chức kinh tế |
376,00 |
390,00 |
502,00 |
+3,72% |
+28,72% |
| Tổng dư nợ cho vay |
718,00 |
795,00 |
856,00 |
+10,72% |
+7,67% |
| Dư nợ cho vay DNNVV |
358,00 |
413,80 |
480,60 |
+15,59% |
+16,14% |
| - Tỷ trọng dư nợ DNNVV/Tổng dư nợ |
49,86% |
52,05% |
56,14% |
- |
- |
| Doanh số cho vay DNNVV |
423,00 |
506,95 |
589,60 |
+19,85% |
+16,30% |
| Doanh số thu nợ DNNVV |
371,00 |
436,25 |
502,95 |
+17,59% |
+15,29% |
| Dư nợ nhóm 1 (Nợ đủ tiêu chuẩn) |
354,76 |
409,10 |
475,10 |
+15,32% |
+16,13% |
| Dư nợ nhóm 2 (Nợ cần chú ý) |
3,24 |
2,90 |
3,20 |
-10,49% |
+10,34% |
| Dư nợ nhóm 3 (Nợ dưới tiêu chuẩn) |
0,00 |
1,80 |
2,30 |
Phát sinh mới |
+27,78% |
| Dư nợ nhóm 4 và Nhóm 5 |
0,00 |
0,00 |
0,00 |
0,00% |
0,00% |
| Tổng nợ quá hạn DNNVV (Nhóm 2-5) |
3,24 |
4,70 |
5,50 |
+45,06% |
+17,02% |
| - Tỷ lệ nợ quá hạn trên dư nợ DNNVV |
0,91% |
1,14% |
1,14% |
- |
- |
| Tổng nợ xấu DNNVV (Nhóm 3-5) |
0,00 |
1,80 |
2,30 |
Phát sinh mới |
+27,78% |
| - Tỷ lệ nợ xấu trên dư nợ DNNVV |
0,00% |
0,44% |
0,48% |
- |
- |
| Thu lãi từ cho vay DNNVV |
49,30 |
61,26 |
69,53 |
+24,26% |
+13,50% |
| - Tỷ trọng thu lãi DNNVV/Tổng thu lãi |
>50% |
>50% |
>50% |
- |
- |
| Lợi nhuận trước thuế chi nhánh |
45,70 |
- |
- |
- |
- |
| Lợi nhuận sau thuế chi nhánh |
36,30 |
- |
- |
- |
- |
Số liệu phân tích cho thấy mảng cho vay DNNVV giữ vai trò chủ lực tại chi nhánh Đông Đô:
- Dư nợ cho vay DNNVV duy trì tốc độ tăng trưởng hai con số (15,59% năm 2018 và 16,14% năm 2019), tăng từ 358 tỷ đồng lên 480,6 tỷ đồng, chiếm tỷ trọng chi phối (56,14% tổng dư nợ năm 2019).
- Doanh số thu nợ tăng đều đặn đạt 502,95 tỷ đồng vào năm 2019, phản ánh công tác đôn đốc và quản lý dòng tiền trả nợ từ các hợp đồng tín dụng ngắn hạn (kỳ hạn 6–9 tháng) diễn ra tương đối khả quan.
- Tỷ lệ nợ xấu của phân khúc DNNVV dù có xu hướng tăng từ 0% năm 2017 lên 0,44% năm 2018 và 0,48% năm 2019 nhưng đều là nợ nhóm 3, không phát sinh nợ nhóm 4 và nhóm 5. Mức nợ xấu này thấp hơn nhiều so với tỷ lệ nợ xấu trung bình toàn ngành ngân hàng (thường trên 1,63%).
- Nguyên nhân phát sinh nợ nhóm 3 trong năm 2018 và 2019 được chỉ rõ do một số doanh nghiệp thi công xây lắp gặp khó khăn trong công tác tạm ứng và quyết toán khối lượng hoàn thành, cộng với sự cố cháy nổ tại một doanh nghiệp đối tác làm đình trệ khả năng thanh toán.
