Chương 1: Cơ sở lý luận về marketing dịch vụ Chương 2: Thực trạng hoạt động marketing cho vay tiêu dùng không có tài sản bảo đảm tại Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam - Chi nhánh Kon Tum Chương 3: Giải pháp hoàn thiện hoạt động marketing cho vay tiêu dùng không có tài sản bảo đảm tại Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam - Chi nhánh Kon Tum 7. Tổng quan tài liệu nghiên cứu Để có thông tin cần thiết phục vụ cho việc nghiên cứu luận văn, tác giả đã tiến hành thu thập một số thông tin, tham khảo nhiều nguồn tài liệu có liên Luan van 4 quan khác nhau, tìm hiểu các luận văn thạc sĩ có nội dung tương tự đã được công nhận để tiến hành nghiên cứu nh m tìm ra nền tảng cho quá trình hoàn thành luận văn. Về mặt cơ sở lý luận Học viên đã tổng hợp, đúc kết và kế thừa từ một số nguồn tài liệu, sách tham khảo được biên soạn mới nhất về marketing, vốn là các giáo trình đã được giảng dạy tại trường đại học kinh tế Đà Nẵng cũng như các trường đại học khác, cùng các sách chuyên ngành của một số học giả nước ngoài. Cụ thể: - Nhóm tác giả Ths Quách Thị Bửu Châu (2007), GV Nguyễn Văn Trưng của Trường đại học Kinh tế thành phố Hồ chí Minh, Giáo trình Marketing căn bản, nhà xuất bản Lao động.
- Lê Thế Giới – Nguyễn Xuân Lãn (1999), Giáo trình Quản trị Marketing, nhà xuất bản giáo dục Việt Nam. - Trương Đình Chiến (2007), Quản trị marketing, Nhà xuất bản đại học Kinh tế Quốc dân, Hà Nội Giáo trình cung cấp những lý thuyết giúp hệ tác giả hệ thống tiến trình marketing dịch vụ: Phân tích môi trường Marketing để tìm ra những cơ hội thị trường, Lựa chọn thị trường mục tiêu, Định vị sản phẩm dịch vụ, thiết kế các chính sách Marketing dịch vụ, thực hiện và kiểm tra hoạt động Marketing. - PGS-TS Lê Thế Giới, TS. Nguyễn Xuân Lãn (2012), Giáo trình quản trị Marketing định hướng giá trị, Nhà xuất bản Lao Động xã hội.
Tác giả đề cập đến mô hình marketing mix (7P) cho dịch vụ qua 7 biến số: Sản phẩm (Product), Giá (Price), Địa điểm (Place), Truyền thông cổ động (Promotion), Nhân viên (Persons), Tiến trình (Process), môi trường vật chất (Physical environment). Hồ Diệu (2001), Tín dụng Ngân hàng, Nhà xuất bản Thống Kê. Giáo trình cung cấp khái niệm, đặc điểm của sản phẩm cho vay tiêu dùng Luan van 5 không có tài sản đảm bảo tại các Ngân hàng thương mại. Về mặt thực tiễn Tác giả tham khảo các quy định của Ngân hàng nhà nước, BIDV về hoạt động cho vay tiêu dùng không có tài sản bảo đảm; khai thác nguồn số liệu từ các báo cáo hoạt động của chi nhánh qua các năm để làm rõ cho các nhận định của luận văn trong chương 2.
Ngoài ra tác giả còn tham khảo thêm một số đề tài, bài viết liên quan: - Nguyễn Thị Thu Phương (2010), Marketing sản phẩm cho vay tiêu dùng. - Nguyễn Thị Ngọc Diệp (2007), Khóa luận tốt nghiệp Áp dụng Marketing dịch vụ vào hoạt động kinh doanh của Ngân hàng TMCP đầu tư và phát triển Việt Nam. Đề tài đánh giá thực trạng áp dụng Marketing dịch vụ ở BIDV, đưa ra giải pháp đẩy mạnh việc áp dụng Marketing dịch vụ vào hoạt động kinh doanh của BIDV trong những năm tiếp theo. - Nguyễn Thị Mơ (2012), Áp dụng 7P để giải quyết các vấn đề trong Marketing của Ngân hàng TMCP đầu tư và phát triển Việt Nam.
