CHƯƠNG 1. LÝ LUẬN CO BẢN VÈ MỞ RỘNG CHO VAY KHÔNG TÀI SẢN ĐẢM BẢO ĐỐI VÓI DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1.1 Tống quan về cho vay không tài sản đảm bảo đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa của ngân hàng thưong mại 1. Khải niệm cho vay không tài sản đảm bảo Theo Điều 2, Thông tu- 39/2016/TT-NHNN1giải thích: “Cho vay là hình thức cấp tín dụng, theo đó bên cho vay giao hoặc cam kết giao cho khách hàng một khoản tiền để sử dụng vào mục đích xác định trong một thời gian nhất định theo thỏa thuận với nguyên tắc có hoàn trả cả gốc và lãi” Theo Điều 373, bộ Luật dân sự 20052 đã nêu về hình thức đảm bảo bằng tín chấp: “Việc cho vay có bảo đảm bằng tín chấp phải được lập thành văn bản có ghi rõ sổ tiền vay, mục đích vay, thời hạn vay, lãi suất, quyền, nghĩa vụ và trách nhiệm của người vay, ngân hàng, to chức tín dụng cho vay và tổ chức bảo đảm ” Vì vậy, có thế khái quát như sau: “Cho vay không tài sản đảm bảo (hay còn gọi là cho vay tín chấp) là hình thức cấp tín dụng, theo đó bên cho vay giao hoặc cam kết giao cho khách hàng một khoản tiền để sử dụng với mục đích xác định trong một khoảng thời gian nhất định theo thỏa thuận với nguyên tắc cỏ hoàn trả cả gốc, lãi và được đảm bảo bằng sự tín nhiệm, không cần cỏ tài sản thế chấp 1 Thông tư số 39/2016/TT-NHNN ngày 30/12/2016 Quy định về hoạt động cho vay của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài đối với khách hàng 2 Bộ luật dân sự số 33/2005/Q H 11 được Quốc hội ban hành ngày 14/6/2005 10 Từ khái niệm trên cho thấy, vay tín chấp không phải là việc cho vay không có bảo đảm mà cao hơn, tài sản bảo đảm là sự tín nhiệm giữa người cho vay (các ngân hàng, tố chức tín dụng) và người vay, thông thường là các doanh nghiệp. Cho vay không tài sản đảm bảo có một số đặc điểm sau: (i) Thường không được thực hiện được trong giai đoạn đầu của mói quan hệ giữa người cho vay và người vay.
Đẻ có được sự tín nhiệm, quan hệ vay - cho vay phải trải qua một thời gian nhất định; (ii) Thế chủ động trong việc quyết định cho vay không tài sản đảm bảo thuộc về người cho vay. Bởi lẽ, khi và chỉ khi người cho vay có được độ tin cậy rất cao đối với người vay mới có thể quyết định cho vay không tài sản đảm bảo; (iii) Người vay (các doanh nghiệp) đóng một vai trò to lớn trong quá trình tạo ra sự tín nhiệm đế có thể vay không tài sản đảm bảo; (iv) Sự tín nhiệm ("tài sản” đảm bảo tiền vay) lại là loại tài sản vô hình, không thể đem đấu giá để thu hồi vốn cho vay. Vì vậy, quyết định cho vay không tài sản đảm bảo của các ngân hàng và tổ chức tín dụng cần đặc biệt cẩn trọng. Đặc điếm hoạt động cho vay không tài sản đảm bảo đối vói doanh nghiệp nhỏ và vừa 1.1 Khải niệm và đặc điếm của doanh nghiệp nhỏ và vừa Theo Điều 4, Luật doanh nghiệp 20053: “Doanh nghiệp là tổ chức kinh tế có tên riêng, có tài sản, trụ sở giao dịch ổn định, được đăng kí kinh doanh theo quy định của pháp luật nhằm mục đích thực hiện các hoạt động kinh doanh ” 3 Luật doanh nghiệp số 60/2005/Q H 11 được Quốc hội ban hành ngày 29/11/2005 11 Mỗi quốc gia khác nhau lại có những quan điếm khác nhau về DNNVV, phụ thuộc vào mức độ phát triển kinh tế, bối cảnh văn hóa hay mục đích phân loại DNNVV của từng nước.