Bên cạnh kết quả đạt được, khóa luận chỉ rõ các hạn chế:
- Quy mô khách hàng còn rất khiêm tốn: Tính đến năm 2019, chi nhánh mới chỉ thiết lập quan hệ tín dụng với 120 DNNVV, chiếm tỷ lệ rất nhỏ so với tổng số 753.851 DNNVV đang hoạt động tại Việt Nam (theo số liệu Bộ Kế hoạch và Đầu tư năm 2019).
- Tỷ lệ hoàn thành chỉ tiêu tín dụng do Hội sở giao chỉ đạt khoảng trên 90% trong giai đoạn 2017–2019.
- Nguyên nhân chủ quan được tác giả phân tích sâu từ chính sách tín dụng của ACB: Khẩu vị rủi ro thấp dẫn đến quy định nhận tài sản bảo đảm khắt khe theo Công văn số 151/NVCV-QLRRTD.19 ngày 02/05/2020. Chi nhánh chỉ cho vay tối đa 95% giá trị tài sản bảo đảm là tiền và tương đương tiền, 90% bất động sản nội thành và 80% bất động sản nông thôn. Tài sản thế chấp thường bị định giá thấp hơn thị trường (chỉ khoảng 50–70% giá trị thị trường thực tế). Ngân hàng hầu như không nhận hàng tồn kho, đồng thời máy móc thiết bị cũ chỉ được nhận thế chấp bổ sung kèm bất động sản hoặc phương tiện chuyên chở mới với tỷ lệ tài trợ thấp (50–60%), gây khó khăn cho các DNNVV có năng lực tài chính lành mạnh nhưng thiếu bất động sản thế chấp.
Chương 3: Giải pháp nâng cao chất lượng cho vay đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa tại Ngân hàng TMCP Á Châu – Chi nhánh Đông Đô
Căn cứ vào thực trạng phân tích tại Chương 2, tác giả đề xuất định hướng phát triển và các nhóm giải pháp, kiến nghị thực tế:
Các giải pháp áp dụng tại Chi nhánh Đông Đô:
- Cải tiến quy trình và thủ tục cho vay: Đơn giản hóa thủ tục hồ sơ, rút ngắn thời gian xử lý và phê duyệt tín dụng nhằm giảm thiểu chi phí giao dịch cho khách hàng.
- Nâng cao chất lượng thông tin tín dụng và quản trị rủi ro: Đa dạng hóa nguồn thu thập dữ liệu về khách hàng từ Trung tâm Thông tin Tín dụng Quốc gia Việt Nam (CIC), các cơ quan quản lý và phương tiện truyền thông để đánh giá chính xác triển vọng kinh doanh.
- Nâng cao chất lượng công tác thẩm định: Chú trọng đánh giá sâu năng lực tài chính thực tế, dòng tiền lưu chuyển và tính khả thi của phương án kinh doanh thay vì chỉ dựa vào tài sản thế chấp.
- Tăng cường kiểm tra, kiểm soát sau cho vay: Theo dõi chặt chẽ mục đích sử dụng vốn vay và tình hình hoạt động của doanh nghiệp nhằm phát hiện sớm các rủi ro phát sinh nợ quá hạn.
- Chú trọng đào tạo và bồi dưỡng cán bộ: Thường xuyên cập nhật kiến thức chuyên môn, kỹ năng phân tích báo cáo tài chính và giáo dục đạo đức nghề nghiệp cho nhân viên quan hệ khách hàng.
Hệ thống kiến nghị:
- Kiến nghị với Ngân hàng Nhà nước: Duy trì môi trường chính sách tiền tệ ổn định, hoàn thiện khung pháp lý về bảo đảm tiền vay và nâng cao hiệu quả cung cấp thông tin tín dụng từ hệ thống CIC.
