CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN LÝ THUYẾT VÀ CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN VỀ HUY ĐỘNG NGUỒN LỰC TRONG CHƯƠNG TRÌNH XDNTM 1. Các khái niệm trong nghiên cứu 1. Nông thôn và phát triển nông thôn 1. Nông thôn Có nhiều quan điểm khác nhau về nông thôn.
Có quan điểm cho rằng cần căn cứ vào trình độ”phát triển của cơ sở hạ tầng, vùng nông thôn có cơ sở hạ tầng kém hơn vùng đô thị. Quan điểm khác thì nên dựa vào trình độ tiếp cận thị trường, phát triển hàng hóa vì cho rằng nông thôn có trình độ sản xuất hàng hóa và khả năng tiếp cận thị trường so với đô thị là thấp hơn.” “Nông thôn là vùng có dân cư làm nông nghiệp là chủ yếu, tức là nguồn sinh kế chính của cư dân trong vùng là từ sản xuất nông nghiệp (Mai Thanh Cúc và cộng sự, 2005).”Theo Đặng Kim Sơn (2008), “Nông thôn là nơi ở, nơi cư trú của mọi tầng lớp nhân dân, trong đó chủ yếu là nông dân. Nông thôn là nơi nền sản xuất chủ yếu dựa vào nông nghiệp. Hay, nói cách khác, nông thôn là phần lãnh thổ không thuộc nội thành, nội thị các cấp tỉnh, thị xã, thị trấn và được quản lý bởi cấp hành chính cơ sở là UBND xã”.
Nguyễn Mậu Thái (2015) định nghĩa “Nông thôn là vùng sinh sống của tập hợp cư dân, trong đó có nhiều nông dân với sản xuất nông nghiệp chiếm tỷ trọng lớn. Sự khác biệt về công tác quản lý giữa nông thôn và thành thị trên thực tế, nông thôn với cấp quản lý xã, thôn, bản; còn thành thị với cấp quản lý phường, thị trấn”. Theo Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn (2009) thì nông thôn là phần lãnh thổ không thuộc nội thành, nội thị các thành phố, thị xã, thị trấn được quản lý bởi cấp hành chính cơ sở là UBND xã. Như vậy, có thể hiểu nông thôn là địa bàn sinh sống chủ yếu của người nông dân gắn với hoạt động sản xuất nông nghiệp là chính và được quản lý bởi chính quyền cấp xã.
TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail. Phát triển nông thôn Phát triển nông thôn là phát triển kinh tế xã hội cho người dân nông thôn thông qua việc sử dụng có hiệu quả các nguồn lực của địa phương bao gồm nhân lực, vật lực và tài lực.”Phát triển nông thôn là một chiến lược nhằm cải thiện các điều kiện sống kinh tế và xã hội của một nhóm người cụ thể - người nghèo ở vùng nông thôn. Nó giúp những người nghèo nhất trong những người dân sống ở các vùng nông thôn được hưởng lợi ích từ sự phát triển (Dufhues và Halle, 2007).” “Phát triển nông thôn là một quá trình cải thiện có chủ ý một cách bền vững về kinh tế, xã hội, văn hóa và môi trường, nhằm nâng cao chất lượng cuộc sống của người dân nông thôn. Quá trình này, trước hết là do chính người dân nông thôn và có sự hỗ trợ tích cực của Nhà nước và các tổ chức khác” (Mai Thanh Cúc và cộng sự, 2005).