Bài viết phân tích môi trường bên trong và bên ngoài tác động tới BIDV và các giải pháp 7P để nâng cao chất lượng dịch vụ của BIDV. - Nguyễn Thị Thủy Ngân (2015), Luận văn giải pháp marketing cho vay hộ gia đình, cá nhân tại Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Chi nhánh tỉnh Kon Tum. Đề tài nghiên cứu thực trạng từ đó đưa ra các giải pháp Marketing sản phẩm cho vay hộ gia đình, cá nhân tại Agribank Kon Tum trong khoảng thời gian từ 2012-2014. Luan van 6 CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ MARKETING DỊCH VỤ 1.
KHÁI QUÁT CHUNG VỀ MARKETING DỊCH VỤ 1. Khái niệm về marketing dịch vụ a. Marketing Marketing là một quá trình quản lý mang tính xã hội, nhờ nó mà các cá nhân và các nhóm người khác nhau nhận được cái họ cần và mong muốn, thông qua việc cung cấp và trao đổi các sản phẩm có giá trị với những người khác. - Khái niệm của Hiệp hội Marketing Mỹ: “Marketing là quá trình lập kế hoạch và thực hiện kế hoạch đó, định giá, khuyến mãi và phân phối sản phẩm, dịch vụ và ý tưởng để tạo ra sự trao đổi nhằm thoả mãn các mục tiêu của cá nhân và tổ chức”[16].
Các hoạt động của Marketing từ việc lập kế hoạch, thực hiện các chính sách phân phối và thực hiện các dịch vụ khách hàng… nh m mục đích đưa ra được những sản phẩm phù hợp nhất, đáp ứng được nhu cầu của khách hàng và hơn hẳn các đối thủ cạnh tranh thông qua các nỗ lực marketing. - Khái niệm Marketing của Philip Kotler: “Marketing là hoạt động của con người hướng tới thoả mãn nhu cầu và ước muốn của khách hàng thông qua quá trình trao đổi” [17]. Hoạt động Marketing diễn ra trong tất cả các lĩnh vực trao đổi nh m hướng tới thỏa mãn nhu cầu với các hoạt động cụ thể trong lĩnh vực kinh doanh. Từ những khái niệm trên chúng ta có thể rút ra một vài nhận xét như sau: Marketing là tiến trình quản trị.
Marketing cần được xem là một bộ Luan van 7 phận chức năng trong tổ chức và cần có nhiều kỹ năng quản trị. Marketing cần hoạch định, phân tích, sắp xếp kiểm soát và đầu tư các nguồn lực vật chất và con người. Tuy nhiên, Marketing cũng cần có những kỹ năng thực hiện, động viên và đánh giá. Marketing giống như những hoạt động quản trị khác, có thể tiến hành hiệu quả, thành công nhưng cũng có thể kém cõi và thất bại.
Toàn bộ các hoạt động marketing hướng theo khách hàng. Marketing phải nhận ra và thỏa mãn những yêu cầu, mong muốn của khách hàng. Marketing bắt đầu những ý tưởng về sản phẩm thỏa mãn mong muốn và không dừng lại sau khi những mong muốn của khách hàng đã đạt được, mà vẫn tiếp tục sau khi thực hiện sự trao đổi. Marketing thỏa mãn nhu cầu của khách hàng một cách có hiệu quả và có lợi.
Một tổ chức không thể thỏa mãn tất cả mọi người trong một lúc, các nhà làm marketing đôi khi phải có sự điều chỉnh. Hiệu quả ở đây có ngụ ý là các hoạt động phải có sự phù hợp với khả năng nguồn lực của tổ chức, với ngân sách và với mục tiêu thực hiện của bộ phận Marketing. Marketing dịch vụ Dich vụ là mọi hành động và kết quả mà một bên có thể cung cấp cho bên kia và chủ yếu là vô hình và không dẫn đến quyền sở hữu một cái gì đó. Sản phẩm của nó có thể có hay không gắn liền với một sản phẩm vật chất.
