Chương 1: Cơ sở lý thuyết về marketing trong doanh nghiệp. - Chương 2: Thực trạng hoạt động marketing cho sản phẩm học tiếng Anh trực tuyến SRT tại Công ty cổ phần giáo dục Việt Nam – Canada. - Chương 3: Các giải pháp hoàn thiện hoạt động marketing đối với sản phẩm học tiếng Anh trực tuyến của Công ty Cổ phần Việt Nam – Canada. CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ HOẠT ĐỘNG MARKETING 1.1 Khái niệm marketing và nội dung hoạt động marketing trong doanh nghiệp Có nhiều khái niệm khác nhau về marketing, tuỳ thuộc vào hoàn cảnh thực tế và nhận thức khác nhau mà người ta có những cách định nghĩa marketing khác nhau.
Ngày nay, với sự phát triển của khoa học kỹ thuật, trình độ tổ chức quản lý, trình độ tiên tiến của nền công nghiệp hiện đại đã dẫn đến sự ra đời của marketing hiện đại. Theo quan điểm mới này, hoạt động marketing đã có bước phát triển mạnh cả về lượng và chất, giải thích một cách đúng đắn hơn ý nghĩa mà nó chứa đựng. Ta có thể tham khảo một số định nghĩa về marketing như sau: “Marketing là quá trình thực hiện các hoạt động nhằm đạt được các mục tiêu của tổ chức thông qua việc đoán trước các nhu cầu của khách hàng hoặc người tiêu thụ để điều khiển các dòng hàng hóa dịch vụ thoả mãn các nhu cầu từ nhà sản xuất tới các khách hàng hoặc người tiêu thụ” (Perreault and McCarthy, 2002, trang 18). Hay: “Marketing là một hệ thống tổng thể các hoạt động của tổ chức được thiết kế nhằm hoạch định, đặt giá, xúc tiến và phân phối các sản phẩm, dịch vụ, ý tưởng để đáp ứng nhu cầu của thị trường mục tiêu và đạt được các mục tiêu của tổ chức” (Hiệp hội Marketing Mỹ - AMA, trang 13).
Theo Philip Kotler (2007), chúng ta có thể hiểu marketing dưới hai góc độ: xã hội và quản trị. Theo định nghĩa dưới góc độ xã hội, marketing có thể hiểu là một quá trình xã hội, nhờ đó các cá nhân và các nhóm có được những gì họ có nhu cầu và mong muốn thông qua việc tạo ra, cung cấp và trao đổi những sản phẩm và dịch vụ có giá trị một cách tự do với những người khác. Còn dưới góc độ quản trị, marketing thường được miêu tả là “nghệ thuật bán các sản phẩm”. Theo Philip Kotler (2007), marketing không những là một môn nghệ thuật mà cũng là một môn khóa học của việc áp dụng các khái niệm marketing cốt lõi để lựa chọn thị trường mục tiêu, duy trì và phát triển khách hàng thông qua việc tạo ra, cung cấp và mang lại những giá trị tốt hơn cho họ.
Cũng thể nói, marketing là quá trình làm thỏa mãn nhu của khách hàng một cách hiệu quả hơn đối thủ cạnh tranh bằng cách. Phối hợp các bộ phận chức năng khác nhau trong doanh nghiệp, nhắm trọng tâm vào “khách hàng mục tiêu” thông qua việc sử dụng “Các mục tiệu, chiến lược và kê hoạch marketing”, được thực hiện bằng “hỗn hợp marketing”. Marketing thường được xem như một hoạt động của doanh nghiệp, nhưng thực ra nó không chỉ giới hạn trong lĩnh vực kinh doanh. Bất kỳ khi nào bạn muốn thuyết phục ai đó làm một điều gì, có thể là thuyết phục dân chúng thực hiện chính sách cải cách về lĩnh vực Giáo dục đào tạo, thuyết phục mua sản phẩm của doanh 5 nghiệp bạn, thì tức là bạn đã thực hiện hoạt động marketing.
