Mở đầu - Phần 2. Cơ sở lý luận và thực tiễn - Phần 3. Đối tƣợng, nội dung và phƣơng pháp nghiên cứu - Phần 4. Kết quả nghiên cứu - Phần 5.
Kết luận và kiến nghị e 5 PHẦN 2 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 2. Một số khái niệm 2. Tín dụng, vay vốn [13] Tín dụng là một phạm trù kinh tế và nó cũng là sản phẩm của nền kinh tế hàng hóa. Tín dụng ra đời, tồn tại qua nhiều hình thái kinh tế - xã hội.
Quan hệ tín dụng đƣợc phát sinh ngay từ thời kỳ chế độ công xã nguyên thủy bắt đầu tan rã. Khi chế độ tƣ hữu về tƣ liệu sản xuất xuất hiện, cũng là đồng thời xuất hiện quan hệ trao đổi hàng hóa. Thời kỳ này, tín dụng đƣợc thực hiện dƣới hình thức vay mƣợn bằng hiện vật - hàng hóa. Về sau, tín dụng đã chuyển sang hình thức vay mƣợn bằng tiền tệ.
Cho vay, còn gọi là tín dụng, là việc một bên (bên cho vay) cung cấp nguồn tài chính cho đối tƣợng khác (bên đi vay) trong đó bên đi vay sẽ hoàn trả tài chính cho bên cho vay trong một thời hạn thỏa thuận và thƣờng kèm theo lãi suất. Do hoạt động này làm phát sinh một khoản nợ nên bên cho vay còn gọi là chủ nợ, bên đi vay gọi là con nợ. Do đó, Tín dụng phản ánh mối quan hệ giữa hai bên - Một bên là ngƣời cho vay, và một bên là ngƣời đi vay. Quan hệ giữa hai bên ràng buộc bởi cơ chế tín dụng, thỏa thuận thời gian cho vay, lãi suất phải trả,.
Thực chất, tín dụng là biểu hiện mối quan hệ kinh tế gắn liền với quá trình tạo lập và sử dụng quỹ tín dụng nhằm mục đích thỏa mãn nhu cầu vốn tạm thời cho quá trình tái sản xuất và đời sống, theo nguyên tắc hoàn trả. Vay vốn là một giao dịch về tài sản giữa bên cho vay (ngân hàng và các định chế tài chính khác) và bên đi vay (cá nhân, doanh nghiệp, các chủ thể khác), trong đó bên cho vay chuyển giao tài sản cho bên đi vay sử dụng trong một thời hạn nhất định theo thỏa thuận, bên đi vay có trách nhiệm hoàn trả vô điều kiện vốn gốc và lãi cho bên cho vay khi đến hạn thanh toán. Khái niệm nông hộ. [12] Hộ gia đình (nông hộ) là đơn vị xã hội làm cơ sở cho phân tích kinh tế; các nguồn lực (đất đai, tƣ liệu sản xuất, vốn sản xuất, sức lao động,…) đƣợc góp thành vốn chung, cùng một ngân sách; cùng chung một mái nhà, ăn chung, mọi ngƣời đều hƣởng phần thu nhập và mọi quyết định đều dựa trên ý kiến chung của các thành viên ngƣời lớn trong hộ gia đình.
Bản chất tín dụng Tín dụng thể hiện mối quan hệ chuyển nhƣợng quyền sử dụng vốn giữa ngƣời sở hữu và ngƣời sử dụng. Bản chất của sự chuyển nhƣợng này là quan hệ xã hội giữa ngƣời cho vay và ngƣời đi vay. Do đó quan hệ giữa ngƣời cho vay và ngƣời đi vay nhƣ thế nào thì quan hệ tín dụng nhƣ thế ấy. Chẳng hạn trong nền kinh tế kế hoạch tập trung, quan hệ giữa ngƣời cho vay và đi vay chỉ là quan hệ điều hòa việc sử dụng vốn theo một kế hoạch do nhà nƣớc vạch sẵn thì quan hệ tín dụng ở đây chỉ là hình thức chứ không thực sự thể hiện quan hệ cân nhắc giữa chi phí và hiệu quả.
