CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HẠN CHẾ NỢ XẤU TRONG CHO VAY CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1. RỦI RO TÍN DỤNG VÀ NỢ XẤU TRONG CHO VAY CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1. Rủi ro tín dụng trong cho vay của ngân hàng thương mại a. Hoạt động cho vay của ngân hàng thương mại - Khái niệm cho vay [16] Hoạt động của ngân hàng thương mại rất đa dạng như nhận tiền gửi, cấp tín dụng, hoạt động thanh toán, kinh doanh cung ứng các dịch vụ ngoại hối và sản phẩm phái sinh, góp vốn mua cổ phần, nghiệp vụ ủy thác, đại lý, dịch vụ quản lý tiền mặt, tư vấn tài chính…Trong đó, cấp tín dụng là việc thỏa thuận để tổ chức, cá nhân sử dụng một khoản tiền hoặc cam kết cho phép sử dụng một khoản tiền theo nguyên tắc có hoàn trả.
Ngân hàng thương mại cấp tín dụng cho các tổ chức, cá nhân dưới các hình thức sau: Cho vay; chiết khấu, tái chiết khấu các công cụ chuyển nhượng và giấy tờ có giá khác; bảo lãnh ngân hàng; phát hành thẻ tín dụng; bao thanh toán. Cho vay là một hình thức cấp tín dụng, theo đó tổ chức tín dụng giao cho khách hàng sử dụng một khoản tiền để sử dụng vào mục đích và thời gian nhất định theo thoả thuận với nguyên tắc có hoàn trả cả gốc và lãi. Thông qua hoạt động cho vay, ngân hàng thực hiện điều hòa vốn trong nền kinh tế dưới hình thức phân phối nguồn vốn tạm thời nhàn rỗi huy động được từ xã hội để đáp ứng nhu cầu về vốn phục vụ sản xuất kinh doanh và đời sống. - Phân loại cho vay [8]: * Phân loại theo thời hạn cho vay: Luan van 9 + Cho vay ngắn hạn: là loại cho vay có thời hạn dưới 1 năm.
Mục đích của loại cho vay này thường là nhằm tài trợ cho việc đầu tư vào tài sản lưu động. + Cho vay trung hạn: là loại cho vay có thời hạn từ 1 đến 5 năm. Mục đích của loại cho vay này thường là nhằm tài trợ cho việc đầu tư vào tài sản cố định. + Cho vay dài hạn: là loại cho vay có thời hạn trên 5 năm.
Mục đích của loại cho vay này thường là nhằm tài trợ cho việc đầu tư vào các dự án. * Phân loại theo phương thức cho vay: + Cho vay từng lần + Cho vay theo hạn mức tín dụng + Cho vay theo dự án đầu tư + Cho vay hợp vốn + Cho vay trả góp + Cho vay theo hạn mức tín dụng dự phòng + Cho vay thông qua nghiệp vụ phát hành và sử dụng thẻ tín dụng + Cho vay theo hạn mức thấu chi. * Phân loại theo mục đích cho vay: + Cho vay phục vụ sản xuất kinh doanh công thương nghiệp + Cho vay kinh doanh chứng khoán + Cho vay đầu tư kinh doanh bất động sản + Cho vay sản xuất nông nghiệp + Cho vay tiêu dùng… * Phân loại theo mức độ tín nhiệm đối với khách hàng: + Cho vay có bảo đảm bằng tài sản: là loại cho vay dựa trên các cơ sở bảo đảm cho tiền vay như thế chấp, cầm cố hoặc bảo lãnh của bên thứ 3. + Cho vay không có bảo đảm bằng tài sản: là loại cho vay không có tài sản bảo đảm cho tiền vay như thế chấp, cầm cố hoặc bảo lãnh của bên thứ 3.