Dịch vụ có 4 đặc điểm quan trọng ảnh hưởng rất lớn đến việc thiết kế các chương trình marketing: - Tính vô hình - Tính đồng thời - Tính không thể lưu trữ - Tính không ổn định Marketing dịch vụ được phát triển trên cơ sở thừa kế những kết quả của Marketing hàng hóa. Tuy nhiên, do những đặc điểm riêng của dịch vụ, hệ Luan van 8 thống Marketing Mix cho hàng hóa không hoàn toàn phù hợp với các tổ chức cung ứng dịch vụ. “Tiếp thị trong thế kỷ 21 không còn bó hẹp trong công thức 4P truyền thống nữa mà đã và đang mở rộng ra thêm 3P thành Công thức 7P. Những nỗ lực tiếp thị sẽ được tiếp thêm nhiều năng lực và đánh bại các đối thủ cạnh tranh với công thức mới này”[2].
Một khi doanh nghiệp đã xây dựng xong chiến lược tiếp thị, công thức 7P nên được sử dụng để liên tục đánh giá và tái đánh giá các hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp”. 7P bao gồm: - Product (Sản phẩm) - Price (Giá). Sự cần thiết của marketing trong lĩnh vực Ngân hàng Ngày nay, các Ngân hàng thương mại hoạt động trong sự biến động không ngừng của môi trường kinh doanh và sự cạnh tranh gay gắt giành thị trường cả trong và ngoài nước. Điều đó đòi hỏi các Ngân hàng phải có sự điều chỉnh hợp lý về hình thức hoạt động, tìm kiếm cơ hội kinh doanh và nâng cao vị thế cạnh tranh.
Marketing Ngân hàng giúp cho các Ngân hàng thực hiện tốt nhiệm vụ xác định được sản phẩm, dịch vụ mà Ngân hàng nên cung ứng ra thị trường, sau đó Marketing trở thành cầu nối gắn kết hoạt động của Ngân hàng với thị trường, và cuối cùng góp phần tạo dựng được vị thế cạnh tranh của Ngân hàng. Marketing tham gia giải quyết những vấn đề kinh tế cơ bản của việc kinh doanh Ngân hàng. Giống như các doanh nghiệp, các Ngân hàng cũng Luan van 9 phải lựa chọn và giải quyết những vấn đề kinh tế cơ bản của hoạt động kinh doanh. Thứ nhất, thông qua các hoạt động như tổ chức thu thập thông tin thị trường, nghiên cứu hành vi tiêu dùng, cách thức sử dụng sản phẩm dịch vụ và lựa chọn Ngân hàng của khách hàng, bộ phận Marketing giúp Ngân hàng xác định được sản phẩm dịch vụ mà Ngân hàng cần cung ứng ra thị trường.
Thứ hai, thông qua các chiến lược phát triển kỹ thuật công nghệ, chiến lược đào tạo nhân lực và chiến lược khách hàng phù hợp với từng Ngân hàng, Marketing giúp Ngân hàng tổ chức tốt quá trình cung ứng sản phẩm dịch vụ và hoàn thiện mối quan hệ trao đổi giữa khách hàng và Ngân hàng trên thị trường. Thứ ba, thông qua các hoạt động như: tham gia xây dựng và điều hành chính sách lãi, phí, kích thích hấp dẫn phù hợp với từng loại khách hàng, khuyến khích nhân viên phát minh sáng kiến, cải tiến hoạt động…, Marketing giúp giải quyết hài hòa mối quan hệ lợi ích giữa khách hàng, nhân viên và chủ Ngân hàng Marketing giúp Ngân hàng nhận biết được các yếu tố của thị trường, nhu cầu của khách hàng, về sản phẩm dịch vụ và sự biến động của chúng. Mặt khác, Marketing là một công cụ dẫn dắt hướng chảy của tiền vốn, khai thác khả năng huy động vốn, phân chia vốn theo nhu cầu của thị trường một cách hơp lý. Do đó, Marketing trở thành cầu nối gắn kết hoạt động của Ngân hàng với thị trường.