CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN CÁC GIẢI PHÁP VỀ HỆ THỐNG CAMERA GIÁM SÁT QUY MÔ LỚN CHO ĐÔ THỊ. CÁC MÔ HÌNH CAMERA GIÁM SÁT ĐÃ TRIỂN KHAI TRONG NƯỚC Các đô thị lớn như Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh đã bắt đầu triển khai các hệ thống camera giám sát cho lĩnh vực công cộng trên địa bàn thành phố. Các hệ thống này đã góp phần cải thiện công tác quản lý đô thị ở các lĩnh vực như: giám sát an ninh trật tự, giám sát giao thông và môi trường. Thành phố Hà Nội hiện nay đã lắp đặt khoảng 3000 camera giám sát an ninh trật tự trên địa bàn thành phố.
Về tổng thể, hệ thống camera được tổ chức theo mô hình như Hình 3. Theo đó, hệ thống truyền dẫn được kết nối trên các phương tiện truyền dẫn gồm: - Hệ thống truyền dẫn mạng đô thị của doanh nghiệp (Mạng WAN). - Hệ thống kết nối thông qua môi trường Internet. - Hệ thống kết nối nội bộ Intranet thông qua các kết nối LAN.
Mô hình kết nối các hệ thống camera tại thành phố Hà Nội 8 Thành phần của hệ thống bao gồm các thiết bị đầu cuối là các thiết bị camera (gồm các loại camera quay quét, cố định, camera góc rộng, camera trên điện thoại thông minh), hạ tầng lưu trữ (gồm các hệ thống điện toán đám mây, thiết bị lưu trữ chuyên dụng, các server lưu trữ), hạ tầng phục vụ công tác giám sát (hệ thống màn hình, phần mềm giám sát và chỉ huy). Bên cạnh việc tổ chức hạ tầng trang thiết bị, Thành phố Hà Nội đồng thời xây dựng các ứng dụng liên quan đến hệ thống camera như: ứng dụng camera giám sát (CCTV) phát hiện đám đông tụ tập, ứng dụng CCTV giám sát lưu lượng giao thông và hành vi giao thông. Thông qua kết nối mạng, trung tâm điều hành được cảnh báo và thực hiện các công tác điều phối hỗ trợ lực lượng giao thông và công an trong bảo đảm an toàn giao thông và an ninh trật tự. Mô hình hình giám sát được mô tả ở Hình 1.
Mô hình CCTV giám sát an ninh trật tự và giao thông Bên cạnh đầu tư của nhà nước, hệ thống camera còn tích hợp các camera, hệ truyền dẫn theo hình thức đầu tư xã hội hoá (do người dân đóng góp). Việc tích hợp vào hệ thống thông qua Internet và được tổ chức theo các mô hình sau: - Mô hình camera xã hội hoá 1: Đặt các thiết bị lưu trữ cục bộ (NVR) 9 tại nhà người dân và sử dụng đường Internet nhà người dân. Mô hình này được minh hoạ tại Hình 1. Mô hình camera xã hội hoá 1 - Mô hình camera xã hội hoá 2: Người dân hỗ trợ camera.
Thiết bị camera được kết nối đến các NVR bằng tuyến FTTH đặt tại trụ sở cơ quan công quyền, nhà văn hoá công cộng lân cận. Mô hình này được minh hoạ tại Hình 1. Mô hình camera xã hội hoá 2. Mô hình tổ chức hệ thống tại Trung tâm điều khiển tuân thủ các mô hình 10 như Hình 1.
Hệ thống trung tâm điều khiển được kết nối đến hạ tầng truyền dẫn Mạng WAN thông qua các tuyến cáp quang tốc độ từ 01 Gbps trở lên. Hệ thống server được phân chia thành hệ thống server ghi hình và server cài đặt các chương trình xử lý vi phạm, thiết bị điều khiển hiển thị và các máy tính nghiệp vụ để thực hiện quá trình cấu hình và quản trị. Mô hình hệ thống tại Trung tâm điều hành hệ thống CCTV 1. CÁC MÔ HÌNH CAMERA ĐÃ TRIỂN KHAI TRÊN THẾ GIỚI Hệ thống camera CCTV quy mô lớn cho các khu vực đô thị trên thế giới hiện nay đang được áp dụng rộng rãi và ứng dụng nhiều công nghệ mới.
