Chương 1 TONG QUAN 1. Giới thiệu sơ lược về tôm thẻ chân trắng 1. Phan loại Giới (regnum): Animalia Nganh (phylum): Arthropoda Phan nganh (subphylum): Crustacea Lớp (class): Malacostraca B6 (ordo): Decapoda Phân bộ (subordo): Dendrobranchiata Ho (familia): Penaeidae Chi (genus): Litopenaeus Loai (species): Litopenaeus vannamei (Boone, 1931) 1. Dac diém sinh hoc Theo báo cáo của FAO (2009), tôm thẻ chân trang có nguồn gốc từ bờ biển Đông Thái Bình Dương từ Sonora, Mexico ở phía Bắc, qua Trung và Nam Mỹ đến tận phía Nam như Tumbes ở Peru, ở những khu vực có nhiệt độ nước thường lớn hơn 20°C quanh năm.
Penaeus vannamei song trong môi trường biên nhiệt đới. Đặc điểm sinh sản Con trưởng thành sống và đẻ trứng ở biển khơi, trong khi hậu ấu trùng di cư vào bờ để trải qua các giai đoạn vị thành niên, gần trưởng thành ở các cửa sông, đầm phá hoặc rừng ngập mặn ven biển. Con đực trưởng thành từ 20 g và con cái từ 28 g trở đi khi được 6 - 7 tháng tuổi. Tôm thẻ chân trắng nặng 30 - 45 g sẽ đẻ 100.000 trứng có đường kính khoảng 0,22 mm.
Quá trình nở xảy ra khoảng 16 giờ sau khi sinh sản và thụ tinh. Au trùng giai đoạn đầu tiên, được gọi là nauplius, bơi không liên tục. Nauplius không kiếm ăn mà sống dựa vào lượng noãn hoàng dự trữ của chúng. Các giai đoạn ấu trùng tiếp theo (zoea, mysis và hậu âu trùng sớm) vẫn là sinh vật phù du trong một thời gian, ăn thực vật phù du và động vật phù du, và được dòng thủy triều đưa vào bờ.
Hậu ấu trùng (PL) thay đối thói quen sinh vật phù du khoảng 5 ngày sau khi lột xác thành PL, di chuyền vào bờ và bắt đầu ăn giun, động vật hai mảnh vỏ và động vật giáp xác (FAO, 2009). Tình hình nuôi và xuất khẩu tôm thẻ chân trắng ở Việt Nam Theo Bộ nông nghiệp và phát triển nông thôn, trong năm 2022 diện tích tôm nước lợ thả nuôi đạt 747.000 ha, trong đó diện tích nuôi tôm thẻ chân trắng hơn 117.000 ha, sản lượng tôm thé chân trắng năm 2022 đạt hơn 743.000 tan, tăng hơn 11% so cùng kỳ năm 2021 và tăng hơn 14% so với năm 2020. Theo Vasep (2022), các thị trường tiêu thụ chính của Việt Nam là Mỹ, EU, Trung Quốc, Nhật Bản, Trung Quôc, Hàn Quéc và Australia. Sản lượng tôm thẻ chân trắng từ năm 2020 - 2022 1500000 1000000 0 Năm 2020 Năm 2021 Năm 2022 mTổng Tôm Thẻ Hình 1.
Biéu đồ Sản lượng tôm thẻ chân trắng từ năm 2020 — 2022 (Nguồn Bộ nông nghiệp và phát triển nông thôn năm 2022) 1. Giới thiệu sơ lược về tôm sú 1. Phần loại Giới (regnum): Animalia Ngành (phylum): Arthropoda Phan nganh (subphylum): Crustacea Lớp (class): Malacostraca Liên bộ (superordo): Eucarida Phân bộ (subordo): Dendrobranchiata Liên họ (superfamilia): Penaeoidea Ho (familia): Penaeidae Chi (genus): Penaeus Loai (species): Penaeus monodon (Fabricius, 1798) Hinh 1. Đặc điểm sinh học Theo báo cáo của FAO (2009), tôm sú chỉ trưởng thành và sinh sản trong các môi trường biên nhiệt đới và trải qua các giai đoạn ấu trùng, con non, con gần trưởng thành và trưởng thành ở các cửa sông, dam phá hoặc rừng ngập mặn ven biên.
