CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ ĐẬP ĐẤT VÀ VẤN ĐỀ AN TOÀN HỒ ĐẬP 1.1 Tổng quan về xây dựng đập đất ở Việt Nam 1.1 Phát triển ngành Thủy lợi ở Việt Nam Nằm ở khu vực Đông Nam Á, Việt Nam dưới tác động của khí hậu nhiệt đới gió mùa hàng năm có lượng mưa phong phú. Lượng mưa trung bình hàng năm là xấp xỉ 2000mm. Việt Nam có một mạng lưới dày đặc của các con sông và suối. Số lượng các con sông có chiều dài trên 10km là 2360.
Tuy nhiên, do địa hình hẹp ở miền trung của đất nước, độ dốc lòng sông rất lớn và lượng mưa phân bố không đều quanh năm. Khoảng 75% lượng mưa được quan sát thấy trong 4 tháng mùa mưa từ tháng bảy đến tháng mười. Vì vậy để điều tiết nguồn nước trong một năm, làm giảm ảnh hưởng lũ lụt và hạn hán, tăng cường sản xuất điện và cung cấp nước trong mùa khô, cho thấy nhu cầu xây dựng đập chứa nước ngày càng đang phát triển. Kể từ khi những năm 30 của thế kỷ trước, một số đề án thủy lợi quy mô vừa và nhỏ đã được xây dựng với loại vật liệu là bê tông và đập đất có chiều cao dưới 30m và tạo ra hồ chứa với dung lượng ít hơn 50 triệu khối.
Các hồ chứa này chủ yếu phục vụ tưới tiêu lúa, hoa màu khác. Đập được xây dựng trong thời gian gần đây có quy mô trung bình và vật liệu chủ yếu là đất. Sau ngày thống nhất (1975) đã có một sự bùng nổ phát triển của các đập và hồ chứa. Nhiều dự án đập quy mô lớn với dung lượng lưu trữ hàng trăm triệu hoặc thậm chí hàng tỷ mét khối nước và chiều cao đập lên đến trên 50m.
Những con đập được xây dựng với vật liệu khác nhau (đất, đá, bê tông .) và được thiết kế và xây dựng bởi kỹ sư Việt Nam và người lao động trong nước. Hầu hết các dự án đập được vận hành cho mục đích khác nhau (phát điện, thủy lợi, cấp nước, giảm thiểu lũ lụt, du lịch, môi trường v.) Trong hai thập kỷ qua, bên cạnh sự phát triển của đập thủy điện quy mô vừa và nhỏ, dự án quy mô lớn đập đã được xây dựng ở các tỉnh Tây Bắc, miền Trung và miền Đông Nam Bộ. Những con đập này đã góp phần vào nền kinh tế của đất nước, ví dụ như Đập thủy điện Hòa Bình (chiều cao 128m, công suất lắp đặt 1.920MW), Nhà máy thủy điện Sơn La (chiều cao 138m, công suất lắp đặt 2. Tại khu vực ven biển 4 ở khu vực Bắc Trung bộ, hoặc đồng bằng Sông Cửu Long cống, đập ngăn mặn đã được xây dựng để tạo điều kiện thuận lợi cho sản xuất nông nghiệp địa phương và ổn định sinh kế địa phương.
Có một số cống đập ngăn mặn có chiều dài lên đến 200- 500m chẳng hạn như Thảo Long tỉnh Thừa Thiên Huế; Lãng Thé, Cái Hóp, Cần Chông tỉnh Trà Vinh; Ba Lai tỉnh Bến Tre. Trong tương lai các công trình chống xâm nhập mặn sẽ được xây dựng với quy mô lớn hơn để đối phó với nước biển dâng và phục vụ các mục đích khác. Cho đến nay, tổng dung tích trữ nước của tất cả các hồ chứa ở Việt Nam là 30 tỷ khối. Các hồ chứa này đã trực tiếp tưới cho 500.000 ha và cung cấp nguồn nước đến 1.000 ha đất trồng lúa và cây lương thực.