Theo Nguyễn Quế Hương (2013) thì “phát triển nông thôn là một quá trình cải thiện có chủ ý một cách bền vững về kinh tế, xã hội, văn hóa và môi trường, nhằm nâng cao chất lượng cuộc sống của người dân nông thôn và có sự hỗ trợ tích cực của Nhà nước và các tổ chức khác. NTM và XDNTM 1. NTM NTM là khu vực nông thôn có kết cấu hạ tầng kinh tế xã hội từng bước hiện đại; cơ cấu kinh tế và các hình thức tổ chức sản xuất hợp lý, gắn nông nghiệp với phát triển nhanh công nghiệp, dịch vụ; gắn phát triển nông thôn với đô thị theo quy hoạch; xã hội nông thôn dân chủ, ổn định, giàu bản sắc văn hóa dân tộc; môi trường sinh thái được bảo vệ; an ninh trật tự được giữ vững; đời sống vật chất và tinh thần của người dân được nâng cao. NTM là tổng thể những đặc điểm,”cấu trúc tạo thành một kiểu tổ chức nông thôn theo tiêu chí mới, đáp ứng yêu cầu đặt ra cho nông thôn trong điều kiện hiện nay, là kiểu nông thôn được xây dựng tiên tiến về mọi mặt so với mô hình nông thôn cũ (Nguyễn Quế Hương, 2013).
Xã NTM là xã đáp ứng đầy đủ các tiêu chí trên các lĩnh vực là quy hoạch, hạ tầng kinh tế xã hội, kinh tế và tổ chức sản xuất, TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 8 văn hóa - xã hội - môi trường, hệ thống chính trị được quy định tại các văn bản pháp lý do cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành. Huyện NTM là huyện có tỷ lệ số xã trong huyện đạt chuẩn NTM và có các tiêu chí về quy hoạch, giao thông, thủy lợi, điện, y tế, văn hóa, giáo dục, sản xuất, môi trường, an ninh, trật tự xã hội và đạt chuẩn theo quy định tại các văn bản pháp lý do cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành (Chính phủ, 2009).” Như vậy, có thể hiểu NTM là nông thôn có hạ tầng kinh tế xã hội hiện đại, an ninh, văn minh; Sản xuất phát triển bền vững theo hướng kinh tế hàng hóa; Đời sống vật chất, tinh thần của người dân ngày được nâng cao; Bản sắc văn hóa dân tộc được giữ gìn và phát huy. XDNTM XDNTM”là quá trình xây dựng kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội, môi trường nông thôn nhằm nâng cao chất lượng cuộc sống người dân nông thôn, phát triển hài hòa, rút ngắn khoảng cách giữa thành thị với nông thôn. Quá trình xây dựng với vai trò chủ thể là người dân nông thôn và có sự hỗ trợ tích cực của Nhà nước và các tổ chức khác (Hoàng Vũ Quang, 2014).” XDNTM”là một chính sách về một mô hình phát triển cả về nông nghiệp và nông thôn, bao quát nhiều lĩnh vực, vừa đi sâu giải quyết nhiều vấn đề cụ thể, đồng thời giải quyết các mối quan hệ với các chính sách khác, các lĩnh vực khác trong sự tính toán, cân đối mang tính tổng thể (Đặng Kim Sơn, 2008).” XDNTM là cuộc vận động lớn để cộng đồng dân cư ở nông thôn đồng lòng xây dựng ấp, xã, gia đình của mình khang trang, sạch đẹp; phát triển sản xuất toàn diện (nông nghiệp, công nghiệp, dịch vụ); có nếp sống văn hoá, môi trường và an ninh nông thôn được đảm bảo; thu nhập, đời sống vật chất, tinh thần của người dân được nâng cao.
XDNTM giúp cho nông dân có niềm tin, trở nên tích cực, chăm chỉ, đoàn kết giúp đỡ nhau cùng phát triển, dân chủ, văn minh. Chương trình XDNTM là một chương trình mục tiêu quốc gia được thực hiện ở các vùng nông thôn nhằm xây dựng và phát triển nông thôn theo hướng văn minh, hiện đại. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 9 “Chương trình XDNTM bao gồm các nội dung chính sau đây: (1) Xây dựng và hoàn thiện quy hoạch phát triển KTXH tại các địa phương XDNTM; (2) Phát triển kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội ở các địa phương để tạo điều kiện thuận lợi cho phát triển kinh tế, xã hội, nâng cao thu nhập, giảm nghèo và an sinh xã hội; (3) Phát triển giáo dục đào tạo, y tế, xây dựng đời sống văn hóa văn minh, lành mạnh và hiện đại cho các vùng nông thôn; (4) Nâng cao chất lượng hoạt động của bộ máy chính quyền, các tổ chức đoàn thể chính trị - xã hội trên địa bàn, giữ vững an ninh, trật tự xã hội nông thôn,.; (5) Trong XDNTM, người dân tham gia từ khâu quy hoạch, đồng thời góp tiền, góp sức, tự chỉnh trang nhà cửa, công trình vệ sinh gia đinh, giám sát quá trình thực hiện chương trình,. đồng thời, cũng là người hưởng lợi từ thành quả của Chương trình và người dân là chủ thể XDNTM.