Như vậy hoạt động marketing xảy ra trong mọi lĩnh vực đời sống xã hội, đối với các doanh nghiệp, các tổ chức văn hóa xã hội cũng như cơ quan nhà nước. Người thực hiện hoạt động marketing có thể là một doanh nghiệp kinh doanh, một doanh nghiệp công ích, một cơ quan, một đảng phái, một cá nhân. Sản phẩm đem ra marketing có thể là một hàng hóa, một dịch vụ, một địa điểm, một ý tưởng, một chương trình ứng cử. Thị trường mục tiêu không chỉ là người tiêu dùng trực tiếp sản phẩm, mà còn là những người ảnh hưởng đến quyết định tiêu dùng.
Marketing là một hoạt động rất rộng. Điều cốt lõi là các giao dịch hay trao đổi nhằm thỏa mãn một nhu cầu, mong muốn của con người. Marketing xuất hiện khi một đơn vị xã hội (con người hay một tổ chức) cố gắng trao đổi một giá trị với một đơn vị xã hội khác. Do đó xét trên phạm vi rộng hơn có thể thấy rằng: Marketing là các hoạt động được thiết kế để tạo ra và thúc đẩy bất kỳ sự trao đổi nào nhằm thỏa mãn những nhu cầu và mong muốn của con người.
Để hiểu được khách hàng, các đối thủ cạnh tranh,. các doanh nghiệp thường phải triển khai tiến hành nghiên cứu marketing. Theo hiệp hội marketing Mỹ, nghiên cứu marketing là quá trình thu thập và phân tích có hệ thống các thông tin (dữ liệu) về các vấn đề liên quan đến các hoạt động marketing sản phẩm và dịch vụ đó. Bản chất của nghiên cứu marketing là xác định một cách có hệ thống các tư liệu cần thiết do tình huống marketing đặt ra cho doanh nghiệp, thu thập, xử lý, phân tích chúng và báo cáo kết quả.
Điều quan trọng ở đây là thông tin phải được thu thập và phân tích một cách có hệ thống, tức là phải theo một trình tự logic nhất định, đồng thời phải đảm bảo tính chính xác, khoa học, phản ánh trung thực và thực tế. Nếu được thực hiện tốt, nghiên cứu marketing không chỉ hỗ trợ cho các quyết định chiến thuật và chiến lược marketing mà còn được dùng để xác định, giải đáp một vấn đề cụ thể mà doanh nghiệp đang gặp phải như: tìm hiểu phản ứng của người tiêu dùng về giá cả một sản phẩm dịch vụ nào đó, phản ứng của học viên về chất lượng đào tạo giảng dạy tại một trung tâm đào tạo nghề hay là hiệu quả của một chương trình quảng cáo khóa học trực tuyến,… Thị trường người tiêu dùng là thị trường bao gồm cá nhân và một nhóm người như hộ gia đình mua sản phẩm cho mục đích tiêu dùng cá nhân, gia đình. Như vậy, các quyết định mua của họ mang tính cá nhân, với mục tiêu phục vụ cho các nhu cầu của bản thân hoặc cho hộ gia đình. Nhờ tiêu dùng các sản phẩm khác nhau, con người đáp ứng được các nhu cầu cá nhân để tồn tại.
Mặt khác, cũng qua tiêu dùng, con người có thể thể hiện mình 6 trước con mắt của cộng đồng, đó là văn hóa tiêu dùng. Ta có thể thấy là các dân tộc, các tôn giáo khác nhau thì văn hóa tiêu dùng khác nhau. Người tiêu dùng khác nhau về tuổi tác, nghề nghiệp, mức thu nhập, trình độ học vấn và nhu cầu về thị hiếu, tâm lý,…Cùng với những tác động của các yếu tố môi trường khách sẽ hình thành nên văn hóa tiêu dùng của các nhóm khách hàng khác nhau, gọi là hành vi tiêu dùng. Mua không phải là hành động “trao tiền – nhận hàng” đơn giản của người tiêu dùng mà thực ra đó là một quá trình phức tạp liên quan đến trao đổi, với mục đích là thỏa mãn nhu cầu và ước muốn của người tiêu dùng.