Trong tự nhiên, chúng thê hiện hoạt động về đêm rõ rệt, chui vào lớp đáy vào ban ngày và nổi lên vào ban đêm dé tìm kiếm thức ăn như những loài kiếm ăn ở tầng đáy. Trong điều kiện tự nhiên, tôm sú là loài săn mỗi nhiều hơn là ăn tạp hay ăn xác thối hơn các loài tôm he khác. Sau khi lột xác, lớp vỏ mới vẫn còn mềm khiến tôm dễ bị ton thương và sau đó chúng có thể bị kẻ săn mỗi hoặc đồng loại ăn thịt. Con trưởng thành thường được tìm thấy trên cát bùn hoặc đáy cát ở độ sâu 20 - 50 m ở vùng biển xa bờ.
Đặc điểm sinh sản Con đực hoang da sở hữu tinh trùng từ khoảng 35 g trọng lượng cơ thể và con cái trở nên mang thai từ 70 g. Giao phối xảy ra vào ban đêm, ngay sau khi lột xác trong khi lớp biểu bì vẫn còn mềm, và tỉnh trùng sau đó được giữ trong một túi sinh tinh được đưa vào bên trong lycum đã đóng của con cái. Có năm giai đoạn trưởng thành buông trứng; chưa phát triển, đang phát triển; gần chín; chín mùi và thành thục. Tôm sú những con cái có khả năng sinh sản cao với những con cái mang thai sản xuất tới 500.
Sinh sản xảy ra vào ban đêm va quá trình thụ tinh diễn ra bên ngoài với những con cái đột ngột day tinh trùng ra khỏi lycum khi trứng được đẻ ở vùng biển xa bờ. Sự nở xảy ra 12 - 15 giờ sau khi thụ tinh. Au trung, duoc gọi là nauplii, dang boi tự do và trông giống như những con nhện thủy sinh nhỏ bé. Giai đoạn đầu tiên nảy trong quá trình phát triển của ấu trùng không ăn mà song bằng noãn hoàng dự trữ của nó và nhanh chóng trải qua sáu lần lột xác.
Các giai đoạn ấu trùng tiếp theo lần lượt là động vật nguyên sinh, mysis và hậu ấu trùng sớm (PL) van là sinh vật phù du trong một thời gian và được các dòng thủy triều đưa vào bờ. Động vật nguyên sinh, có các phần phụ có lông và cơ thể thon dài, lột xác ba lần và sau đó chuyên sang giai đoạn mysis. Mysis có cơ thé phân đoạn, cuống mắt và đuôi đặc trưng của tôm trưởng thành, đồng thời lột xác 3 lần trước khi biến thái thành tôm giống với các đặc điểm tương tự tôm trưởng thành. Sau đó PL 6 thay đối thói quen ăn mùn bã đáy, giun nhiều tơ và giáp xác nhỏ.
Giai đoạn con non và con trưởng thành có thé chịu được điều kiện độ mặn thấp tới 1 - 2%o (FAO, 2009). Tình hình nuôi và xuất khẩu tôm sú ở Việt Nam Theo báo cáo của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (2022), mặc dù đối mặt với những khó khăn về thời tiết, giá cả đầu vào tăng cao, dịch bệnh, song ngành tôm vẫn đạt được những kết quả phấn khởi. Diện tích nuôi tôm nước lợ trong năm đạt 747.000 ha, trong đó diện tích nuôi tôm sú 610.000 ha, sản lượng tôm nuôi các loại đạt trên 1 triệu tấn (tăng 8,5% so với năm 2021). Trong đó, sản lượng tôm sú đạt hơn 271.400 tân tăng 1,9% so với năm 2021 và tăng 2,9% so với năm 2020 là 263500 tan.
Kim ngạch xuất khẩu tôm tát cả các loại năm 2022, đạt 4,3 tỉ USD, đây cũng là mức tăng trưởng kỷ lục từ trước đến nay. Các thị trường tiêu thụ chính của Việt Nam: Mỹ, EU, Trung Quốc, Nhật Bản, Trung Quốc, Hàn Quốc và Australia (Vasep, 2022). Sản lượng tôm Sú từ năm 2020 - 2022 1200000 1000000 800000 600000 400000 0 Năm 2020 Năm 2021 Năm 2022 Tổng Tôm SU Hình 1. Biéu đồ Sản lượng tôm si từ năm 2020 — 2022 (Nguồn Bộ nông nghiệp và phát triển nông thôn năm 2022) 1.