- Kiến nghị với Hội sở Ngân hàng TMCP Á Châu: Nghiên cứu nới lỏng linh hoạt chính sách tài sản bảo đảm đối với phân khúc DNNVV có xếp hạng tín nhiệm cao; phát triển các gói sản phẩm cấp tín dụng tín chấp hoặc tài trợ theo chuỗi cung ứng; phân cấp thẩm quyền phê duyệt tín dụng hợp lý hơn cho cấp chi nhánh.
Kết quả và đóng góp
Khóa luận đã tổng hợp và lượng hóa được bức tranh toàn diện về hoạt động tín dụng DNNVV tại ACB Đông Đô trong 3 năm liên tiếp (2017–2019):
- Dư nợ cho vay DNNVV đạt mức tăng trưởng ổn định: năm 2017 đạt 358 tỷ đồng, năm 2018 đạt 413,8 tỷ đồng (tăng 15,59%) và năm 2019 đạt 480,6 tỷ đồng (tăng 16,14%).
- Tỷ trọng dư nợ DNNVV trong tổng danh mục cho vay của chi nhánh tăng dần qua các năm, từ 49,86% (năm 2017) lên 52,05% (năm 2018) và 56,14% (năm 2019).
- Hoạt động cho vay DNNVV đóng góp trên 50% tổng doanh thu thu lãi cho vay của chi nhánh (đạt 49,3 tỷ đồng năm 2017; 61,26 tỷ đồng năm 2018 và 69,53 tỷ đồng năm 2019).
- Tỷ lệ nợ xấu cho vay DNNVV được kiểm soát chặt chẽ ở mức dưới 0,5% (năm 2017: 0%; năm 2018: 0,44%; năm 2019: 0,48%), toàn bộ nợ xấu phát sinh nằm ở nhóm 3 (nợ dưới tiêu chuẩn), không xuất hiện nợ nhóm 4 và nhóm 5, duy trì biên độ an toàn cao hơn mức trung bình toàn ngành (thường trên 1,63%).
Về mặt đóng góp học thuật và thực tiễn, tác giả đã tự tổng quan và chỉ ra sự khác biệt so với các công trình nghiên cứu trước đó:
- Đề tài của Ngô Thị Thu Mai (2014) tại MB Thái Nguyên và Đào Văn Khoa (2013) tại VietinBank Cửa Lò chỉ tập trung vào địa bàn tỉnh lẻ, số liệu không có tính so sánh hệ thống hoặc giải pháp chỉ đứng trên góc độ của doanh nghiệp.
- Nghiên cứu của Bùi Thị Tuyết (2013) tại ACB Hà Nội chỉ đề cập hoạt động tín dụng nói chung, không phân hóa sâu phân khúc DNNVV.
- Khóa luận của Trịnh Thị Lan Hương (2012) tại ACB Hòa Hưng nghiên cứu trên địa bàn TP. Hồ Chí Minh trong giai đoạn 2009–2011, thiếu tính thời sự và có sự khác biệt lớn về môi trường văn hóa kinh doanh so với khu vực Hà Nội.
- Đề tài của Phạm Phương Thảo (2013) tại MB Đống Đa nghiên cứu tổ chức tín dụng khác trên địa bàn Hà Nội nhưng giai đoạn nghiên cứu đã lùi xa.
Khóa luận của tác giả Nguyễn Trung Kiên là công trình đầu tiên đi sâu nghiên cứu toàn diện chất lượng tín dụng đối với khách hàng DNNVV tại Ngân hàng TMCP Á Châu – Chi nhánh Đông Đô trong giai đoạn kinh tế biến động mạnh (2017–2019), trực tiếp gắn việc đánh giá chất lượng tín dụng với các tác động thực tiễn của chiến tranh thương mại Mỹ – Trung và đại dịch COVID-19 trong giai đoạn đầu năm 2020.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Khóa luận thể hiện một số giới hạn thực tế:
- Phạm vi khảo sát hẹp: Đề tài chỉ tập trung nghiên cứu số liệu nội bộ của một chi nhánh ngân hàng cấp 1 (ACB Chi nhánh Đông Đô) với quy mô khách hàng DNNVV còn khiêm tốn (120 doanh nghiệp vào năm 2019), chưa có điều kiện khảo sát đối chứng với các chi nhánh ACB khác trên địa bàn Hà Nội hoặc các NHTM cổ phần đối thủ trong cùng phân khúc.
