MỞ ĐẦU 1.1 Lý do chọn đề tài Sau 25 năm cùng với sự nghiệp đổi mới đất nước, hệ thống các Ngân hàng thương mại (NHTM) ở Việt Nam đã có những bước phát triển vượt bậc, lớn mạnh về mọi mặt, kể cả số lượng, qui mô, nội dung và chất lượng; đã có những đóng góp xứng đáng vào công cuộc công nghiệp hóa - hiện đại hóa nền kinh tế nói chung và quá trình đổi mới, phát triển của các thành phần kinh tế nói riêng; thực sự là ngành tiên phong trong quá trình đổi mới cơ chế kinh tế. Đặc biệt trong những năm qua, hoạt động ngân hàng (NH) nước ta đã góp phần tích cực huy động vốn, mở rộng vốn đầu tư cho lĩnh vực sản xuất phát triển, tạo điều kiện thu hút vốn nước ngoài để tăng trưởng kinh tế trong nước. Nghành NH đã xứng đáng là công cụ đắc lực hỗ trợ cho nhà nước trong việc kiềm chế, đẩy lùi lạm phát, ổn định giá cả. Nhìn nhận từ góc độ kinh tế vĩ mô hiện nay, nền kinh tế vẫn duy trì đà tăng trưởng, lạm phát có xu hướng giảm rõ rệt, nhập siêu giảm, dự trữ ngoại hối Nhà Nước ở mức cao, cán cân thanh toán thặng dư, thu ngân sách tăng lên, tiềm lực phát triển kinh tế ở thị trường nội địa khá lớn, môi trường đầu tư thuận lợi, chính trị - xã hội ổn định; chính sách tiền tệ thắt chặt nhưng được điều hành linh hoạt, các NHTM có khả năng đảm bảo an toàn hoạt động kinh doanh, lòng tin của nhân dân đối với VND cũng đã tăng lên.
Tuy nhiên, thị trường tài chính và mức độ liên kết của các ngân hàng trong nước với hệ thống tài chính quốc tế còn hạn chế, thị trường tiền tệ và hoạt động ngân hàng trong nước cũng chịu tác động ít nhiều từ những cuộc khủng hoảng tài chính – kinh tế ở Mỹ và trên thế giới. Trong hoạt động của Ngân hàng thì hoạt động TD là một trong những hoạt động tạo ra giá trị cho Ngân hàng. Hoạt động TD là nghiệp vụ chủ yếu của hệ thống NHTM ở nước ta, nó mang lại 70 - 80% thu nhập của mỗi Ngân hàng, song rủi ro của nó cũng là lớn nhất do việc chạy đua theo doanh số, mở rộng TD mà xem nhẹ chất lượng TD, đầu tư vào các dự án kém hiệu quả, các doanh nghiệp kinh doanh thua lỗ, lừa đảo…dẫn đến mất vốn, nợ tồn đọng cao, ảnh hưởng đến hiệu quả kinh doanh, khả năng cạnh tranh và uy tín của Ngân hàng. Rủi ro TD cao quá mức sẽ hủy hoại giá trị của Ngân hàng và có thể dẫn đến phá sản.
Do đó, đứng trước những thời cơ và thách thức của tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế thì vấn đề nâng cao khả năng cạnh tranh của các NHTM Việt Nam với các NHTM nước ngoài, mà trước mắt là nâng cao chất lượng TD, giảm thiểu rủi ro, đã trở SVTH: Bùi Hồng Vân 1 Hạn chế rủi ro tín dụng tại chi nhánh Agribank Văn Lâm nên cấp thiết đối với hệ thống NHTM Việt Nam nói chung và Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam (Agribank) nói riêng. Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam – ngân hàng quốc doanh duy nhất thuộc hệ thống NHTM Việt Nam được thành lập theo Nghị định số 53/HĐBT ngày 26/3/1988 của Hội đồng Bộ trưởng (nay là Chính phủ) về việc thành lập các ngân hàng chuyên doanh. Năm 2010, Agribank là Top 10 trong 500 doanh nghiệp lớn nhất Việt Nam. Thực thi Luật các tổ chức tín dụng năm 2010 và triển khai Nghị định số 59/2009/NĐ-CP của Chính phủ về tổ chức và hoạt động của Ngân hàng thương mại.