Chúng ta có thể hiểu hành vi mua của người tiêu dùng như sau: Hành vi mua của người tiêu dùng là toàn bộ hành động mà người tiêu dùng bộc lộ ra trong quá trình trao đổi sản phẩm. Các hành động này có thể bao gồm: thu thập thông tin, chọn lựa, mua sắm, sử dụng, đánh giá về sản phẩm,… Chúng ta cũng có thể coi hành vi người tiêu dùng là cách thức mà người tiêu dùng đưa ra các quyết định sử dụng tài sản của mình (thời gian, tiền bạc, công sức,…) cho việc mua sắm và sử dụng sản phẩm, dịch vụ nhằm thỏa mãn những nhu cầu và mong muốn cá nhân. Theo Theo Philip Kotler (2007), quản trị Marketing phải bao gồm phân khúc thị trường, lựa chọn thị trường mục tiêu, định vị sản phẩm trên thị trường mục tiêu và chiến lược Marketing – Mix. Phân khúc thị trường là một thuật ngữ marketing được sử dụng rất rộng rãi hiện nay.
Nó được hiểu là việc chia thị trường thành nhiều nhóm riêng, mỗi nhóm là một tập hợp những khách hàng có điểm giống nhau đối với sản phẩm, dịch vụ hoặc phối thức marketing – mix của một doanh nghiệp nhất định. Lý do cho sự xuất hiện việc phân khúc thị trường là bởi nhu cầu thị trường quá rộng lớn, khách hàng quá đông, phân bố trên phạm vi rộng và có những sở thích, phong cách, thu nhập ở mức khác nhau. Không có một phương pháp phân khúc thị trường thống nhất nào, mà cần phải thử các phương án phân khúc khác trên cơ sở các tham biến như địa lý, nhân khẩu học, tâm lý và hành vi. Thị trường thường được phân khúc dựa trên 3 biến chính như sau: - Phân khúc theo vị trí địa lý: chia thị trường thành những đơn vị địa lý khác nhau như vùng, tỉnh thành, thành phố, xã huyện.
Cách phân khúc này được áp dụng khá nhiều vì dễ thực hiện và dễ đánh giá được nhu cầu, sở thích của từng phân khúc. - Phân khúc theo nhân khẩu học: độ tuổi, giới tính, học vấn, thu nhập, nghề nghiệp. Các biến nhân khẩu học là những yếu tố phổ biến nhất để làm cơ sở cho việc phân biệt nhóm người tiêu dùng. - Phân khúc theo nguyên tắc hành vi: phân chia thị trường theo các nhóm đồng nhất về các đặc tính như lý do mua hàng, lợi ích tìm kiếm, tình trạng người sử dụng, cường độ tiêu thụ, mức độ trung thành và thái độ đối với hàng hóa.
Hiệu quả của phương án phân khúc thị trường phụ thuộc vào việc các khúc thị 7 trường được phân để khảo sát đến mức độ nào, dễ sử dụng và phù hợp với những hoạt động được định hướng ở đó ra sao. Theo Theo Philip Kotler (2007) thì thị trường mục tiêu là một hoặc vài khúc thị trường mà doanh nghiệp lựa chọn và quyết định tập trung nỗ lực marketing vào đó nhằm đạt được mục tiêu kinh doanh của mình. Các tiêu chí để đánh giá các khúc thị trường được chọn bao gồm: - Quy mô và sự tăng trưởng: doanh số, mức lợi nhuận, sự biến động của doanh số, lợi nhuận theo thời gian. - Mức độ hấp dẫn về cơ cấu thị trường: mức độ cạnh tranh trong thị trường.
- Mục tiêu và nguồn lực của doanh nghiệp. Sau khi đánh giá về các phân khúc thị trường, doanh nghiệp sẽ tiến hành lựa chọn thị trường mục tiêu cho mình, có 5 phương án lựa chọn: - Tập trung vào một khúc duy nhất. Doanh nghiệp sẽ tập trung mọi nguồn lực để phục vụ cho một khúc thị trường mà họ đánh giá là phù hợp nhất.