Theo Ngân hàng Thế Giới (World Bank) quy định rằng doanh nghiệp nhỏ có số lượng lao động từ 10 đến dưới 50 người với tổng doanh thu hàng năm không quá 3 triệu USD, còn doanh nghiệp vừa có từ 50 đến 300 lao động với tổng doanh thu không vượt quá 15 triệu USD. Còn tại Châu Mĩ, cụ thể là nước Mỹ thì DNNVV là những doanh nghiệp có số lượng người lao động dưới 500 người (cho phần lớn hoạt động sản xuất và khai thác). Và theo Liên Minh Châu Âu (EU), DNNVV là doanh nghiệp có số lượng công nhân không vượt quá 250 lao động với tống tài sản trên 10 triệu Euro và dưới 43 triệu Euro. Tại Hong Kong các DNNVV trong các ngành sản xuất có số nhân viên dưới 100 người và ngành phi sản xuất có số nhân viên dưới 50 người.
Đối với Việt Nam, tiêu chí phân loại DNNVV được quy định tại Điều 4, Luật số 04/2017/QH14 về Luật hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa ban hành ngày 12/06/2017. Theo đó các tiêu chí để xác định DNNVV như sau: Doanh nghiệp nhỏ và vừa bao gồm doanh nghiệp siêu nhỏ, doanh nghiệp nhỏ và doanh nghiệp vừa, có số lao động tham gia bảo hiểm xã hội bình quân năm không quá 200 người và đáp ứng một trong hai tiêu chí sau đây: (1) Tổng nguồn vốn không quá 100 tỷ đồng; (2) Tổng doanh thu của năm trước liền kề không quá 300 tỷ đồng. Qua quá trình tìm hiểu trên, có thể hiểu: “Doanh nghiệp nhỏ và vừa là những cơ sở sản xuất kinh doanh có tư cách pháp nhân, kinh doanh vì mục tiêu lợi nhuận hoặc phi lợi nhuận, có quy mô doanh nghiệp trong những giới hạn nhất định tính theo các tiêu thức von, lao động, doanh thu, giả trị gia tăng thu được từng thời kỳ của từng quốc gia 12 Trong phạm vi của luận vãn, tác giả sử dụng định nghĩa DNNVV trong Luật số 04/2017/QH14 ngày 12/06/2017 làm cơ sở lý luận cho việc nghiên cứu đề tài.2 Đặc điểm cho vay không tài sản đảm bảo đổi với doanh nghiệp nhỏ và vừa Hoạt động cho vay không tài sản đảm bảo đối với DNNVV của ngân hàng mang những đặc điểm sau: > Phạm vỉ hoạt động rộng và thời hạn vay ngắn, quy mô tín dụng nhó và tốc độ tăng trưởng dư nợ nhanh Cho vay không tài sản đảm bảo với các DNNVV có quan hệ với rất nhiều các chủ thể, hoạt động trên nhiều lĩnh vực của nền kinh tế và tham gia vào tất cả các khâu, các giai đoạn trong quá trình sản xuất kinh doanh, vì vậy thời hạn cho vay rất đa dạng bao gồm ngắn, trung và dài hạn. Tuy nhiên bản chất đây là các khoản vay không được đảm bảo bằng tài sản nên nhằm giảm thiểu rủi ro cho ngân hàng và đảm bảo nguồn vón cho các khoản vay tiếp theo, các ngân hàng hiện nay thường cho vay không tài sản đảm bảo đối với vay món tối đa là 36 tháng, vay hạn mức tối đa là 12 tháng.
