Chương 1: Lý luận về hoạt động cho vay xuất nhập khẩu hàng nông sản. Chương 2: Thực trạng hoạt động cho vay xuất nhập khẩu hàng nông sản tại Ngân hàng thương mại cổ phần đầu tư và phát triển Việt Nam chi nhánh Tây Ninh. Chương 3: Giải pháp mở rộng hoạt động cho vay xuất nhập khẩu hàng nông sản 1 CHƢƠNG 1: LÝ LUẬN VỀ HOẠT ĐỘNG CHO VAY XUẤT NHẬP KHẨU HÀNG NÔNG SẢN 1. HOẠT ĐỘNG CHO VAY XUẤT NHẬP KHẨU HÀNG NÔNG SẢN CỦA NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI 1.
Hoạt động cho vay xuất khẩu hàng nông sản 1. Khái niệm Để tìm hiểu khái niệm về hoạt động cho vay xuất khẩu HNS trước hết chúng ta hãy tìm hiểu về hoạt động cho vay xuất khẩu nói chung là gì. Hoạt động cho vay xuất khẩu hàng là các khoản ngân hàng cho người xuất khẩu vay với mục đích bổ sung vốn cho doanh nghiệp để họ có khả năng thực hiện hợp đồng ngoại thương đã ký và giúp cho hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp được liên tục, không bị thiếu hụt nguồn vốn trong thời gian chậm thanh toán tiền hàng của đối tác nước ngoài. Từ khái niệm về hoạt động cho vay xuất khẩu nói chung chúng ta có thể rút ra: Hoạt động cho vay xuất khẩu HNS là các khoản ngân hàng cho người xuất khẩu vay với mục đích bổ sung vốn cho doanh nghiệp để họ có khả năng thực hiện hợp đồng ngoại thương về HNS đã ký và giúp cho doanh nghiệp liên tục sản xuất kinh doanh, không bị hụt vốn trong thời gian chở tiền thanh toán hàng hóa của đối tác nước ngoài.
Các loại hình cho vay xuất khẩu hàng nông sản Hiện có hai hình thức phổ biến sau: - Tài trợ vốn trong giai đoạn chuẩn bị hàng xuất Giai đoạn chuẩn bị hàng xuất bao gồm thu mua HNS, gia công chế biến nguyên vật liệu tạo thành sản phẩm. Với những giá trị hợp đồng lớn, thời gian tạo thành phẩm dài, người xuất khẩu thường không đủ vốn để chuẩn bị cho lô hàng xuất khẩu vì vốn nằm trong cả ba khâu: nguyên vật liệu, sản phẩm dở dang và thành phẩm chờ xuất khẩu. Do vậy người xuất khẩu phải nhờ vào sự tài trợ của ngân hàng trong giai đoạn này. Họ đến ngân hàng và xuất trình các chứng từ chứng minh mục đích sử dụng vốn tài trợ như hợp đồng ngoại thương , tín dụng thư, xác nhận tiền phong tỏa của ngân hàng, tài sản thế chấp.Sau khi xem xét ngân hàng quyết định 2 hạn mức tài trợ, giá trị tài trợ cho giai đoạn này nhưng luôn thấp hơn giá trị của lô hàng do ngân hàng yêu cầu người xuất khẩu phải tham gia vốn tự có vào nhằm tăng cường trách nhiệm của người xuất khẩu trong giai đoạn chuẩn bị xuất hàng.
- Chiết khấu bộ chứng từ xuất khẩu Chiết khấu bộ chứng từ xuất khẩu là hình thức ngân hàng tài trợ nhà xuất khẩu thông qua việc mua lại hoặc cho vay trên cơ sở giá trị bộ chứng từ xuất khẩu hoàn hảo được người xuất khẩu xuất trình. Có hai hình thức chiết khấu: - Chiết khấu miễn truy đòi: Ngân hàng mua lại bộ chứng từ xuất khẩu hoàn hảo của người xuất khẩu. Giá mua sẽ thấp hơn giá trị bộ chứng từ, do ngân hàng tính trừ lại phí chiết khấu và thời gian cần thiết trung bình để đòi tiền nhập khẩu nước ngoài. Chiết khấu miễn truy đòi có nghĩa là người xuất khẩu bán hẳn bộ chứng từ cho ngân hàng, nhận tiền và không còn trách nhiệm hoàn trả, trách nhiệm thu tiền và quyền sử dụng số tiền thu được hoàn toàn thuộc về ngân hàng.
