Chương 1: Tổng quan về lưới phân phối và vấn đề chung về chất lượng điện năng. Chương 2: Các phương pháp xác định tổn thất điện năng và giải pháp giảm tổn thất điện năng trên lưới điện. Chương 3: Tính toán tổn thất điện năng trên lưới điện phân phối quận Hoàng Mai và đánh giá kinh tế một số giải pháp giảm tổn thất. Chương 4: Kết luận và kiến nghị.
TỔNG QUAN VỀ LƯỚI PHÂN PHỐI VÀ TỔN THẤT ĐIỆN NĂNG 1.1 Tổng quan về lưới phân phối 1.1 Khái niệm chung Hệ thống điện (HTĐ) bao gồm các nhà máy điện, trạm biến áp, các đường dây truyền tải và phân phối điện được nối với nhau thành hệ thống làm nhiệm vụ sản xuất, truyền tải và phân phối điện năng.[1,2] HTĐ phát triển không ngừng trong không gian và thời gian để đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng của phụ tải. Tùy theo mục đích nghiên cứu, HTĐ được phân chia thành các phần hệ thống tương đối độc lập nhau. Về mặt quản lý, vận hành HTĐ được phân thành: Các nhà máy điện do các nhà mát điện quản lý. - Lưới điện siêu cao áp (≥ 220kv) và trạm khu vực do các công ty truyền tải điện quản lý.
- Lưới điện truyền tải 110kv và phân phối do các công ty điện lực quản lý, dưới là các điện lực. Về mặt quy hoạch, lưới điện được phân thành 2 cấp: Lưới hệ thống bao gồm: - Các nguồn điện và lưới hệ thống ( 500, 220, 110kV) - Các trạm khu vực ( 500, 220, 110kV) được quy hoạch trong tổng sơ đồ. - Lưới phân phối ( U ≤ 35kV) được quy hoạch riêng. Về mặt điều độ chia thành 2 cấp: - Điều độ trung ương.
- Điều độ địa phương. Công tác điều độ bao gồm: - Điều độ các nhà máy thủy điện. - Điều độ các miền - Điều độ các điện lực Về mặt nghiên cứu, tính toán, HTĐ được phân chia ra thành: 1 - Lưới hệ thống 500kV - Lưới truyền tải (110, 220kV) - Lưới phân phối trung áp ( 6, 10, 22, 35kV) - Lưới phân phối hạ áp ( 0,4kV). Lưới phân phối là một bộ phận của hệ thống điện làm nhiệm vụ phân phối điện năng từ các trạm biến áp trung gian cho các phụ tải.
Lưới phân phối nói chung gồm 2 thành phần đó là lưới phân phối điện trung áp 6-35kV và lưới phân phối điện hạ áp 380/220 V hay 220/110 V.2 Vai trò của lưới trong hệ thống điện Do phụ tải ngày càng phát triển về không gian và thời gian với tốc độ ngày càng cao, vì vậy cần phải xây dựng các nhà máy có công suất lớn. Vì lý do kinh tế và môi trường, các nhà máy điện thường được xây dựng ở những nơi gần nguồn nhiên liệu, hoặc việc chuyên chở nhiên liệu thuận lợi, ít tốn kém, trong khi đó các trung tâm phụ tải lại ở xa do vậy phải dùng lưới truyền tải để truyền tải điện năng đến các phụ tải. Vì lí do kinh tế cũng như an toàn, người ta không thể cung cấp trực tiếp cho các phụ tải bằng lưới truyền tải, do vậy phải dùng lưới điện phân phối. Lưới điện phân phối thực hiện nhiệm vụ phân phối điện cho 1 địa phương(một thành phố, quận, huyện) có bán kính cung cấp điện nhỏ, dưới 50km.
Lưới phân phối có tầm quan trọng đặc biệt đối với hệ thống điện và mang nhiều đặc điểm đặc trưng: - Trực tiếp đảm bảo chất lượng điện cho các phụ tải. - Giữ vai trò rất quan trọng trong đảm bảo độ tin cậy cung cấp điện cho phụ tải. Có đến 98 % điện năng bị mất là do sự cố và ngừng điện kế hoạch lưới phân phối. Mỗi sự cố trên lưới phân phối đều có ảnh hưởng rất lớn đến sinh hoạt của nhân dân và các hoạt động kinh tế, xã hội.