Luan van 10 Ngân hàng cho vay chỉ dựa vào uy tín của bản thân khách hàng để xem xét cho vay. - Nguyên tắc vay vốn [8] + Sử dụng vốn đúng mục đích đã thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng. Đây là nguyên tắc cơ bản, nhằm đảm bảo hiệu quả sử dụng vốn vay và khả năng thu hồi vốn để hoàn trả cho ngân hàng. Vì chỉ có sử dụng vốn đúng mục đích thì khách hàng mới có thể thực hiện được dự án, phương án sản xuất kinh doanh đã được thẩm định với hiệu quả dự kiến, từ đó đảm bảo thu hồi được vốn như kế hoạch để hoàn trả nợ vay cho ngân hàng.
Nguyên tắc này nhằm hạn chế rủi ro đạo đức của khách hàng và giúp ngân hàng có cơ sở kiểm tra sử dụng vốn đối với khách hàng. + Vốn vay phải được hoàn trả đầy đủ cả vốn gốc và lãi vay theo đúng thời hạn đã cam kết trong hợp đồng tín dụng. Nguyên tắc này xuất phát từ tính chất tạm thời nhàn rỗi của nguồn vốn mà ngân hàng đang sử dụng để cho vay, nhằm đảm bảo khả năng thanh toán chi trả cho các ngân hàng thương mại và góp phần ổn định nguồn thu của ngân hàng. Rủi ro tín dụng trong hoạt động cho vay của ngân hàng thương mại - Khái niệm rủi ro tín dụng Rủi ro là những biến cố không mong đợi khi xảy ra dẫn đến tổn thất về tài sản của ngân hàng, giảm sút lợi nhuận thực tế so với dự kiến hoặc phải bỏ ra thêm một khoản chi phí để có thể hoàn thành một nghiệp vụ tài chính nhất định.
Rủi ro tín dụng là rủi ro mà các dòng tiền được hẹn trả theo hợp đồng (tiền lãi, tiền gốc, hoặc cả hai) từ các khoản cấp tín dụng và các chứng khoán đầu tư sẽ không được trả đầy đủ. Theo Quyết định 493/2005/QĐ-NHNN ngày 22/4/2005 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, rủi ro tín dụng trong hoạt động ngân hàng của tổ chức tín dụng được coi là khả năng xảy ra tổn thất trong hoạt động Luan van 11 ngân hàng của tổ chức tín dụng do khách hàng không thực hiện hoặc không có khả năng thực hiện nghĩa vụ của mình theo cam kết. - Phân loại rủi ro tín dụng [20] Căn cứ vào nguyên nhân phát sinh rủi ro, phân chia thành 2 loại: + Rủi ro khách quan: là rủi ro do các nguyên nhân khách quan gây nên như: thiên tai, dịch bệnh, chiến tranh, hỏa hoạn, người vay bị chết.dẫn đến thất thoát vốn vay, mặc dù ngân hàng và người đi vay đã thực hiện đúng và đầy đủ các quy định về quản lý và sử dụng vốn vay. + Rủi ro chủ quan: Là rủi ro thuộc về lỗi của ngân hàng hoặc người đi vay vì vô tình hoặc cố ý gây ra dẫn đến thất thoát vốn vay.
Đối với rủi ro chủ quan có thể khắc phục hoặc hạn chế nếu có những biện pháp hợp lý. Căn cứ vào tính chất của rủi ro tín dụng: + Rủi ro tín dụng đặc thù: là rủi ro tín dụng của một người vay cụ thể phát sinh do những kiểu đặc thù của rủi ro dự án mà người vay thực hiện. + Rủi ro tín dụng hệ thống: Là rủi ro tín dụng phát sinh do bối cảnh chung của nền kinh tế hoặc những điều kiện vĩ mô tác động lên toàn bộ các người vay như suy thoái, khủng hoảng kinh tế. - Đặc điểm của rủi ro tín dụng: + Rủi ro tín dụng có tính tất yếu: Rủi ro tín dụng luôn gắn liền với hoạt động hoạt động tín dụng của ngân hàng thương mại.