Các hệ thống có thể phân chia thành hai loại cơ bản như sau: - Hệ thống camera giám sát cơ bản: Hệ thống CCTV chủ yếu phục vụ việc giám sát, lưu trữ; tỷ lệ ứng dụng các công nghệ xử lý ảnh để nhận dạng đối tượng còn thấp [10] [11]. - Hệ thống camera giám sát thông minh: ngoài các thành phần cơ bản (lưu trữ, truyền dẫn, phân phối video, quản lý dữ liệu), hệ thống này áp dụng các công nghệ nhận dạng, phân tích dữ liệu [12] [13]. Ngoài việc dựa trên nhu cầu của người sử dụng và công nghệ, các hệ 11 thống camera CCTV được xây dựng để bảo đảm tuân thủ các yêu cầu về bảo vệ quyền riêng tư cũng như yêu cầu cao về an toàn, bảo mật dữ liệu. Kiến trúc camera giám sát cơ bản Hầu hết kiến trúc về hạ tầng truyền dẫn và thiết bị đều tuân thủ kiến trúc như Hình 1.
Theo đó, các thành phần cơ bản của hệ thống bao gồm các hệ thống sau: - Hệ thống truyền dẫn; - Hệ thống thiết bị camera; - Hệ thống thiết bị mã hoá (encoder); - Trung tâm dữ liệu; - Hệ thống máy tính trạm tác nghiệp; - Hệ thống quản trị. - Hệ thống quản lý hiển thị hình ảnh thông qua hệ virtual matrix Hình 1. Kiến trúc hệ thống CCTV giám sát trên thế giới 12 1. Kiến trúc hệ thống camera giám sát thông minh Cùng với sự phát triển của công nghệ, một số thành phố hiện đại trên thế giới đã chuyển sang sử dụng hệ thống camera giám sát camer thông minh.
Theo đó, trên nền tảng các hạ tầng thiết bị cơ bản như camera, mạng truyền dẫn, media server v.v…, hệ hống camera được bổ sung các giải pháp (phần cứng hoặc phần mềm) có khả năng phân tích dữ liệu và xử lý ảnh để nhận dạng cá đối tượng. Việc sử dụng Hệ thống camera giám sát thông minh (intelligent video surveillance system, viết tắt là IVSS) hiện nay là xu hướng áp dụng ở các thành phố tiên tiến. Kiến trúc hệ thống camera thông minh gồm các thành phần cơ bản như mô tả ở Hình 1. Hệ thống gồm phân chia thành phần: - Thành phần ngoại vi; - Hệ xử lý phân tán (Geo Redundancy); - Hệ giám sát video trung tâm (VSHQ – video surveillance headquater).
Thành phần ngoại vi: - Camera giám sát video; - Camera IP; - Camera thông minh; - Thiết bị giám sát vô tuyến (WSSU – wireless self-contained surveillance unit); - Cảm biến; - Các cơ cấu điều khiển cục bộ (trục xoay camera, âm thanh cảnh báo, đèn tín hiệu, v. Như vậy, khác với kiến trúc hệ thống camera cơ bản, hệ thống camera thông minh xem các cảm biến là thành phần chính. Mặt khác, các camera 13 thông minh sẽ được sử dụng chủ yếu ở hệ thống này. Các camera thông minh là các camera ngoài khả năng thu thập video còn có khả năng xử lý ảnh và nhận dạng đối tượng trên camera, cũng như mã hóa và ký nhận thực các luồng video (nhằm bảo vệ khỏi bị đánh cắp thông tin).
Hệ thống cảm biến gồm nhiều loại cảm biến khác nhau, thông thường là các cảm biến âm thanh hoặc nhiệt, radar xác định khoảng cách, v.v… Tín hiệu cảm biến có tác dụng hỗ trợ để phân tích xác định các sự kiện do camera cung cấp cũng như cung cấp thêm các chiều dữ liệu giám sát khác (ngoài hình ảnh). Phân khối chức năng trong hệ thống phần mềm xử lý camera 14 1. SO SÁNH GIỮA MÔ HÌNH CAMERA GIÁM SÁT TRONG NƯỚC VÀ QUỐC TẾ Phần nghiên cứu tổng quan cho thấy hiện nay vẫn còn khoảng cách lớn giữa các mô hình hệ thống camera trong nước và hệ thống thế giới sử dụng. Cụ thể các điểm khác biệt như sau: Bảng 1-1.