Điều này giúp tạo ra một sản lượng lương thực đủ để đáp ứng không chỉ nhu cầu trong nước mà còn dư thừa cho xuất khẩu. Tổng công suất của nhà máy thủy điện là 6.500MW, đóng góp lên đến 33% tổng nhu cầu điện tại Việt Nam. Đập được xây dựng trong lưu vực sông Hồng có tổng dung tích phòng lũ là 10 tỷ mét khối, có thể quản lý lũ lụt với xác suất 500 năm. Đập đất là loại phổ biến nhất của các đập chứa nước tại Việt Nam.
Hầu hết các đập đất có quy mô vừa và nhỏ có chiều cao dưới 50m. Nhiệm vụ các hồ chứa chủ yếu là phục vụ mục đích thủy lợi. Số lượng đập đất đóng góp tới 95% của tổng số của các đập hiện có tại Việt Nam. Đập đất được xây dựng từ các vật liệu tại chỗ và không cần phải dùng đến máy móc thi công đặc biệt.
Hầu hết các đập đất đã được hoạt động từ 30-40 năm. Hiện tại nó vẫn còn trong tình trạng tốt và hoạt động ổn định. Tuy nhiên để đảm bảo sự ổn định và phát huy hết công suất về lâu dài thì cần thường xuyên kiểm tra, tu sửa và nâng cấp.2 Xây dựng đập đất ở Việt Nam Đối với nước ta, đập đất là loại công trình dâng nước phổ biến nhất khi xây dựng những hồ chứa. Do đặc điểm về địa hình, địa chất, vật liệu xây dựng, phương tiện thi công… của nước ta, trong tương lai đập đất còn có triển vọng phát triển rộng rãi hơn nữa.
Sở dĩ trong những năm gần đây đập bằng vật liệu địa phương trong đó đập đất là chủ yếu đang phát triển với tốc độ nhanh và hiện đang có xu hướng phát triển nhanh hơn 5 nữa về số lượng cũng như quy mô công trình là do nhiều nguyên nhân, trong đó có những nguyên nhân chủ yếu sau đây: • Yêu cầu chất lượng của nền đối với đập đất không cao lắm so với những loại đập khác. Đập đất hầu như có thể xây dựng được với bất kỳ điều kiện địa chất, địa hình và khí hậu nào. Những vùng có động đất cũng có thể xây dựng được đập đất. Ưu điểm này rất cơ bản bởi vì càng ngày những tuyến hẹp, có địa chất tốt thích hợp cho các loại đập bê tông càng ít cho nên các nước dần dần đi vào khai thác các tuyến rộng, nền yếu, chỉ thích hợp cho đập bằng vật liệu tại chỗ.
• Với những thành tựu nghiên cứu trong các lĩnh vực cơ học đất, lý luận thấm, trạng thái ứng suất cùng với sự phát triển của công nghiệp chất dẻo làm vật chống thấm, người ta có thể sử dụng được tất cả mọi loại đất hiện có ở vùng xây dựng để đắp đập và mặt cắt đập ngày càng có khả năng hẹp lại. Do đó giá thành công trình ngày càng hạ thấp và chiều cao đập có khả năng tăng cao. Người ta đã tính được rằng nếu lựa chọn được loại đất có thành phần hạt thích hợp và đầm nén tốt thì ứng suất cho phép trong thân đập có thể đạt đến 110kg/cm2 và như vậy có thể xây dựng được đập cao đến 650m. • Sử dụng những phương pháp mới để xây dựng những màng chống thấm sâu trong nền thấm nước mạnh.
