Chương 1: Cơ sở lý luận về DNNQD và vai trò của tín dụng Ngân hàng đối với DNNQD. Chương 2: Thực trạng hoạt động cho vay đối với DNNQD tại NHTM cổ phần Quân đội. Chương 3: Giải pháp chủ yếu để mở rộng cho vay đối với DNNQD ttại NHTM cổ phần Quân đội .CƠ SỞ LÝ LUẬN VŨ DOANH NGHIỆP NGOÀI QUỐC DOANH VÀ VAI TRÒ CỦA TÍN DỤNG NGÂN HÀNG ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP NGOÀI QUỐC DOANH 1. DNNQD TRONG NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG Ở VIỆT NAM 1.
Khái niệm, phân loại, đặc điểm và vai trò của DNNQD trong nền kinh tế thị trường ở Việt Nam. Khái niệm về DNNQD: Doanh nghiệp là tổ chức kinh tế có tên riêng, có tài sản, có trụ sở giao dịch ổn định, được đăng ký kinh doanh theo quy định của pháp luật nhằm mục đích thực hiện các hoạt động kinh doanh. DNNQD là một bộ phận của nền kinh tế, lấy sở hữu tư nhân làm nền tảng, được tồn tại lâu dài, được bình đẳng trước pháp luật và có tính sinh lợi hợp pháp chủ động trong mọi hoạt động sản xuất kinh doanh trong khuôn khổ của pháp luật. Xuất pháp từ hình thức sở hữu của DNNQD, Nhà nước không cấp vốn hoạt động cũng như không tái cấp vốn mà vốn hoạt động của DNNQD là vốn do tư nhân bỏ ra hay một nhóm các thành viên là các tổ chức, cá nhân góp lại.
Số tiền này nhiều hay ít phụ thuộc vào qui mô ngành nghề, lĩnh vực sản xuất kinh doanh theo quy định của pháp luật (đựơc quy định trong luật doanh nghiệp). Mặt khác, trong hoạt động sản xuất kinh doanh của mình, DNNQD phải chịu trách nhiệm hữu hạn, vô hạn hay hỗn hợp cả vô hạn và hữu hạn. Điều đó tuỳ thuộc vào đặc trưng của từng loại hình sản xuất kinh doanh của DNNQD mà các cá nhân, tổ chức tham gia trong đó. Phân loại DNNQD: - Nếu căn cứ vào mức độ trách nhiệm trong hoạt động sản xuất kinh doanh thì DNNQD: Bao gồm các doanh nghiệp chiụ trách nhiệm hữu hạn (công ty TNHH, công ty cổ phần, …), các doanh nghiệp chịu trách nhiệm hỗn 4 hợp (công ty hợp vốn đơn giản là công ty trong đó có một thành viên nhận vốn chịu trách nhiệm vô hạn còn các thành viên góp vốn khác chịu trách nhiệm hữu hạn trên phần vốn đóng góp mà thôi).
Nếu chia theo tính chất sở hữu vốn DNNQD: bao gồm các loại hình doanh nghiệp sở hữu một chủ (doanh nghiệp tư nhân, công ty TNHH 1 thành viên), sở hữu nhiều chủ (công ty cổ phần, công ty TNHH có từ 2 thành viên trở lên,. Tuy nhiên dù phân loại theo hình thức nào thì DNNQD cũng bao gồm các loại hình sau: Doanh nghiệp tư nhân, công ty TNHH, công ty cổ phần, nhóm công ty,công ty hợp danh. Đặc điểm của DNNQD ở Việt Nam: Thứ nhất: Quy mô vốn nhỏ bé: Các DNNQD dựa trên sở hữu tư nhân về tư liệu sản xuất nên nguồn vốn mang tính chất nhỏ hẹp, mặt khác thâm niên tồn tại chưa lâu nên chưa có điều kiện để tích luỹ vốn. Nguồn vốn hoạt động chủ yếu là đi vay từ bạn bè, vay tư nhân, vay Ngân hàng và các TCTD khác.
