CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HOẠT ĐỘNG MỞ RỘNG CHO VAY KHÁCH HÀNG DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA TẠI NHTM 1.1 Khái quát chung về doanh nghiệp nhỏ và vừa 1.1 Khái niệm doanh nghiệp nhỏ và vừa Theo khoản 7, Điều 4, Luật doanh nghiệp 2014, “Doanh nghiệp là tổ chức có tên riêng, có tài sản, có trụ sở giao dịch, được đăng ký thành lập theo quy định của pháp luật nhằm mục đích kinh doanh”. Xuất phát từ nhu cầu thực tế và yêu cầu của nền kinh tế thị trường, doanh nghiệp được chia thành nhiều loại tùy theo cách thức tiếp cận, trong đó doanh nghiệp chủ yếu được chia thành doanh nghiệp nhỏ và vừa; doanh nghiệp lớn. Theo tìm hiểu, khái niệm về doanh nghiệp nhỏ và vừa được xác định khác nhau tùy từng giai đoạn phát triển và đặc điểm thời kỳ của từng nước. Theo quy định tại khoản 3, nghị định số 56/ 2009/ NĐ-CP của Chính phủ về trợ giúp phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa có đưa ra khái niệm cụ thể như sau: “Doanh nghiệp nhỏ và vừa là cơ sở kinh doanh đã đăng kí kinh doanh theo quy định của pháp luật, được chia thành ba cấp: siêu nhỏ, nhỏ và vừa theo quy mô tổng nguồn vốn (tổng nguồn vốn tương đương tổng tài sản được xác định trong bảng cân đối kế toán của doanh nghiệp) hoặc số lao động bình quân năm (tổng nguồn vốn là tiêu chí ưu tiên)”.2 Đặc điểm của doanh nghiệp nhỏ và vừa Thứ nhất, DNNVV hoạt động ở hầu hết các lĩnh vực.
Với tỷ trọng chiếm tới 96%, có thể thấy mức độ phủ sóng của các DNNVV là rất lớn. Bên cạnh đó, việc bình đẳng và tự do lựa chọn ngành nghề lĩnh vực kinh doanh theo quy định của pháp luật của các DNNVV, góp phần tạo nên sự đa dạng và phong phú trong sự lựa chọn từ nông lâm, ngư nghiệp; thương mại – dịch vụ; vận tải;. Thứ hai, DNNVV có tính linh hoạt, thính ứng và nhạy bén cao. Với các đặc điểm như thành lập dễ dàng, không đòi hỏi nhiều vốn, số lượng lao động tương đối nhỏ, DNNVV thường gặp thuận lợi trong việc thâm nhập thị trường mới.
Bên cạnh đó, với mô hình sản xuất và quản lý gọn nhẹ, DNNVV còn dễ dàng trong việc ra quyết định chuyển đổi hình thức, loại hình và lĩnh vực kinh doanh trong điều kiện cần thiết để 6 tập trung khai thác các sản phẩm mang lại lợi nhuận cao. Thêm nữa, DNNVV không yêu cầu sở hữu cơ sở sản xuất cũng như văn phòng quá lớn, từ đó một mặt giúp doanh nghiệp tiết kiệm chi phí mặt bằng, mặt khác hỗ trợ doanh nghiệp có thể dễ dàng phát triển địa bàn tại nhiều nơi. Thứ ba, Trình độ sản xuất và năng lực quản lý của các DNNVV không cao. Đa số các DNNVV được thành lập và góp vốn trên cơ sở hùn vốn của các cá nhân có mối quan hệ từ trước như người thân và bạn bè.
Các thành viên góp vốn chính thường đảm nhận đồng thời các vị trí quản lý và lãnh đạo trong công ty dù kinh nghiệm tổ chức, quản lý và điều hành thường không cao, chủ yếu xuất phát từ kinh nghiệm thực tế của bản thân. Do vậy mức độ chuyên môn hóa trong công tác quản lý và phân công công việc giữa các phòng ban thường bị hạn chế. Thứ tư, Khả năng cạnh tranh thấp và môi trường cạnh tranh lớn. Do việc bị hạn chế về vốn trong hoạt động, khó tiếp cận nguồn vốn tín dụng, DNNVV thường gặp khó khăn trong hoạt động nâng cấp dây chuyền sản xuất, cải thiện năng suất lao động,.