- Sử dụng tỷ lệ vốn rất lớn: Nếu chia theo tỷ lệ cao áp, phân phối trung áp, phân phối hạ áp thì vốn đầu tư mạng cao áp là 1, mạng phân phối trung áp thường từ 1,5 đến 2,5 và mạng phân phối hạ áp thường từ 2 đến 2,5 lần. 2 - Xác suất sự cố: Sự cố gây ngừng cung cấp điện sửa chữa bảo dưỡng theo kế hoạch, cải tạo, đóng trạm mới trên lưới phân phối cũng nhiều hơn lưới truyền tải, khoảng (40 ÷ 50) % tổn thất xảy ra trên lưới phân phối. Lưới phân phối trực tiếp cung cấp điện cho các thiết bị điện nên nó ảnh hưởng trực tiếp đến tuổi thọ, công suất và hiệu quả của các thiết bị điện. Với các đặc điểm trên, việc nghiên cứu lưới phân phối rất phức tạp và đòi hỏi nhiều thông tin.3 Cấu trúc lưới phân phối Lưới phân phối gồm lưới phân phối trung áp và lưới phân phối hạ áp.
Lưới phân phối trung áp có cấp điện áp trung bình từ 6-35 kV, đưa điện năng từ các trạm trung gian tới các trạm phân phối hạ áp. Lưới phân phối hạ áp có cấp điện áp 380/220V hay 220/110V cấp điện trực tiếp cho các hộ tiêu thụ điện. Nhiệm vụ của lưới phân phối là cấp điện cho phụ tải với chất lượng điện năng trong giới hạn cho phép tức là đảm bảo để các phụ tải hoạt động đúng với các thông số yêu cầu đề ra. Về cấu trúc lưới phân phối thường là: Lưới phân phối hình tia không phân đoạn, Hình 1.1, đặc điểm của nó là đơn giản, rẻ tiền nhưng độ tin cậy thấp, không đáp ứng được các nhu cầu của các phụ tải quan trọng.
MC (1) 1 (2) 2 (3) 3 (4) 4 (5) 5 Pmax1 Pmax2 Pmax3 Pmax4 Pmax5 Hình 0. Lưới phân phối hình tia không phân đoạn Lưới phân phối hình tia có phân đoạn,Hình 1.2, là lưới phân phối hình tia được chia làm nhiều đoạn nhờ thiết bị phân đoạn là các dao cách ly, cầu dao phụ tải, hay máy cắt phân đoạn… các thiết bị này có thể thao tác tại chỗ hoặc điều khiển từ xa. Lưới này có độ tin cậy cao hay thấp phụ thuộc vào thiết bị phân đoạn và thiết bị điều khiển chúng. 3 MC (1) 1 (2) 2 (3) 3 (4) 4 (5) 5 Pmax1 Pmax2 Pmax3 Pmax4 Pmax5 Hình 0.
Lưới phân phối hình tia có phân đoạn Lưới điện kín vận hành hở, Hình 1.3, lưới này có cấu trúc mạch vòng kín hoặc 2 nguồn, có các thiết bị phân đoạn trong mạch vòng. Bình thường lưới vận hành hở, khi có sự cố hoặc sửa chữa đường dây người ta sử dụng các thiết bị đóng cắt để điều chỉnh hồ sơ cấp điện, lúc đó phân đoạn sửa chữa bị mất điện, các phân đoạn còn lại vẫn được cấp điện bình thường. MC (1) 1 (2) 2 (3) 3 (4) 4 (5) 5 Pmax1 Pmax2 Pmax3 Pmax4 Pmax5 (6) MC (11) 10 (10) 9 (9) 8 (8) 7 (7) 56 Pmax10 Pmax9 Pmax8 Pmax7 Pmax6 Hình 0. Lưới điện kín vận hành hở Sơ đồ lưới điện kín vận hành hở có độ tin cậy cao hơn các sơ đồ trước.