Năm 2010, HĐQT Agribank đã ban hành và triển khai Điều lệ mới về tổ chức và hoạt động của Agribank thay thế Điều lệ ban hành năm 2002. Cũng trong 2010, Agribank được Chính phủ cấp bổ sung 10.202,11 tỷ đồng, nâng tổng vốn điều lệ của Agribank lên 20.810 tỷ đồng, tiếp tục là Định chế tài chính có vốn điều lệ lớn nhất Việt Nam. Luôn tiên phong thực thi các chủ trương của Đảng, Nhà nước, chính sách tiền tệ của Ngân hàng Nhà nước, Agribank tích cực triển khai Nghị định số 41/2010/ NĐ-CP trên cơ sở tổng kết 10 năm thực hiện Quyết định số 67/1999/QĐ-TTg về Chính sách tín dụng phục vụ phát triển nông nghiệp, nông thôn, tiếp tục khẳng định vai trò chủ lực trong đầu tư cho nông nghiệp, nông thôn với tỷ trọng cho vay “Tam nông” luôn chiếm 70% tổng dư nợ toàn hệ thống. Năm 2010, Agribank chính thức vươn lên là Ngân hàng số 1 Việt Nam trong lĩnh vực phát triển chủ thẻ với trên 6,38 triệu thẻ, bứt phá trong phát triển các sản phẩm dịch vụ tiên tiến, đặc biệt là các sản phẩm thanh toán trong nước v.v… Ngày 28/6/2010, Agribank chính thức khai trương Chi nhánh nước ngoài đầu tiên tại Campuchia.
Agribank chính thức công bố thành lập Trường Đào tạo Cán bộ (tiền thân là Trung tâm Đào tạo) vào dịp 20/11/2010. 2010 cũng là năm Agribank tổ chức thành công Đại hội Đảng bộ lần thứ VIII (nhiệm kỳ 2010 – 2015), Hội nghị điển hình tiên tiến lần thứ III, Hội thảo toàn ngành lần thứ VI. Theo báo cáo kết quả kinh doanh hợp nhất của Agribank thì trong 6 tháng đầu năm 2011, ngoại trừ lãi thuần thu được từ hoạt động kinh doanh ngoại hối giảm sút so với cùng kỳ năm trước (riêng quý II giảm 45,7% so với quý II/2010) các khoản lãi thuần thu được từ các hoạt động còn lại đều tăng. Cụ thể, thu nhập từ lãi thuần đạt 11.623 tỷ đồng, tăng 69,14% so với 6 tháng đầu năm 2010, riêng quý II đạt 6.
Lãi từ hoạt động dịch vụ quý II đạt 325.5 tỷ đồng, lũy kế 6 tháng đạt 762 tỷ đồng, tăng 69,15% so với 6 tháng đầu năm 2010. Chi phí hoạt động 6 tháng đầu năm tăng 20,24% ở mức 4.733,3 tỷ SVTH: Bùi Hồng Vân 2 Hạn chế rủi ro tín dụng tại chi nhánh Agribank Văn Lâm đồng, chủ yếu tăng ở quý I, quý II chi phí hoạt động chỉ tăng 5,6% so với cùng kỳ năm 2010. Lợi nhuận thuần trước dự phòng rủi ro 6 tháng đạt 9.698,2 tỷ đồng tăng 81,5%; lợi nhuận trước thuế 6 tháng đạt 8.211,1 tỷ đồng, tăng 102,13% so với cùng kỳ năm 2010, riêng quý II đạt 3. Bên cạnh những con số đạt được vô cùng lớn như vậy cũng có những con số tuy nhỏ bé nhưng lại mang lại mối lo ngại cho nhiều ngân hàng tính đến thời điểm này, đó là: NỢ XẤU NGÂN HÀNG ngày càng gia tăng.
