CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VỀ RỦI RO TÍN DỤNGTRONG CHO VAY HỘ KINH DOANH CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1. CHO VAY HỘ KINH DOANH CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1. Hộ kinh doanh a. kinh doanh Khái niệm hộ kinh doanh chưa được định nghĩa cụ thể, hầu hết đều mặc nhiên thừa nhận hộ kinh doanh là hộ gia đình hay kinh kế hộ.
Trước đây hộ kinh doanh được gọi là hộ kinh doanh cá thể. Hộ kinh doanh cá thể do một cá nhân hoặc hộ gia đình làm chủ, chỉ được kinh doanh tại một địa điểm, sử dụng không quá mười lao động, không có con dấu và chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình đối với hoạt động kinh doanh. Hộ kinh doanh còn được định nghĩa là do một cá nhân là công dân Việt Nam hoặc một nhóm người hoặc một hộ gia đình làm chủ, chỉ được kinh doanh tại một địa điểm, sử dụng không quá mười lao động, không có con dấu và chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình đối với hoạt động kinh doanh. Theo nghị định chính phủ số 43 /2010/ NĐ – CP định nghĩa“Hộ kinh doanh do một cá nhân là công dân Việt Nam hoặc một nhóm người hoặc một hộ gia đình làm chủ, chỉ được đăng kí kinh doanh tại một địa điểm, sử dụng không quá mười lao động, không có con dấu và chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình đối với hoạt động kinh doanh”.
Đặc điểm của hộ kinh doanh Hộ kinh doanh có một số đặc điểm sau: Chủ hộ kinh doanh có thể là cá nhân hoặc hộ gia đình Luan van 7 Đối với hộ kinh doanh, pháp luật không quy định cụ thể về quy định thành lập. Bất kì một cá nhân Việt Nam có đủ năng lực pháp luật dân sự và hành vi dân sự đều có thể đứng ra kinh doanh Hộ kinh doanh không có tư cách pháp nhân và con dấu riêng Hộ kinh doanh do một cá nhân hoặc đại diện hộ gia đình đứng ra kinh doanh, hình thức kinh doanh đơn giản, quy mô nhỏ lẻ nên không có tư cách pháp nhân cũng không có con dấu riêng. Hộ kinh doanh chịu trách nhiệm vô hạn trong hoạt động kinh doanh Trong hoạt động kinh doanh của mình hộ kinh doanh chịu trách nhiệm dân sự về các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản phát sinh từ hoạt động kinh doanh là vô hạn bằng vốn kinh doanh và tài sản riêng của chủ sở hữu. Cho vay hộ kinh doanh a.
Khái niệm cho vay hộ kinh doanh Tín dụng ngân hàng là việc ngân hàng thỏa thuận để khách hàng sử dụng một tài sản (bằng tiền, tài sản thực hay uy tín) với nguyên tắc có hoàn trả bằng các nghiệp vụ cho vay, chiết khấu, tái chiết khấu, cho thuê tài chính, bảo lãnh ngân hàng và các nghiệp vụ khác. Nội dung tín dụng rộng hơn nội dung cho vay nhưng trên thực tế thuật ngữ tín dụng và cho vay thường dùng đan xen và thay thế cho nhau. Theo quyết định số 1627/2001/QĐ – NHNN, ngày 31/12/2001 có định nghĩa: “ Cho vay là một hình thức cấp tín dụng, theo đó tổ chức tín dụng giao cho khách hàng sử dụng một khoản tiền để sử dụng vào mục đích và thời gian nhất định theo thỏa thuận với nguyên tắc có hoàn trả cả gốc và lãi”. Căn cứ vào các khái niệm, định nghĩa nêu trên chúng ta có thể hiểu: Cho vay hộ kinh doanh của NHTM là hình thức cấp tín dụng, theo đó bên cho vay là NHTM giao hoặc cam kết giao cho hộ kinh doanh một khoản tiền để sử Luan van 8 dụng vào mục đích xác định trong một thời gian nhất định theo thỏa thuận với nguyên tắc hoàn trả cả gốc và lãi.