Ngƣợc lại, trong nền kinh tế thị trƣờng quan hệ giữa ngƣời cho vay và ngƣời đi vay là quan hệ chuyển nhƣợng quyền sử dụng vốn trên cơ sở so sánh giữa lợi nhuận và chi phí nên quan hệ ở đây hình thành trên cơ sở cân nhắc và tính toán cẩn thận giữa lợi ích thu đƣợc và chi phí sử dụng vốn. Vai trò của tín dụng 2. Góp phần thúc đẩy sản xuất và lưu thông hàng hóa phát triển. [10] - Nhờ nguồn vốn tín dụng, các doanh nghiệp, các hộ sản xuất kinh doanh không những đảm bảo quá trình sản xuất kinh doanh bình thƣờng mà còn mở rộng sản xuất, cải tiến kỹ thuật, đổi mới công nghệ, đảm bảo sự phát triển liên tục của sản xuất và lƣu thông hàng hóa.
- Trong quá trình hoạt động của các chủ thể kinh tế, tín dụng đã góp phần đẩy nhanh quá trình sản xuất và tiêu thụ hàng hóa, tạo điều kiện thuận e 7 lợi để duy trì mối quan hệ giữa sản xuất, lƣu thông hàng hóa và tiêu dùng xã hội. Chính vì vậy, tín dụng đã làm cho lƣu thông hàng hóa không những đƣợc mở rộng ở trong nƣớc mà còn ra thị trƣờng quốc tế. - Tín dụng góp phần điều chỉnh quy mô sản xuất kinh doanh, cơ cấu lại kinh tế của các doanh nghiệp, vùng và toàn bộ nền kinh tế quốc dân. Từ đó sẽ phát huy đƣợc năng lực sản xuất kinh doanh một cách tốt nhất.
- Tín dụng góp phần thúc đẩy quá trình tích tụ và tập trung vốn trong từng chủ thể sản xuất kinh doanh, trong từng ngành,… Từ đó tạo ra những doanh nghiệp, tập đoàn lớn, làm nòng cốt cho sự phát triển kinh tế của quốc gia. - Bên cạnh những tác động trên, tín dụng quốc tế còn làm cho quá trình chuyển giao công nghệ giữa các nƣớc thực hiện nhanh hơn. Nó góp phần làm cho các nƣớc chậm phát triển và đang phát triển trong một thời gian ngắn có thể có đƣợc một nền sản xuất với công nghệ cao, mà các nƣớc phát triển trƣớc đây có đƣợc nhƣ thế đã phải mất tới hàng trăm năm. Nhƣ vậy, tín dụng đã góp phần thúc đẩy sản xuất và lƣu thông hàng hóa phát triển nhanh chóng, đó là điều không thể phủ nhận.
Tín dụng là công cụ thực hiện chính sách kinh tế vĩ mô của nhà nước. [10] Vai trò này đƣợc thực hiện trên các phƣơng diện: - Nhà nƣớc thƣờng xuyên sử dụng tín dụng làm phƣơng tiện cân đối thu chi ngân sách nhà nƣớc, góp phần đảm bảo các nguồn lực tài chính để thực thi các chính sách kinh tế - xã hội. - Thông qua việc thay đổi và điều chỉnh các điều kiện và lãi suất tín dụng, Nhà nƣớc có thể thay đổi đƣợc quy mô tín dụng hoặc chuyển hƣớng vận động của nguồn vốn tín dụng. Nhờ đó mà có thể thúc đẩy hoặc hạn chế sự phát triển của một số ngành, phù hợp với định hƣớng phát triển kinh tế của nhà nƣớc.
e 8 - Nhà nƣớc sử dụng tín dụng để điều tiết lƣu thông tiền tệ, đảm bảo sự cân đối tiền hàng, ổn định giá cả hàng hóa. Nhƣ vậy, tín dụng vừa là nội dung, vừa là công cụ để thực thi chính sách tiền tệ quốc gia. - Nhà nƣớc sử dụng tín dụng làm công cụ thực thi các quan hệ hợp tác quốc tế, tranh thủ các nguồn lực tài chính từ bên ngoài để đầu tƣ phát triển kinh tế trong nƣớc. Tín dụng góp phần quan trọng vào việc làm giảm thấp chi phí sản xuất và lưu thông.