Song do uy tín của các DNNQD chưa cao nên việc vay vốn gặp rất nhiều khó khăn, mặc dù đã có nhiều văn bản của chính phủ, NHNN quy định về việc mở rộng cho vay đối với khu vực này Thứ hai: Trình độ kỹ thuật công nghệ chưa theo kịp với thế giới: Do quy mô vốn hạn chế cùng với việc thiếu thông tin về công nghệ, sự hạn chế trong việc áp dụng công nghệ tiên tiến dẫn đến trình độ công nghệ của các DNNQD nhìn chung là không đồng bộ. Hầu hết là các thiết bị đều cũ kỹ, lạc hậu, phần lớn là máy cũ tân trang lại, tuổi của các máy móc thiết vào khoảng 20 tuổi. Thứ ba: Hoạt động kinh doanh chứa nhiều rủi ro. 5 Do tính năng động tự chủ cao, trong quá trình cạnh tranh, các DNNQD dễ đi đến hoạt động mạo hiểm, dễ xảy ra rủi ro.
Vì vậy, nếu thiếu sự điều tiết, hướng dẫn của các cơ quan chức năng các DNNQD có thể bỏ qua những quy định, nguyên tắc do Nhà nước đề ra, để chạy theo lợi ích trước mắt, gây hiệu quả xấu cho nền kinh tế xã hội. Thứ tư: Lĩnh vực kinh doanh chủ yếu là sản xuất tiêu dùng và dịch vụ. Kinh tế ngoài quốc doanh thường sản xuất tiêu cùng và cung ứng dịch vụ hoặc trong lưu thông hàng hoá, vì vây đây là những ngành không đòi hỏi một lượng vốn quá lớn. Hơn nữa lại là lĩnh vực hoạt động có vòng quay vốn nhanh, tỷ suất lợi nhuận cao phù hợp với đặc thù của các DNNQD.
Điều này có ưu điểm là nhanh chóng tạo cho nền kinh tế một khối lượng hàng hoá dịch vụ lớn, thoả mãn nhu cầu tiêu dùng của toàn xã hội. Song ngược lại khi những nhược điểm của DNNQD thể hiện dễ gây ra những khủng hoảng lớn, rối loạn trong khâu sản xuất và lưu thông hàng hoá, ảnh hưởng đến sự ổn định của đồng tiền. Vai trò của các DNNQD trong tiến trình đổi mới. Khu vực kinh tế ngoài quốc doanh ra đời và phát triển trong nền kinh tế thị trường, các DNNQD chủ yếu có quy mô vừa và nhỏ nên rất linh hoạt, nhạy bén thích ứng nhanh chóng với sự biến động của thị trường.
Nó huy động tối đa nguồn vốn trong dân cư để phát triển kinh tế đất nước. Với tính tự chủ và khả năng thích nghi cao, DNNQD đóng một vai trò không thể thiếu được trong nền kinh tế, thể hiện qua các mặt sau: Thứ nhất: DNNQD góp phần thu hút tối đa mọi nguồn vốn trong dân, giải quyết nạn thất nghiệp tạo ra sự phát triển cân đối trong nền kinh tế.Sự độc chiếm của hình thức sở hữu Nhà nước và tập thể không khai thác hết tiềm năng lớn của đất nước, do đó vẫn còn một lượng vốn lớn còn 6 nằm trong dân cư. Chỉ có con đường phát triển DNNQD mới có thể khai thác chúng. - DNNQD tham gia vào hầu hết các ngành kinh tế từ công nghiệp, thương mại đến dịch vụ, với đặc tính nhạy bén, tổ chức gọn nhẹ nên đã thu hút được rất nhiều lao động có trình độ khác nhau.
Thứ hai: DNNQD phát triển tạo thêm nguồn thu cho ngân sách Nhà nước. DNNQD đáp ứng khá nhanh nhậy các nhu cầu phong phú, đa dạng của thị trường, từ đó tạo ra ngày càng nhiều lợi nhuận đóng góp đáng kể vào nguồn thu ngân sách Nhà nước. Trên thực tế DNNQD đóng góp mỗi năm khoảng 40% - 45% vào ngân sách Nhà nước. Thứ ba: DNNQD tạo ra nhiều hàng hoá cho tiêu dùng và cho xuất khẩu.