Do bản chất các DNNVV có quy mô nhỏ, doanh thu không lớn mà đây lại là 2 yểu tố chủ yếu để ngân hàng căn cứ tính toán mức cấp tín dụng cho khách hàng. Ngoài ra, do đây là các khoản vay không tài sản đảm bảo nên các ngân hàng thường khá thận trọng khi thẩm định và quyết định cho vay với một hạn mức lớn ngay từ khi bắt đầu quan hệ với khách hàng. Vì vậy, hầu hết các khoản cho vay không tài sản đảm bảo cho DNNVV có quy mô khá khiêm tổn so với hình thức vay có tài sản đảm bảo thông thường khác. > Thủ tục đơn giản so với cho vay có tài sản đảm bảo Do cho vay không tài sản đảm bảo không cần tài sản đảm bảo cho vay khoản vay nên các thủ tục khác liên quan tới tài sản như thẩm định, định giá, 13 nhập kho, đăng ký giao dịch đảm bảo.
Qua đó giúp khách hàng tiết kiệm được các khoản chi phí liên quan tới các giao dịch này, đáp ứng nhu cầu vốn nhanh chóng và thuận tiện > Rủi ro cao Các điều kiện vay vốn của D N N W so với quy định hiện nay thường không đầy đủ và mức độ tin cậy không cao. Xuất phát từ đặc điểm về quy mô nhỏ nên bộ máy tố chức điều hành hoạt động kinh doanh của DNNVV thường rất giản đon, thiếu chặt chẽ, việc chấp hành các quy định của nhà nước về chế độ kế toán tài chính còn nhiều bất cập. Những rủi ro ngân hàng thường gặp khi cho DNNVV vay vốn là: (i) Cho vay không thu hồi được nợ, mất vốn, giảm uy tín của ngân hàng; (ii) Doanh nghiệp không trả nợ đúng hạn, chậm trả gốc và lãi tiền vay. > Khả năng sinh lời tốt Ngân hàng có nhiều cơ hội thu lợi nhuận từ việc hoạt động tín dụng đối với DNNVV, đặc biệt là doanh nghiệp làm ăn hiệu quả.
Với nhóm DNNW , ngân hàng thường áp dụng mức lãi suất cao hơn so với các doanh nghiệp lớn. Giá trị của một món vay tuy không lớn nhưng các ngân hàng có khả năng lấy số lượng bù quy mô. Bên cạnh các khoản lãi thu được từ hoạt động tín dụng, nếu ngân hàng khai thác tốt thì có thể thu thêm nhiều nguồn lợi khác. Đó là nguồn tiền gửi, nguồn ngoại tệ của các tổ chức tín dụng, các khoản phí dịch vụ thanh toán, dịch vụ chuyển tiền, bảo lãnh,.
Đối với các nguồn lợi này, nhất là các khoản phí, ngân hàng thu được nhiều hơn từ các doanh nghiệp nhỏ và vừa, ngân hàng cũng không phải chịu áp lực từ phía khách hàng như việc đáp ứng các dịch vụ này cho doanh nghiệp lớn.3 Quy trình cho vay không không tài sản đảm bảo đổi với doanh nghiệp nhỏ và vừa Hầu hết các ngân hàng cho vay không tài sản đảm bảo đều thực hiện theo quy trình cơ bản sau đây: Bước 1: Tiếp nhận hồ sơ đề nghị vay vốn của KHDN Khi khách hàng có nhu cầu vay vốn, nhân viên tín dụng của ngân hàng sẽ đến gặp và thu thập thông tin cần thiết như mục đích vay, nhu cầy vay, khả năng tài chính để kiểm tra sơ bộ khách hàng có đáp ứng điều kiện đề ra của ngân hàng không. Sau khi thu thập thông tin, căn cứ trên tình hình thực tế của từng khách hàng, nhân viên ngân hàng tư vấn các gói vay phù họp, đồng thời hướng dẫn khách hàng cung cấp hồ sơ vay chi tiết để bộ phận thẩm định sẽ thẩm định hồ sơ. v ề cơ bản hồ sơ bao gồm: - Hồ sơ pháp lý: giấy đăng ký kinh doanh, đăng ký mẫu dấu, điều lệ doanh nghiệp, chứng minh thư của giám đốc, kế toán trưởng, quyết định bổ nhiệm kế toán trưởng. - Hồ sơ tài chính: báo cáo tài chính năm liền kề, tờ khai thuế, họp đồng đầu ra, đầu vào đã thực hiện trong năm gần nhất, bảng kê chi tiết tài khoản 131, 331, 341.