từ đó tác động tiêu cực đến năng lực cạnh tranh của bộ phận doanh nghiệp này. Thêm vào đó, bên cạnh sự cạnh tranh trực tiếp đến từ các doanh nghiệp cùng quy mô, cùng lĩnh vực, DNNVV còn phải đối mặt với sự cạnh tranh từ phía các doanh nghiệp lớn, có lợi thế về vốn, máy móc thiết bị và số lượng nhân công.3 Quy mô vốn hoạt động của các DNNVV Theo đánh giá, các DNNVV hiện nay thường có quy mô vốn không cao, các doanh nghiệp này thường huy động vốn ban đầu chủ yếu từ vốn tự có của chủ doanh nghiệp, một phần khác thông qua vốn từ người thân và bạn bè. Do vậy trước đây, công tác xác định quy mô các DNNVV thường gặp khó khăn. Tuy nhiên với sự phát triển và mở rộng ngày càng nhanh của bộ phận doanh nghiệp này, Chính phủ đã ban hành nghị định số 56/ 2009/ NĐ-CP về trợ giúp phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa, trong đó có nêu rõ cách thức xác định như sau: 7 Bảng 1.1: Quy mô vốn và lao động theo ngành nghề Doanh Doanh nghiệp nhỏ Doanh nghiệp vừa nghiệp siêu nhỏ Ngành Số lao Tổng Số lao động Tổng nguồn Số lao động động nguồn vốn vốn Nông, lâm 10 người 20 tỷ từ trên 10 từ trên 20 tỷ từ trên 200 nghiệp và trở xuống đồng trở người đến đồng đến người đến thủy sản xuống 200 người 100 tỷ đồng 300 người Công nghiệp 10 người 20 tỷ từ trên 10 từ trên 20 tỷ từ trên 200 và xây dựng trở xuống đồng trở người đến đồng đến người đến xuống 200 người 100 tỷ đồng 300 người Thương mại 10 người 10 tỷ từ trên 10 từ trên 10 tỷ từ trên 50 và dịch vụ trở xuống đồng trở người đến đồng đến 50 người đến xuống 50 người tỷ đồng 100 người Đối với VPBank, tiêu chí để xác định phân khúc khách hàng doanh nghiệp nhỏ và vừa bao gồm doanh thu thuần (được thể hiện trên BCKQKD) và vốn chủ sở hữu (được thể hiện trên BCĐKT), cụ thể như sau: 8 Bảng 1.2: Quy định xác định phân khúc khách hàng DNNVV tại VPBank STT Tên phân khúc Doanh thu thuần Vốn chủ sở hữu (tỷ VND) (tỷ VND) 1 Doanh nghiệp siêu nhỏ ≤ 20 2 Doanh nghiệp nhỏ và vừa gồm Từ 20 trở lên ≤ 100 2.1 Doanh nghiệp nhỏ Từ 20 đến 100 2.2 Doanh nghiệp vừa gồm Doanh nghiệp vừa nhóm 1 Từ trên 100 đến 400 Doanh nghiệp vừa nhóm 2.1 > 400 ≤ 100 Doanh nghiệp vừa nhóm 2.4 Vai trò của DNNVV trong phát triển kinh tế Doanh nghiệp nhỏ và vừa có vị trí quan trọng trong nền kinh tế mỗi nước, kể cả các nước có nền kinh tế phát triển.
Đối với Việt Nam, vai trò của bộ phận doanh nghiệp này ngày một quan trọng, đặc biệt trong giai đoạn hiện nay. Thứ nhất, DNNVV thu hút, tạo khối lượng công việc lớn cho lực lượng lao động Việt nam. Xuất phát từ đặc điểm đa dạng trong ngành nghề, lĩnh vực, trải khắp mọi tỉnh thành trên cả nước, hơn nữa, yêu cầu chất lượng lao động tại các DNNVV không cần quá cao, nên có khả năng tạo việc làm, góp phần giảm áp lực về thất nghiệp, tăng thu nhập và cải thiện đời sống. Thứ hai, DNNVV cung cấp các sản phẩm, dịch vụ phong phú, đa dạng đáp ứng nhu cầu thị trường trong nước cũng như xuất khẩu.