Nguồn lực tài chính thực hiện chương trình XDNTM 1. Khái niệm về nguồn lực tài chính Các nguồn lực cho phát triển kinh tế xã hội của địa phương gồm nguồn nhân lực, vật lực và tài lực. Mỗi nguồn lực đều có vai trò và ý nghĩa quan trọng trong việc phát triển kinh tế xã hội của địa phương. Trong các nguồn nêu trên, nguồn lực tài chính là nguồn lực quan trọng và có tính quyết định cho việc thực hiện mục tiêu phát triển kinh tế xã hội của địa phương.
“Nguồn lực tài chính được hiểu là các nguồn tiền tệ (hoặc tài sản có thể nhanh chóng chuyển thành tiền) trong nền kinh tế có thể huy động để hình thành nên các quỹ tiền tệ phục vụ mục tiêu phát triển kinh tế xã hội (Trần Thị Tố Linh, 2013).” “Nguồn lực tài chính là tổng thể các loại như: nguồn lực từ NSNN, nguồn lực từ các doanh nghiệp, nguồn lực từ các tổ chức tín dụng và nguồn lực từ người dân có thể huy động cho sự phát triển kinh tế xã hội của quốc gia hay địa phương.” Trong phạm vi nghiên cứu của luận văn, nguồn lực tài chính được đề cập đến ở đây bao gồm tiền, các nguồn vật lực và các tài sản khác được quy đổi thành tiền để thực hiện chương trình XDNTM. Phân loại nguồn lực tài chính “Nguồn lực tài chính cho phát triển kinh tế xã hội rất đa dạng, có thể đến từ TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 10 nhiều chủ thể, nhiều nguồn với qui mô và phạm vi khác nhau như từ các cá nhân, các doanh nghiệp, các cơ quan nhà nước, các tổ chức chính trị - xã hội, các tổ chức xã hội, nghề nghiệp, các tổ chức nước ngoài ở Việt Nam,…Tùy mục đích phân tích mà có thể phân loại các nguồn lực tài chính thành các loại khác nhau.” Có thể chia nguồn lực tài chính thành nguồn lực tài chính trong nước và nguồn lực tài chính nước ngoài. Nguồn lực tài chính từ trong nước bao gồm nguồn hỗ trợ từ ngân sách Trung ương, nguồn đối ứng trong nước, nguồn vốn lồng ghép trong các chương trình phát triển kinh tế (như các chương trình xóa đói giảm nghèo, thủy lợi nông nghiệp, nước sạch nông thôn, phát triển kinh tế vùng…), nguồn ngân sách địa phương và nguồn đóng góp của các tổ chức kinh tế, nhân dân địa phương và cả nước. Nguồn lực tài chính từ nước ngoài gồm:”đầu tư của các nhà tài trợ như Ngân hàng thế giới, các nhà tài trợ song phương, các tổ chức cơ quan của Liên Hiệp Quốc để thực hiện các chương trình xây dựng cơ sở hạ tầng nông thôn, các chương trình giảm đói nghèo…” Trên góc độ vĩ mô, nguồn lực tài chính có thể được chia theo chủ thể tham gia bao gồm: vốn nhà nước, vốn doanh nghiệp và vốn của dân cư.
“Nguồn vốn nhà nước: theo phân loại của thống kê nói chung, nguồn vốn này bao gồm vốn đầu tư từ ngân sách nhà nước (NSNN), các khoản vay, vốn của doanh nghiệp nhà nước và các nguồn vốn khác.