Đặc biệt dùng phương pháp phun các chất dính kết khác nhau như xi măng sét vào đất nền. Có khả năng tạo thành những màng chống thấm sâu đến 200m. • Có khả năng cơ giới hóa hoàn toàn các khâu đào đất,vận chuyển và đắp đất với những máy móc có công suất lớn do đó rút ngắn được thời gian xây dựng, hạ giá thành công trình và hầu như dần dần có thể loại trừ hoàn toàn lực lượng lao động thủ công. • Giảm xuống đến mức thấp nhất việc sử dụng các loại vật liệu hiếm như xi măng, sắt, thép v.v… và từ đó giảm nhẹ được các hệ thống giao thông mới và phương tiện giao thông.
• Do những thành tựu về nghiên cứu và kinh nghiệm xây dựng các loại công trình tháo nước, đặc biệt là do phát triển việc xây dựng đường hầm mà giải quyết được vấn đề tháo nước ngoài thân đập với lưu lượng lớn. 6 Hầu hết đập đất ở Việt Nam được xây dựng từ năm 1954 ở miền Bắc và từ sau năm 1975 trên cả nước. Tại thời điểm đó, đập chắn nước đều là đập đất, chỉ có đập Hoà Bình là đập đá đổ lõi sét. Mấy năm sau mới có các đập bêtông thông thường Tân Giang (Ninh Thuận), Lòng Sông (Bình Thuận), các đập đá đổ lõi sét Hàm Thuận – Đa Mi (Lâm Đồng), Yaly (Gia Lai), đập đá đầm nén có bản mặt bêtông cốt thép Quảng Trị, Tuyên Quang, đập RCC Plei Krong,.
Hiện đã thi công các đập RCC Nước Trong (Quảng Ngãi), Bản Vẽ (Nghệ An), Sơn La,., đập đá đầm nén có bản mặt bêtông cốt thép Cửa Đạt (Thanh Hoá). Hiện cả nước đã đầu tư xây dựng được 6.886 hồ chứa nước trong đó có 6.648 hồ chứa thủy lợi (chiếm 96,5%) và 238 hồ chứa thủy điện (chiếm 3,5%) với tổng dung tích khoảng 63 tỷ m3 nước”. Các đập đất lớn hoặc tạo ra hồ chứa có dung tích lớn là Dầu Tiếng (Tây Ninh), Trị An (Đồng Nai), Núi Cốc (Thái Nguyên), Yên Lập (Quảng Ninh), Cấm Sơn (Bắc Giang), Sông Mực (Thanh Hoá), Kẻ Gỗ (Hà Tĩnh), An Mã (Quảng Bình), Phú Ninh (Quảng Nam), Núi Một (Bình Định),. Ở nước ta đập vật liệu địa phương đóng vai trò chủ yếu.
Đập vật liệu địa phương tương đối đa dạng. Đập đất được đắp bằng các loại đất: Đất pha tàn tích sườn đồi, đất Bazan, đất ven biển Miền Trung. Phần lớn các đập ở Miền Bắc và Miền Trung được xây dựng theo hình thức đập đất đồng chất hoặc đập có thiết bị chống tường nghiêng, tường tâm, chân khay … bằng đất sét. Một số năm gần đây sử dụng một số công nghệ mới chống thấm cho thân đập như: Tường lõi chống thấm bằng các tấm bê tông cốt thép liên kết khớp ở đập Tràng Vinh, thảm sét bentonite cho đập Núi Một, hào bentonite cho đập Eaksup Thượng (Đắk Lắk)…Công nghệ mới tường chống thấm bằng sét - bentonite được áp dụng chống thấm đập Kẻ Gỗ (Hà Tĩnh), đập Núi Cốc (Thái Nguyên).
Công nghệ khoan phụt chống thấm mới kiểu tia (Jet-grouting) và khoan phụt hoá chất (Chemical grouting) do Viện Khoa học Thuỷ lợi Việt Nam nghiên cứu. Áp dụng chống thấm cho cống dưới đê, cống vùng triều, làm chân khay thượng lưu cho đập đất các công trình: Cống tiêu D10 thuộc hệ thống thuỷ nông thị xã Phủ Lý tỉnh Hà Nam; đập Đá Bạc (Hà Tĩnh); Bảng 1.