Như đã đề cập, DNNVV hoạt động ở hầu hết các ngành nghề kinh doanh trong xã hội, từ các sản xuất đến cung ứng và dịch vụ, cho thấy DNNVV hoàn toàn đủ khả năng đáp ứng các nhu cầu của người tiêu dùng. 9 Thứ ba, DNNVV góp phần khai khác các nguồn lực xã hội tại chỗ một cách hiệu quả. Thực tế cho thấy, DNNVV có mặt ở hẩu hết các địa phương ở nước ta. Chính điều đó, giúp doanh nghiệp tận dụng tối đa các nguồn lực địa phương, không chỉ là nguồn lao động dồi dào, mà còn có thể huy động vốn từ dân cư trong vùng để phục vụ quá trình sản xuất.
Thứ tư, Góp phần hình thành và phát triển đội ngũ lãnh đạo tài năng tương lai. Do đặc thù số lượng DNNVV là rất lớn, tính cạnh tranh cao, chủ doanh nghiệp luôn phải thích nghi và nhạy bén trước sự thay đổi của thị trường. Đó là áp lực lớn khiến đội ngũ quản lý của DNNVV luôn phải trau dồi kiến thức thực tế, tiếp xúc thường xuyên với thị trường để bổ sung kinh nghiệm tổ chức và điều hành doanh nghiệp. Từ đó, hỗ trợ đào tạo các cán bộ hiện tại trở nên năng lực, hiểu biết trong tương lai.
Qua các vai trò trên, có thể thấy vai trò của các DNNVV là vô cùng quan trọng, đặc biệt trong điều kiện phát triển kinh tế và xã hội tại Việt nam ta. Vì vậy, việc tập trung, khuyến khích và hỗ trợ các DNNVV cần được sát sao và tích cực hơn nữa.2 Những vấn đề cơ bản về hoạt động cho vay của NHTM đối với DNNVV 1.1 Khái niệm về hoạt động cho vay của NHTM Theo khoản 16, Điều 4, Luật Các tổ chức Tín dụng 2010 có giải thích và quy định, “Cho vay là hình thức cấp tín dụng, theo đó bên cho vay giao hoặc cam kết giao cho khách hàng một khoản tiền để sử dụng vào mục đích xác định trong một thời gian nhất định theo thỏa thuận với nguyên tắc có hoàn trả cả gốc và lãi. Theo đó, Cho vay là một trong năm hình thức cấp tín dụng chủ yếu (bao gồm cho vay, cho thuê tài chính, bão lãnh, chiết khấu và bao thanh toán) của một ngân hàng thương mại, đối với mỗi khoản cho vay, ngân hàng sẽ cam kết giải ngân cho khách hàng đã được phê duyệt cho vay một khoản tiền với thời hạn và số tiền đã được thỏa thuận và xác định trước. Khách hàng ngoài phần gốc phải trả định kỳ (thường là hàng tháng hoặc tùy quy định tại hợp đồng) thì sẽ phải trả thêm lãi, được tính theo lãi suất – đây được gọi là giá của việc sử dụng vốn.2 Đối tượng cho vay của NHTM Theo khoản 3, Điều 2, Thông tư 39/2016 về hoạt động cho vay của các tổ chức tín dụng quy định, “Khách hàng vay vốn tại tổ chức tín dụng (sau đây gọi là khách hàng) là pháp nhân, cá nhân, bao gồm: − Pháp nhân được thành lập và hoạt động tại Việt Nam, pháp nhân được thành lập ở nước ngoài và hoạt động hợp pháp tại Việt Nam; − Cá nhân có quốc tịch Việt Nam, cá nhân có quốc tịch nước ngoài.
” Theo quy định trên, đối tượng vay được phép vay vốn tại các NHTM tại nước ta bao gồm tất cả chủ thể trong xã hội. Tuy nhiên, để được các ngân hàng cấp tín dụng, khách hàng vay ngoài đáp ứng các điều kiện trên cũng phải có quy định khác. Đối với cá nhân, người vay vốn phải trên 18 tuổi, có đủ năng lực hành vi dân sự, năng lực hành vi pháp luật, có mục đích vay vốn hợp pháp và có đủ thu nhập để chi trả gốc – lãi khoản vay khi đến hạn.