Theo số liệu của Ngân hàng Nhà nước, đến cuối tháng 7 tỷ lệ nợ xấu là 3,04% trên tổng dư nợ cho vay so với mức 2,16% cuối năm 2010. Mục tiêu Ngân hàng Nhà nước đề ra cho năm nay là trường hợp tệ nhất nợ xấu có thể chạm ngưỡng 5%. Bản thân mục tiêu này cũng cho thấy vấn đề nợ xấu có chiều hướng tiếp tục tăng. Báo cáo của Đảng ủy Khối Doanh nghiệp Trung ương hôm 8/9 cũng cho thấy nợ xấu đang gia tăng trong các ngân hàng vốn Nhà nước, cho dù nhóm này được đánh giá là đi đầu thị trường trong việc đảm bảo duy trì lãi suất huy động và cho vay hợp lý, góp phần kiềm chế lạm phát, ổn định thị trường.
Trong đó, Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam (Vietcombank) nợ xấu chiếm tới 3,47% tổng dư nợ. Tỷ lệ này tại Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam là 6,67%. Mới đây, việc 5 ngân hàng (ABBank, SeaBank, Vietinbank, Eximbank và Ngân hàng Phát triển Việt Nam) cho công ty TNHH An Khang (Cần Thơ) vay hơn 300 tỷ và đang khó thu hồi vốn, càng làm dấy lên lo ngại về nguy cơ nợ xấu. Trong 5 ngân hàng trên, ngoài ABBank đã thu hồi hết nợ thì chỉ duy nhất SeaBank công bố đầy đủ hồ sơ về tài sản thế chấp liên quan đến kho hàng, bất động sản, tức là có khả năng thu hồi được phần lớn khoản TD đã cấp.
Còn lại, các NH khác như Eximbank, VietinBank và Ngân hàng Phát triển Việt Nam khó thu hồi các món nợ hàng trăm tỷ đồng giải ngân dựa trên những chứng từ xuất nhập khẩu được xác minh ban đầu là không có giá trị. Vừa qua, tại hội thảo “Bất ổn kinh tế vĩ mô và tác động phúc lợi: Kinh nghiệm quốc tế và bài học đối với Việt Nam” vào ngày 29/06/2011 Phó Thống đốc Nguyễn Văn Bình cảnh báo rủi ro TD: “nguy cơ rủi ro TD và nợ xấu có xu hướng gia tăng do thị trường bất động sản biến động thất thường, tình trạng đầu cơ còn phổ biến, lãi suất vay TCTD tăng cao”. Trước tình hình cấp thiết đó, cộng với những kiến thức có được trong quá trình nghiên cứu thực tập tại Ngân hàng Văn Lâm em quyết định chọn tên đề tài “Hạn chế rủi SVTH: Bùi Hồng Vân 3 Hạn chế rủi ro tín dụng tại chi nhánh Agribank Văn Lâm ro TD tại Chi nhánh Ngân hàng NNo&PTNT Văn Lâm” để từ đó có nhận thức rõ hơn về tầm quan trọng của hoạt động TD đối với sự an toàn và vững mạnh của NHTM nói chung và NHNo&PTNT - chi nhánh Văn Lâm nói riêng.2 Mục tiêu nghiên cứu Hoạt động TD tạo ra giá trị cho Ngân hàng thông qua việc quản lý TD và quản lý danh mục cho vay thận trọng và xác đáng. Chất lượng TD có quan hệ mật thiết đến rủi ro trong hoạt động TD, nó ảnh hưởng quyết định đến tài sản có của Ngân hàng.
Chất lượng TD kém là nguyên nhân quan trọng dẫn đến phá sản của Ngân hàng. Câu hỏi đặt ra là chất lượng TD bị ảnh hưởng bởi những nhân tố nào và nguyên nhân dẫn đến rủi ro TD là gì ? Do đó mục tiêu nghiên cứu của đề tài này là làm rõ vai trò của hoạt động TD trong hoạt động kinh doanh của NHTM, tìm hiểu một số yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động TD Ngân hàng từ đó cho thấy tầm quan trọng của hoạt động TD, nguyên nhân dẫn đến rủi ro tín dụng và tìm các giải pháp phòng ngừa rủi ro tín dụng.1 Mục tiêu chung Phân tích, đánh giá hoạt động TD và cơ chế quản lý hoạt động TD của NHNNo&PTNT Văn Lâm. Trên cơ sở đó, đánh giá những mặt được, những vấn đề còn tồn tại, nguyên nhân của những tồn tại đó.