Tình hình nghiên cứu vi bào tử trùng Enterocytozoon hepatopenaei (EHP) 1. Ngoài nước Vi bao tử trùng Enterocytozoon hepatopenaei (EHP) là tac nhân chính của bệnh nhiễm vi bao tử ở gan tuy hepatopancreas microsporidiosis (HPM) trên tôm nuôi (Khumaira Puspasari va ctv, 2022). Vi bao tử EHP được phát hiện trên tôm st cham lớn ở các trang trại nuôi tôm ở Thái Lan vào năm 2009 (Tourtip va ctv, 2009), An Độ năm 2016 (RaJendran và ctv, 2016) và Venezuela năm 2017 (Tang và ctv, 2017). Cỡ tôm bị bệnh EHP khi 50 - 70 ngày tuổi có trọng lượng 7 - 12 g/con và xảy ra ở nhiều loại độ mặn khác nhau (Somboon và ctv, 2012).
EHP thường được tìm thấy trong gan tụy của tôm và được báo cáo nhiễm ở tôm he Nhật Bản Penaeus japonicus tại Úc vào năm 2001 (Chayaburakul và ctv, 2004). Vị trí nhiễm của EHP được tìm thấy ở gan tuy tôm và có ảnh hưởng đến các loại tế bào biểu mô của ống gan gồm tế bao R, tế bào B và tế bao E (Tourtip và ctv, 2009). Các nghiên cứu sâu hơn cho thấy EHP có khả năng truyền ngang thông qua ăn thịt đồng loại và sống chung (Tang và ctv, 2016). Điều này làm cho sự lây lan của ký sinh trùng khó kiểm soát trong các ao bị nhiễm bệnh.
Mặc dù chưa tính đến thiệt hại kinh tế, nhưng chi phí sản xuất tăng cao do hệ số chuyên hoá thức ăn tăng cao, sản lượng thu hoạch thấp và thời gian nuôi kéo dài hơn. Aldama-Cano (2018), nghiên cứu thử nghiệm KMnO¿ và chlorine có khả năng làm giảm sự nay mầm của bào tử trong điều kiện phòng thí nghiệm. Trong nước Enterocytozoon hepatopenaei (EHP) cũng được bao cáo chính thức có liên quan đến WED ở tôm st Penaeus monodon và tôm chân trắng P. vannamei tại Việt Nam từ năm 2010, đã gây thiệt hai nghiêm trọng cho ngành nuôi trồng thuỷ san (Ha và ctv, 2010a; 2010b; 2013).
Ở khu vực Bắc Bộ, các nghiên cứu về bệnh EHP trên tôm nuôi chưa nhiều, chủ yếu là giám sát dich bệnh. Theo kết quả báo cáo tổng kết nhiệm vụ quan trắc, cảnh báo và giám sát môi trường vùng nuôi trồng thủy sản năm 2018 - 2019 tại một số tỉnh trọng điểm ở khu vực phía bắc tại 13 điểm thuộc 6 tỉnh là Nam Định, Nghệ An, Hà Tinh, Quang Bình, Quang Trị và Huế của Viện Nghiên cứu Nuôi trồng Thủy sản I cho thấy tôm nuôi bị nhiễm bệnh đốm trắng, hoại tử gan tụy cấp va vi bào tử từ tuần nuôi thứ 7. Theo thống kê tại phòng thí nghiệm bệnh Thủy sản của Học viện Nông nghiệp Việt Nam cho thấy các tỉnh Nam Định, Nghệ An, Thanh Hóa xuất hiện EHP thường xuyên, tuy nhiên đây mới là kết quả từ việc người dân gửi mẫu đến chan đoán, chưa có báo cáo kết quả tổng thể về tình hình dịch bệnh và thiệt hại của các tỉnh này. Ngoài ra, kết quả xét nghiệm cho thấy 38/60 mẫu sinh vật phù du (giáp xác, cua,.) dương tính với EHP.
Kết quả mô bệnh học cho thay có nhiều khối khu trú của vi bào tử trong khối gan tụy và cơ tôm. EHP có thé truyền ngang từ tôm nhiễm bệnh sang tôm khỏe và có thể truyền theo đường truyền dọc từ tôm mẹ sang ấu trùng tôm con từ giai đoạn Nauplius theo đường truyền dọc (Vũ Khắc Hùng, 2018). Theo báo cáo từ các địa phương (2019), bệnh EHP đã gây thiệt hại khoảng 272,54 ha (chiếm 4,35% tổng diện tích tôm bệnh) tại các địa phương: Hải Phong (223.55 ha), Quảng Ninh (34,8 ha), Hà Tĩnh (1,32 ha), Quảng Nam (0,35 ha) và Khánh Hòa (12,52 ha). Trong mùa khô năm 2019, khi kiểm tra 90 mẫu tôm sú giống ghi nhận 8 mẫu (8,89%) dương tinh với EHP.
Đối với tôm chân trắng giống khi kiểm tra 260 mẫu có 13 mẫu (5,0%) dương tính với EHP.