- Nguồn dữ liệu: Các số liệu tài chính được khai thác chủ yếu từ báo cáo tài chính rút gọn và báo cáo nội bộ trong 3 năm (2017–2019). Thời điểm hoàn thành khóa luận (tháng 6/2020) mới chỉ ghi nhận bước đầu các tác động của đại dịch COVID-19 trong quý 1/2020, chưa phản ánh đầy đủ tác động tiêu cực dài hạn của dịch bệnh đến sức khỏe tài chính doanh nghiệp và nợ tiềm ẩn.
- Hướng nghiên cứu tiếp: Mở rộng nghiên cứu đa chi nhánh hoặc toàn hệ thống ACB đối với phân khúc DNNVV; kéo dài chuỗi số liệu sang các năm 2020–2022 để đo lường toàn diện mức độ trễ của nợ xấu sau đại dịch COVID-19; áp dụng các mô hình định lượng (hồi quy kinh tế lượng) để lượng hóa mức độ tác động của các nhân tố chính sách tài sản bảo đảm, lãi suất và năng lực thẩm định đến xác suất vỡ nợ của DNNVV.
Giá trị tham khảo
Tài liệu khóa luận có giá trị tham khảo hữu ích cho các nhóm đối tượng:
- Sinh viên, học viên ngành Tài chính – Ngân hàng: Khóa luận là tài liệu tham khảo điển hình về phương pháp phân tích thực trạng tín dụng tại một chi nhánh ngân hàng thương mại, cung cấp cách tiếp cận logic từ hệ thống chỉ tiêu định tính, định lượng đến cách tính toán vòng quay vốn tín dụng, phân loại nợ theo các văn bản của Ngân hàng Nhà nước.
- Chuyên viên quan hệ khách hàng và thẩm định rủi ro: Nội dung phân tích các nút thắt trong công tác định giá tài sản bảo đảm theo Công văn số 151/NVCV-QLRRTD.19 và cách thức phân loại nhóm nợ theo Quyết định 18/2007/QĐ-NHNN là các dẫn chứng thực tế giúp cán bộ tín dụng nhận diện rủi ro khi cấp hạn mức cho khối doanh nghiệp xây dựng, thương mại và sản xuất.
Câu hỏi thường gặp
1. Tỷ lệ nợ xấu cho vay DNNVV tại ACB Chi nhánh Đông Đô giai đoạn 2017–2019 biến động như thế nào?
Theo báo cáo hoạt động tín dụng của chi nhánh, năm 2017 tỷ lệ nợ xấu bằng 0%. Sang năm 2018, nợ xấu phát sinh là 1,8 tỷ đồng, chiếm 0,44% tổng dư nợ cho vay DNNVV. Đến năm 2019, nợ xấu tăng lên 2,3 tỷ đồng, tương ứng tỷ lệ 0,48%. Toàn bộ nợ xấu phát sinh trong hai năm này đều thuộc Nợ nhóm 3 (Nợ dưới tiêu chuẩn); chi nhánh không ghi nhận khoản nợ nào thuộc Nhóm 4 (Nợ nghi ngờ) và Nhóm 5 (Nợ có khả năng mất vốn).