Ở nước ta các ngân hàng ít sử dụng hình thức chiết khấu này vì nó tiềm ẩn nhiều rủi ro cho ngân hàng. - Chiết khấu được phép truy đòi: Ngân hàng cho vay trên cơ sở người xuất khẩu xuất trình bộ chứng từ hoàn hảo. Thời gian cho vay được tính bằng thời gian cần thiết trung bình để đòi tiền người nhập khẩu nước ngoài. Khi đó trách nhiệm nhà xuất khẩu vẫn còn cho đến khi ngân hàng đòi được tiền từ người nhập khẩu.
Phí chiết khấu được tính dưới hình thức lãi chiết khấu, tính theo ngày và dĩ nhiên mức phí thấp hơn trong trường hợp chiết khấu miễn truy đòi vì rủi ro ngân hàng phải chịu thấp hơn trường hợp trên. Tác dụng hoạt động chiết khấu của ngân hàng nhằm tài trợ vốn lưu động cho người xuất khẩu để bảo đảm sản xuất kinh doanh liên tục, không bị gián đoạn trong thời gian chờ người nhập khẩu thanh toán tiền hàng. Hoạt động cho vay nhập khẩu hàng nông sản 1. Khái niệm Để tìm hiểu khái niệm về hoạt động cho vay nhập khẩu HNS trước hết chúng ta hãy tìm hiểu về hoạt động cho vay nhập khẩu nói chung là gì.
Hoạt động cho vay nhập khẩu là các khoản ngân hàng cho người nhập khẩu vay với mục đích là thanh toán tiền hàng cho người xuất khẩu. Từ khái niệm về hoạt động cho vay nhập khẩu nói chung chúng ta có thể rút ra: Hoạt động cho vay nhập khẩu HNS là các khoản ngân hàng cho người nhập khẩu vay với mục đích là thanh toán tiền mua HNS cho người xuất khẩu. Các loại hình cho vay nhập khẩu hàng nông sản Có ba hình thức phổ biến sau: - Tài trợ thanh toán bộ chứng từ giao hàng Theo hình thức này khách hàng phải lập phương thức sản xuất kinh doanh mang tính khả thi cho lô hàng nhập khẩu về phục vụ sản xuất hoặc kinh doanh. Đồng thời khách hàng phải lên kế hoạch tài chính nhằm xác định khả năng thanh toán khi đến thời điểm thanh toán dự kiến, xác định khoản thiếu hụt cần ngân hàng tài trợ.
Trên cơ sở xem xét và phân tích kế hoạch và phương án của khách hàng, ngân hàng sẽ ra quyết định tài trợ và xác định mức ngân hàng chấp nhận tài trợ. Tất cả công đoạn này phải được thực hiện trước khi bộ chứng từ giao hàng của người xuất khẩu về đến ngân hàng đứng ra tài trợ. Trường hợp bộ chứng từ giao hàng đã về rồi khách hàng mới xin tài trợ thanh toán, thì khả năng bị ngân hàng từ chối tài trợ là rất lớn vì ngân hàng có rất ít thời gian để xem xét bộ chứng từ cũng như đánh giá khả năng hoàn vốn của khách hàng cho khoản tiền mà ngân hàng đã tài trợ. - Cho vay bắt buộc Cho vay bắt buộc về nội dung cũng là cho vay thanh toán bộ chứng từ giao hàng.
Tuy nhiên tình trạng cho vay bắt buộc phát sinh khi người nhập khẩu không thanh toán hoặc không tập trung đủ tiền thanh toán bộ chứng từ giao hàng. Ngân hàng khi đó sẽ cho vay trên giá trị còn thiếu để thanh toán đúng hẹn tiền hàng cho ngân hàng nước ngoài. Người nhập khẩu nên tránh tình trạng phát sinh nợ vay bắt 4 buộc do họ phải chịu lãi suất cho vay khoản tiền này tương ứng với lãi suất cho vay quá hạn mà Ngân hàng nhà nước quy định bởi vì tính chất của khoản vay bắt buộc là nợ quá hạn. Hơn nữa, thời gian vay bắt buộc thường không quá 30 ngày kể từ ngày ngân hàng trả thay, áp lực thanh toán nợ vay cho ngân hàng sẽ rất lớn.