So sánh hệ thống camera trong nước và quốc tế Hệ thống camera tại các đô thị lớn trong Hệ thống camera đang được áp dụng tại nước các nước tiên tiến - Thực hiện phân lớp quản lý các hệ thống - Thực hiện phân lớp quản lý các hệ thống camera ở lớp truyền dẫn: camera từ lớp truyền dẫn theo các hình thức: + Chưa phân lớp qua MPLS và VPN. + Phân lớp hệ thống camera ở Lớp 2 mô hình OSI bằng công nghệ VPN/MPLS. + Phân lớp qua Lớp 3 mô hình OSI qua cấu + Phân lớp hệ thống camera ở Lớp 3 bằng hình VLAN. công nghệ VLAN + Chưa có cấu trúc Media Server chuyên + Tuân thủ cấu trúc Media Server chuyên dụng.
Do đó chưa thể phân lớp cho hệ thống dụng. Qua đó có thể phân lớp cho hệ thống lớn ở lớp ứng dụng. + Hầu hết các server lưu trữ thực hiện luôn chức năng chuyển mạch video của Media + Phân định rõ chức năng lưu trữ và chức Server (Media Server sử dụng các giải pháp năng chuyển mạch video của Media Server. phần mềm thay cho thiết bị chuyên dụng).
- Chưa phân định rõ chức năng giữa Media - Phân định rõ chức năng giữa Media Server Server và Hệ quản trị Operator và Hệ quản trị Operator Manangement. - Trong kiến trúc có chức năng mã hoá truyền dẫn để quản lý nhóm camera đặc thù, - Trong kiến trúc chưa có chức năng mã hoá ưu tiên cao về an ninh thông tin. - Thiết lập các Virtual Matrix để quản lý việc hiển thị hình ảnh tại Trung tâm điều - Chưa thiết lập được các hệ Virtual Matrix khiển. để quản lý việc hiển thị hình ảnh tại Trung - Áp dụng kiến trúc Hệ thống camera thông tâm điều khiển.
minh theo hướng tích hợp cả hệ quản trị sensors vào hệ camera. - Chưa có kiến trúc hệ thống camera thông - Có kiến trúc nền tảng để xây dựng các ứng minh dụng phân tích hình ảnh và dữ liệu cảm biến. 15 CHƯƠNG 2 KHẢO SÁT VỀ HIỆN TRẠNG CÁC HỆ THỐNG CAMERA CÔNG CỘNG HOẠT ĐỘNG TẠI THÀNH PHỐ TAM KỲ. TỔNG QUAN Phạm vi khảo sát ở 04 hệ camera được áp dụng phổ biến gồm: - Hệ camera giám sát giao thông thành phố.
- Hệ camera an ninh trật tự do Công an thành phố quản lý. Trong tài liệu này, nhóm nghiên cứu gọi tắt là Hệ thống camera an ninh. - Hệ camera được tổ chức tại các khối cơ quan hành chính nhà nước như trụ sở các UBND quận, huyện, phường xã, v.v… Nhóm này được gọi tắt là Hệ thống camera hành chính. - Hệ camera xã hội hoá giám sát công cộng do người dân đóng góp.
Gọi tắt là Hệ thống camera xã hội hoá. Về phương pháp thực hiện, nhóm nghiên cứu thực hiện theo trình tự các bước như sau: - Khảo sát thực tế các hệ camera nêu trên. - Xử lý số liệu và phân tích số liệu. - Đánh giá từng hệ thống camera.
- Đánh giá toàn diện hệ thống camera trên địa bàn thành phố. KHẢO SÁT THỰC TẾ CÁC HỆ CAMERA Thực hiện khảo sát tại các địa điểm gồm: nơi đặt các hệ thống chính như truyền dẫn, lưu trữ và máy chủ quản lý; nơi đặt các điểm camera quan sát; thu thập các tài liệu kèm theo.