Theo chiến lược phát triển hàng tiêu dùng, hàng xuất khẩu của Đảng và Nhà nước ta, DNNQD với sự đa dạng về quy mô, ngành nghề và hình thức kinh doanh đã khơi dậy tiềm năng to lớn trong dân để phát triển sản xuất, thu hút vốn, kỹ thuật công nghệ của nước ngoài tạo ra ngày càng nhiều sản phẩm phục vụ cho tiêu dùng và cho xuất khẩu Thứ tư: DNNQD có tác dụng quan trọng đối với quá trình CNH - HĐH và chuyển dịch cơ cấu kinh tế ở nước ta. Quá trình phát triển DNNQD cũng là quá trình cải tiến máy móc thiết bị, nâng cao năng lực sản xuất và chất lượng sản phẩm để đáp ứng nhu cầu thị trường, đến một mức độ nhất định sẽ dẫn đến đổi mới công nghệ, làm cho quá trình CNH - HĐH đất nước không chỉ diễn ra theo chiều rộng mà cả ở chiều sâu. Mặt khác, sự phục hồi các làng nghề ở một số vùng quê đã thúc đẩy sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế. Thứ năm: DNNQD phát triển góp phần tạo ra môi trường cạnh tranh thúc đẩy phát triển kinh tế.
7 Với sự đa dạng về lĩnh vực hoạt động, DNNQD đã tạo nên môi trường cạnh tranh trong nền kinh tế với các DNNN. DNNQD có tác dụng thúc đẩy sự phát triển của DNNN, bù đắp những lỗ hổng do khu vực này tạo ra. Đặc biệt nó có vai trò quan trọng trong việc chống lại xu thế độc quyền đang tác động làm trì trệ, cản trở nền kinh tế phát triển. Thứ sáu: DNNQD góp phần tạo ra thị trường vốn rộng lớn cho Ngân hàng.
Sự xuất hiện và phát triển của các DNNQD đã tạo ra một nhóm khách hàng thường xuyên cho Ngân hàng. Với tốc độ phát triển nhanh chóng cả về quy mô và chất lượng các DNNQD đã tạo ra một nhu cầu lớn cho Ngân hàng cả về vốn, thanh toán và các dịch vụ qua Ngân hàng. Điều này tạo điều kiện cho Ngân hàng ngày càng phát triển. Như chúng ta biết, hoạt động Ngân hàng phụ thuộc rất lớn vào nền kinh tế quốc dân mà trong đó DNNQD chiếm một tỷ lệ đáng kể do vậy, trong tương lai DNNQD sẽ là thị trường đầy triển vọng của ngành Ngân hàng.
Thuận lợi và khó khăn của DNNQD trong quá trình đổi mới. Thuận lợi: Nước ta đã chính thức gia nhập WTO năm 2006 vì vậy các doanh nghiệp có nhiều cơ hội để phát triển ,thị trường thế giới rộng mở. - Khu vực kinh tế ngoài quốc doanh được sự khuyến khích phát triển của Nhà nước. Nhà nước ta đã có chủ trương đa dạng hoá các thành phần kinh tế, đặc biệt là tăng tỷ trọng thành phần kinh tế ngoài quốc doanh để tận dụng các nguồn lực của nền kinh tế như: lao động và vốn.
Môi trường pháp lý sẽ ngày càng được khai thông để tạo điều kiện tối đa cho khu vực này phát triển; bên cạnh đó Nhà nước có những chính sách ưu đãi cho khu vực này như miễn giảm thuế trong những năm đầu đối với những lĩnh vực được khuyến khích phát triển, giảm giá thuê đất. Như vậy, các DNNQD sẽ có rất nhiều điều kiện thuận lợi để phát triển. 8 - Cơ sở hạ tầng của nền kinh tế: hệ thống giao thông, hệ thống thông tin liên lạc, khoa học kỹ thuật công nghệ. phát triển đã thúc đẩy sự phát triển mạnh mẽ của các doanh nghiệp Việt Nam nói chung và các DNNQD nói riêng.
- Môi trường tài nguyên còn rất nhiều tiềm năng phù hợp với đặc điểm của các DNNQD. Lực lượng lao động dồi dào và tiền công thấp là một thuận lợi cho sự phát triển của các DNNQD. - DNNQD bao gồm phần lớn các doanh nghiệp vừa và nhỏ, các doanh nghiệp này có những thuận lợi riêng như: dễ triển khai hoạt động, linh hoạt, dễ thích ứng, quay vòng nhanh, chi phí gián tiếp thấp, tận dụng được các nguồn vốn nhỏ. Mặc dù có những thuận lợi như vậy, nhưng DNNQD cũng gặp phải không ít những khó khăn.