[10] - Thông qua hoạt động tín dụng, vốn trong nền kinh tế đƣợc luân chuyển nhanh, tức là làm tăng nhanh tốc độ lƣu thông tiền tệ. Từ đó giảm khối lƣợng phát hành vào lƣu thông, đồng nghĩa với việc giảm chi phí lƣu thông tiền tệ. - Bản thân chủ thể các quan hệ tín dụng phải tính toán cụ thể để hoạt động tín dụng đem lại lợi ích cao nhất và an toàn nhất. Động lực cạnh tranh trong nền kinh tế thị trƣờng thúc đẩy họ giảm đến mức thấp nhất chi phí kinh doanh, kể cả chi phí xử lý rủi ro.
Tín dụng là công cụ thực hiện chính sách xã hội và nâng cao đời sống dân cư. [10] Chính sách xã hội đƣợc thực hiện từ hai nguồn tài trợ không hoàn lại thƣờng bị hạn chế về quy mô và thiếu hiệu quả. Để khắc phục hạn chế này, Nhà nƣớc đã sử dụng phƣơng thức tài trợ có hoàn lại của tín dụng. Phƣơng thức tài trợ của tín dụng có vai trò sau: - Thông qua việc cho vay ƣu đãi đối với hộ nghèo, tổ chức kinh tế - xã hội, làm cho họ đƣợc đáp ứng đầy đủ và kịp thời nhu cầu vốn cho sản xuất hoặc tiêu dùng.
- Các hộ nông dân, cá nhân sử dụng tín dụng nhƣ là một trong các phƣơng tiện để cải thiện và nâng cao mức sống của mình. Thông qua việc vay vốn để đầu tƣ phát triển sản xuất nâng cao lợi nhuận và phân chia tỷ lệ giữa tích lũy và tiêu dùng hợp lý nhất. Hình thức tín dụng trong hộ nông dân Có rất nhiều các để phân loại hình thức tín dụng trong nền kinh tế hiện nay. Tùy theo tiêu thức phân loại mà tín dụng đƣợc phân thành nhiều loại khác nhau.
Căn cứ theo thời hạn tín dụng thì tín dụng đƣợc chia làm ba loại khác nhau: tín dụng ngắn hạn, tín dụng trung hạn và tín dụng dài hạn. + Tín dụng ngắn hạn: là loại tín dụng có thời hạn dƣới một năm và thƣờng đƣợc sử dụng để cho vay bổ xung thiếu hụt tạm thời vốn lƣu động và phục vụ cho nhu cầu sinh hoạt cá nhân. + Tín dụng trung hạn: là tín dụng có thời hạn từ 1 đến 5 năm, đƣợc cung cấp để mua sắm tài sản và đổi mới kỹ thuật, mở rộng xây dựng các công trình nhỏ có thời gian thu hồi vốn nhanh. + Tín dụng dài hạn: là loại có thơi hạn trên 5 năm, loại tín dụng này đƣợc sử dụng để cung cấp vốn xây dựng cơ bản, cải tiến và mở rộng sản xuất quy mô lớn.
Tín dụng trung hạn và dài hạn đƣợc đầu tƣ hình thành vốn cố định và một phần tối thiểu hoạt động sản xuất. Cơ cấu nguồn vốn và các phương thức huy động vốn trong nước 2. Cơ cấu nguồn vốn Hiện nay, nguồn vốn trong nƣớc tồn tại dƣới nhiều dạng khác nhau, nhƣng tựu chung lại có các loại: vốn ngân sách nhà nƣớc, vốn doanh nghiệp, vốn tín dụng ngân hàng và vốn tích lũy của dân cƣ. - Nguồn vốn ngân sách nhà nƣớc: Nguồn này đƣợc hình thành thông qua việc tiết kiệm của chính phủ.
Nói cách khác, phần tiết kiệm của chính phủ là phần tiết kiệm của ngân sách nhà nƣớc. Tiết kiệm của chính phủ thể hiện ở số chênh lệch giữa tổng số thu so với tổng số chi thƣờng xuyên của ngân sách nhà nƣớc. Về bản chất, đây là nguồn vốn của ngân sách nhà nƣớc chỉ cho phát triển kinh tế. e 10 - Nguồn vốn tự có của doanh nghiệp, bao gồm: doanh nghiệp nhà nƣớc, doanh nghiệp ngoài quốc doanh.
Nguồn này đƣợc hình thành từ phần tiết kiệm của doanh nghiệp, thể hiện ở phần lãi thuần đƣợc để lại dùng làm tăng vốn chủ sở hữu.