Khi thực hiện một hoạt động tài trợ cụ thể, ngân hàng luôn cố gắng phân tích các yếu tố của người vay sao cho độ an toàn là cao nhất. Tuy nhiên, khả năng hoàn trả tiền vay của khách hàng có thể thay đổi do nhiều nguyên nhân. Hơn nữa nhiều trường hợp khả năng phân tích tín dụng của cán bộ ngân hàng còn hạn chế, do vậy rủi ro tín dụng là điều không thể tránh khỏi, chỉ có thể phòng ngừa, hạn chế chứ Luan van 12 không thể loại trừ. + Rủi ro tín dụng có tính gián tiếp: Việc kiểm soát và quản lý nguồn vốn thường vượt khỏi tầm quản lý của ngân hàng do tiền đã chuyển cho khách hàng sử dụng.
Khả năng thu hồi vốn của ngân hàng không chỉ phụ thuộc vào chính ngân hàng mà chủ yếu phụ thuộc vào khách hàng. Rủi ro tín dụng xảy ra khi khi khách hàng gặp những khó khăn và tổn thất trong quá trình sử dụng vốn dẫn đến không trả được nợ cho ngân hàng. + Rủi ro tín dụng có tính đa dạng và phức tạp: Khách hàng của ngân hàng thuộc nhiều thành phần, nhu cầu tín dụng phục vụ cho nhiều lĩnh vực khác nhau với những đặc thù riêng và nguy cơ rủi ro khác nhau. Bên cạnh đó, rủi ro tín dụng còn có thể bị tác động của môi trường hoặc do chính ngân hàng gây ra.
Nợ xấu trong cho vay của ngân hàng thương mại a. Khái niệm nợ xấu Về phương diện lý thuyết, khái niệm nợ xấu dùng để chỉ các khoản nợ không có khả năng trả cả gốc lẫn lãi. Thông thường, một khoản cấp tín dụng mà thời gian chi trả quá hạn từ 3 tháng trở lên được xem là khoản nợ xấu. Bên cạnh tiêu chí thời gian quá hạn, những tiêu chí định tính khác cũng được các ngân hàng sử dụng kết hợp với thời gian quá hạn để phân loại nợ xấu.
* Theo định nghĩa của Phòng thống kê – Liên hiệp quốc: Một khoản nợ xấu được coi là nợ xấu khi quá hạn trả lãi và/ hoặc gốc trên 90 ngày; hoặc các khoản lãi chưa trả lãi từ 90 ngày trở lên đã được nhập gốc, tái cấp vốn hoặc trả chậm theo thỏa thuận; hoặc các khoản thanh toán đã quá hạn 90 ngày nhưng có lý do chắc chắn để nghi ngờ về khả năng khoản vay sẽ được thanh toán đầy đủ. Về cơ bản, nợ xấu được xác định dựa trên 2 yếu tố: (i) quá hạn trên 90 ngày và (ii) khả năng trả nợ nghi ngờ. Đây được coi là định nghĩa của Chuẩn Luan van 13 mực kế toán quốc tế (IAS) đang được áp dụng phổ biến hiện hành trên thế giới. Theo chuẩn mực báo cáo tài chính quốc tế (IFRS) và IAS 39 được Ủy ban Chuẩn mực kế toán quốc tế cho ra đời và khuyến cáo áp dụng ở một số nước phát triển vào đầu năm 2005, nợ xấu được xác định dựa trên khả năng hoàn trả của khoản vay bất luận thời gian quá hạn chưa tới 90 ngày hoặc chưa quá hạn.
Phương pháp đánh giá khả năng trả nợ của khách hàng thường là phương pháp phân tích dòng tiền tương lai hoặc xếp hạng khoản vay (hoặc xếp hạng khách hàng). Hệ thống này được coi là chính xác về mặt lý thuyết nhưng việc vận dụng trong thực tế gặp nhiều khó khăn.