Đặc điểm cho vay hộ kinh doanh Các hình thức cho vay đối với các đối tượng khác nhau sẽ có các đặc điểm khác nhau, đối với hình thức cho vay hộ kinh doanh có những đặc điểm sau: Thứ nhất, quy mô khoản vay thường nhỏ lẻ Quy mô kinh doanh của hộ gia đình thường không lớn; do đó hộ kinh doanh tập trung ở các ngành nghề nhỏ lẻ, vốn đầu tư ban đầu không lớn do đó nhu cầu vay vốn của hộ kinh doanh là không lớn Thứ hai, mức độ phân tán các khoản vay rộng Với sự phân tán của các loại hình kinh doanh của hộ kinh doanh trên nhiều ngành nghề, lĩnh vực; địa bàn hoạt động của hộ kinh doanh rộng khắp các vùng miền. Nơi nào có thể sản xuất, kinh doanh hàng hóa thì nơi đó có thể cho vay hộ kinh doanh. Thứ ba, thủ tục khoản vay đơn giản Quy mô vay của hộ kinh doanh không lớn, hình thức hoạt động đơn giản, hộ kinh doanh ngại các thủ tục ruờm rà, thời gian làm thủ tục lâu nên thủ tục cho vay hộ kinh doanh cũng đơn giản. Thứ tư, việc kiểm tra, giám sát khoản vay gặp nhiều khó khăn Với đặc thù kinh doanh nhỏ lẻ, loại hình đa dạng, phân bố rộng khắp, sổ sách hoạt động của hộ kinh doanh nhiều khi không có dẫn đến việc kiểm tra, giám sát khoản vay gặp nhiều khó khăn đối với cán bộ làm công tác tín dụng.
Phương thức cho vay Căn cứ vào nhu cầu thực tế của hoạt động sản xuất kinh doanh hộ kinh doanh có thể lựa chọn một trong các hình thức vay vốn sau: Luan van 9 Vay từng lần (theo món) Vay theo món là hình thức vay vốn theo đó khách hàng sẽ làm hồ sơ vay vốn cho từng lần vay và số tiền rút vốn tối đa bằng số tiền cho vay theo thỏa thuận tại hợp đồng tín dụng ký giữa ngân hàng và hộ kinh doanh. Hình thức này nhằm đáp ứng nhu cầu bổ sung vốn lưu động hoặc nhu cầu vốn trung dài hạn để hình thành tài sản cố định của hộ kinh doanh như: đầu tư mới, đầu tư mở rộng công suất, đầu tư đổi mới công nghệ. phục vụ hoạt động sản xuất kinh doanh. Vay theo hạn mức tín dụng Vay theo hạn mức tín dụng là hình thức vay vốn theo đó ngân hàng cùng hộ kinh doanh xác định và thỏa thuận một hạn mức tín dụng duy trì trong một khoảng thời gian nhất định nhằm mục đích bổ sung nhu cầu vốn lưu động.
Hộ kinh doanh có thể rút vốn nhiều lần theo nhu cầu thực tế nhưng tổng dư nợ tại mọi thời điểm không được vượt quá hạn mức tín dụng được cấp. Mỗi lần rút vốn vay, hộ kinh doanh và ngân hàng sẽ ký một hợp đồng tín dụng cụ thể. Vay theo hạn mức thấu chi Vay theo hạn mức thấu chi là hình thức ngân hàng cho hộ kinh doanh được chi số tiền vượt quá số tiền có trên tài khoản tiền gửi thanh toán của mình mở tại ngân hàng. RỦI RO TÍN DỤNG VÀ QUẢN TRỊ RỦI RO TÍN DỤNG TRONG CHO VAY HỘ KINH DOANH CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1.1 Rủi ro tín dụng a.