Tuy nhiên vì món vay bắt buộc mang tính nhất thời nên khách hàng phát sinh vay bắt buộc không hẳn là khách hàng không lành mạnh, món vay phát sinh thường do họ không tính toán chính xác trong kế hoạch tài chính hoặc gặp những biến cố bất ngờ trong quá trình sản xuất kinh doanh. - Cho vay ký quỹ Ký quỹ là một quy định của ngân hàng phát sinh của ngân hàng phát sinh trong trường hợp khách hàng xin được bảo lãnh. Khách hàng sẽ phải nộp một khoản tiền nhất định vào tài khoản của họ tại ngân hàng mà họ xin được bảo lãnh và khoản tiền đó sẽ được phong tỏa cho đến khi nghĩa vụ bảo lãnh của ngân hàng chấm dứt. Thường khoản tiền này được tính tỷ lệ với giá trị mà khách hàng xin bảo lãnh.
Trong thường hợp thiếu sự tin cậy hoặc hiệu quả thương vụ tiềm ẩn rủi ro cao, ngân hàng có thể yêu cầu khách hàng ký quỹ 100% giá trị mà khách hàng xin bảo lãnh. Trong thanh toán quốc tế, khách hàng phải thực hiện ký quỹ khi đề nghị ngân hàng phát hành tín dụng thư, xác nhận tín dụng thư hoặc bảo lãnh cho doanh nghiệp vay vốn nước ngoài. Cho vay ký quỹ là hình thức tài trợ nhập khẩu bởi do quy định của ngân hàng Nhà nước hoặc do tính rủi ro của thương vụ quá cao, ngân hàng sẽ yêu cầu khách hàng ký quỹ với giá trị lớn mà khả năng doanh nghiệp không đáp ứng được hoặc chỉ đáp ứng một phần. Điều này gây trở ngại cho khách hàng trong quá trình thực hiện thương vụ vì tiền ký quỹ bị phong tỏa khách hàng không được sử dụng.
Khi đó căn cứ trên uy tín của khách hàng, hiệu quả của thương vụ hoặc trên tài sản đảm bảo, ngân hàng có thể xét cho vay ký quỹ. Cho vay ký quỹ vừa giải quyết được khó khăn về vốn lưu động cho khách hàng, tăng tính an toàn và mang lại hiệu quả cho ngân hàng và vừa đảm bảo tuân thủ những quy định của ngân hàng Nhà nước về ký quỹ bảo lãnh. VAI TRÕ CỦA HOẠT ĐỘNG CHO VAY XUẤT NHẬP KHẨU HÀNG NÔNG SẢN 1. Đối với ngân hàng - Thời gian tài trợ ngắn hạn do gắn liền với thời gian thực hiện thương vụ.
Thời gian thực hiện thương vụ đối với người xuất khẩu là thời gian kể từ lúc gom hàng, xuất đi cho đến khi nhận được tiền thanh toán của người mua. Đối với nhà nhập khẩu, thời gian này kể từ lúc nhận hàng tại cảng cho đến khi bán hết hàng và thu tiền về. Kỳ hạn tài trợ ngắn phù hợp với kỳ hạn huy động vốn ngắn hạn của ngân hàng thương mại thường là dưới một năm. Điều này giúp ngân hàng tránh rủi ro về thanh khoản.
- Tài trợ XNK đảm bảo sử dụng vốn đúng mục đích. Đồng vốn tài trợ gắn liền với thương vụ. Trong nhiều trường hợp vốn tài trợ được thanh toán trực tiếp cho bên thứ ba mà không qua bên xin tài trợ như thanh toán tiền hàng nhập khẩu. Rõ ràng việc này tránh được tình trạng người xin tài trợ sử dụng vốn sai mục đích, hạn chế được rủi ro tín dụng.
- Tài trợ XNK nâng cao tính an toàn cho ngân hàng thông qua việc quản lý thu các nguồn thanh toán.