2. Dư nợ cho vay DNNVV chiếm bao nhiêu phần trăm trong tổng dư nợ tín dụng của ACB Đông Đô?
Dư nợ cho vay DNNVV chiếm tỷ trọng áp đảo và liên tục gia tăng trong cơ cấu tín dụng của chi nhánh: năm 2017 đạt 358 tỷ đồng (chiếm 49,86% tổng dư nợ); năm 2018 đạt 413,8 tỷ đồng (chiếm 52,05% tổng dư nợ) và năm 2019 đạt 480,6 tỷ đồng (chiếm 56,14% tổng dư nợ).
3. Chính sách tài sản bảo đảm của ACB quy định tỷ lệ cho vay trên các loại tài sản như thế nào theo Công văn số 151/NVCV-QLRRTD.19?
Căn cứ Công văn số 151/NVCV-QLRRTD.19 ngày 02/05/2020 của ACB, hạn mức cho vay tối đa được quy định: lên đến 95% giá trị đối với tài sản bảo đảm là tiền và các khoản tương đương tiền; 90% đối với bất động sản nội thành, đô thị; 80% đối với bất động sản nông thôn. Tài sản thường bị định giá thấp hơn thị trường (dao động từ 50–70% giá thị trường). Ngân hàng rất hạn chế nhận hàng tồn kho; máy móc thiết bị cũ chỉ được nhận bổ sung cho bất động sản; chỉ ưu tiên nhận phương tiện chuyên chở mới với mức cho vay từ 50–60% giá trị tài sản.
4. Doanh số cho vay và thu nợ đối với DNNVV tại chi nhánh trong giai đoạn 2017–2019 đạt bao nhiêu?
- Doanh số cho vay DNNVV: Năm 2017 đạt 423,0 tỷ đồng; năm 2018 đạt 506,95 tỷ đồng (tăng 19,85%); năm 2019 đạt 589,6 tỷ đồng (tăng 16,30%).
- Doanh số thu nợ DNNVV: Năm 2017 đạt 371,0 tỷ đồng; năm 2018 đạt 436,25 tỷ đồng (tăng 17,59%); năm 2019 đạt 502,95 tỷ đồng (tăng 15,29%).
5. Yếu tố khách quan nào trong năm 2018–2019 và đầu năm 2020 gây phát sinh rủi ro tín dụng tại chi nhánh?
Tác giả xác định hai nguyên nhân vĩ mô chủ yếu: Thứ nhất là căng thẳng từ cuộc chiến tranh thương mại Mỹ – Trung trong giai đoạn 2018–2019 làm gián đoạn nguồn nguyên liệu đầu vào giá rẻ nhập khẩu từ Trung Quốc của các doanh nghiệp sản xuất, chế tạo trên địa bàn. Thứ hai là sự bùng phát của dịch bệnh COVID-19 trong quý 1/2020 khiến các doanh nghiệp ngành du lịch, giải trí và dịch vụ phải tạm ngừng hoạt động do suy giảm lượng khách, trực tiếp làm suy giảm khả năng thanh toán nợ vay đúng hạn tại ngân hàng.
Kết luận
Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Nguyễn Trung Kiên đã phản ánh trung thực và chi tiết thực trạng chất lượng tín dụng đối với khách hàng doanh nghiệp nhỏ và vừa tại Ngân hàng TMCP Á Châu – Chi nhánh Đông Đô trong giai đoạn 2017–2019. Thông qua việc phân tích hệ thống chỉ tiêu tài chính nội bộ, nghiên cứu làm nổi bật sự đóng góp của phân khúc DNNVV khi chiếm tới 56,14% dư nợ và tạo ra hơn 50% doanh thu lãi của chi nhánh, đồng thời duy trì tỷ lệ nợ xấu ở mức an toàn dưới 0,5%. Bên cạnh việc chỉ rõ những hạn chế từ chính sách định giá tài sản bảo đảm và rủi ro nợ nhóm 3 phát sinh do biến động thị trường, công trình đã đề xuất hệ thống giải pháp cải tiến quy trình nghiệp vụ và kiến nghị chính sách mang tính thực tiễn cao cho đơn vị khảo sát.