Khái niệm rủi ro tín dụng Tín dụng là một trong những hoạt động chủ yếu của NHTM. Hoạt động tín dụng tuy mang lại lợi nhuận lớn cho NHTM nhưng luôn đi kèm theo đó là rủi ro không nhỏ. Có nhiều khái niệm về rủi ro tín dụng. Luan van 10 Rủi ro tín dụng là loại rủi ro phát sinh trong quá trình cấp tín dụng của ngân hàng, biểu hiện thực tế qua việc khách hàng không trả được nợ hoặc trả nợ không đúng hạn cho ngân hàng.
Rủi ro tín dụng là loại rủi ro mà các dòng tiền được hẹn trả theo hợp đồng (tiền lãi, tiền gốc hoặc cả hai) từ các khoản cấp tín dụng và các chứng khoán đầu tư sẽ không được trả đầy đủ. Theo quyết định số 493/2005/QĐ-NHNN ngày 22/42005 có đưa ra khái niệm: “Rủi ro tín dụng trong hoạt động ngân hàng của tổ chức tín dụng là khả năng xảy ra tổn thất trong hoạt động ngân hàng của TCTD do khách hàng không thực hiện hoặc không có khả năng thực hiện nghĩa vụ của mình theo cam kết”. Vậy chúng ta có thể hiểu rủi ro tín dụng trong cho vay hộ kinh doanh của NHTM là khả năng xảy ra tổn thất trong hoạt động cấp tín dụng của NHTM do hộ kinh doanh không trả nợ hoặc không có khả năng trả nợ cho NHTM theo đúng cam kết. hộ kinh doanh Rủi ro tín dụng có những đặc điểm cơ bản sau: Rủi ro tín dụng mang tính gián tiếp Do tình trạng thông tin bất cân xứng nên ngân hàng thường biết thông tin sau hoặc thông tin không chính xác về những khó khăn của hộ kinh doanh nên thường ứng phó không kịp thời.
Nói cách khác, những rủi ro trong hoạt động kinh doanh của hộ kinh doanh là nguyên nhân gián tiếp gây nên rủi ro tín dụng của ngân hàng. Rủi ro tín dụng có tính chất đa dạng và phức tạp Do hộ kinh doanh kinh doanh ở nhiều ngành nghề khác nhau, phức tạp nên rủi ro tín dụng hoạt động cho vay hộ kinh doanh cũng có nhiều nguyên nhân, hình thức khác nhau. Luan van 11 Rủi ro tín dụng có tính tất yếu Rủi ro tín dụng luôn tồn tại, gắn liền với hoạt động tín dụng; RRTD xảy ra khi hộ kinh doanh gặp phải tổn thất trong quá trình sử dụng vốn, do đó tính tất yếu là đặc điểm cơ bản của RRTD, việc cho vay hộ kinh doanh cũng không nằm ngoài đặc điểm này. Để chủ động phòng ngừa rủi ro tín dụng có hiệu quả, thì việc nhận biết các đặc điểm của rủi ro tín dụng là việc làm hết sức cần thiết và hữu ích.
rủi ro tín dụng Tùy theo mục đích, yêu cầu nghiên cứu mà có nhiều tiêu chí và cách phân loại rủi ro tín dụng [2]khác nhau. Căn cứ nguyên nhân phát sinh rủi ro Căn cứ vào nguyên nhân phát sinh rủi ro thì rủi ro được chia thành rủi ro giao dịch và rủi ro danh mục - Rủi ro giao dịch Rủi ro giao dịch có ba bộ phận chính, bao gồm: + Rủi ro lựa chọn: là rủi ro có liên quan đến quá trình đánh giá và phân tích tín dụng khi ngân hàng lựa chọn những phương án vay vốn có hiệu quả để ra quyết định cho vay. + Rủi ro bảo đảm: là rủi ro phát sinh từ các tiêu chuẩn đảm bảo như các điều khoản trong hợp đồng cho vay, các loại tài sản đảm bảo, chủ thể đảm bảo, hình thức đảm bảo và mức cho vay trên giá trị của tài sản đảm bảo. + Rủi ro nghiệp vụ: là rủi ro liên quan đến công tác quản lý khoản vay và hoạt động cho vay, bao gồm cả việc sử dụng hệ thống xếp hạng rủi ro và kỹ thuật xử lý các khoản vay có vấn đề.