Về mặt nguyên tắc lưới có thể vận hành kín song đòi hỏi thiết bị bảo vệ, điều khiển phải đắt tiền và hoạt động chính xác. Vận hành lưới hở đơn giản và rẻ hơn nhiều.2 Tổng quan về tổn thất điện năng trên lưới điện phân phối 1.1 Hệ số công suất và sự điều chỉnh Hệ số công suất: Một phụ tải có tổng dẫn Y = G + jB được cung cấp bởi điện áp U, thì có dòng điện I chạy qua: I = U.1 ) Dòng điện I có thành phần tác dụng IR cùng pha với điện áp U và thành phần phản kháng IX vuông góc với U, góc pha giữa U và I là φ như hình 1. Giản đồ vectơ dòng điện và công suất Công suất biểu kiến 𝐒𝐒̇ = 𝑈𝑈.2) Vậy công suất biểu kiến có thành phần thực P và thành phần phản kháng Q. Quan hệ S, P, Q thể hiện Hình 1.
Xét tỷ lệ: 𝑃𝑃 = 𝐶𝐶𝐶𝐶𝐶𝐶𝐶𝐶 (1.3) 𝑆𝑆 Với cos𝜑𝜑 là hệ số công suất. Vậy hệ số công suất là hệ số biểu thị sự chuyển đổi công suất biểu kiến sang các dạng năng lượng hữu ích khác, với: 𝑆𝑆 = �𝑃𝑃2 + 𝑄𝑄2. Có thể thấy hệ số công suất cos𝜑𝜑 phụ thuộc vào công suất phản kháng Q và có thể điều chỉnh hệ số công suất trong vận hảnh hệ thống điện. Nguyên tắc điều chỉnh hệ số công suất dựa vào bù CSPK, tức là cung cấp tại chỗ bằng cách nối song song tải 𝑺𝑺̇ = P +jQ với một thiết bị bù có tổng dẫn phản kháng đơn thuần (-jBc).
Dòng điện cung cấp tổ hợp tải và thiết bị bù là: 𝐈𝐈̇ = 𝑈𝑈.4) Công suất biểu kiến: 𝐒𝐒̇ = U2.5) Hệ số công suất ban đầu : 𝑃𝑃 𝐶𝐶𝐶𝐶𝐶𝐶 𝜑𝜑1 = (1.6) �𝑃𝑃2 + 𝑄𝑄2 Hệ số công suất sau điều chỉnh : 𝑃𝑃 𝑐𝑐𝑐𝑐𝑐𝑐𝜑𝜑2 = (1.7) �𝑃𝑃2 +(𝑄𝑄−𝑄𝑄𝑐𝑐 )2 Việc điều chỉnh hệ số công suất được minh họa như Hình 1. Giản đồ vectơ điều chỉnh hệ số công suất 1.2 Tổn thất trong quá trình phân phối điện năng [1] Tổn thất theo nghĩa đơn giản là sự hao hụt về trị số của một quá trình. Khi có dòng điện đi qua lưới cung cấp (gồm các phần tử chính: đường dây, máy biến áp,…), trên các phần tử này có tổn thất điện năng (TTĐN) làm cho điện năng đầu nguồn lớn hơn điện năng phụ tải yêu cầu. Tổn thất điện được tính bằng hiệu số của điện sản xuất ra và điện tiêu thụ (điện thương phẩm).
Tỷ lệ tổn thất là số % của điện tổn thất so với điện sản xuất. TTĐN trong lưới điện tính toán trong khoảng thời gian T chính là hiệu giữa điện năng đầu nguồn và điện năng phụ tải được xác định bởi hệ thống đo đếm điện năng tại các điểm đo đếm ranh giới của lưới điện đó và tại các hộ tiêu thụ. Thời gian xác định TTĐN thông thường là 1 năm (T=8760 giờ).8) Trong đó: ∆A: Tổn thất điện năng trên lưới điện đang xét (kWh) 𝐴𝐴𝑛𝑛𝑛𝑛 : Lượng điện năng đầu nguồn lưới điện (kWh) 𝐴𝐴𝑝𝑝𝑝𝑝 : Lượng điện năng đo được tại phụ tải (kWh) Tổn hao máy biến thế nâng áp, máy biến áp (MBA) tự dùng thuộc các công ty phát điện quản lý không tính vào TTĐN lưới điện. Điện tự dùng tại các trạm biến áp (TBA) là điện năng tiêu thụ trong TBA phục vụ vận hành lưới điện, bao gồm điện dùng cho hệ thống thông tin, điều khiển, bảo vệ, điều hòa, chiếu sáng lắp đặt trong trạm, kể cả các thiết bị bù tại 6 trạm.
Và nó là điện năng thương phẩm, được hạch toán vào chi phí quản lý của đơn vị quản lý, không tính vào TTĐN lưới điện.3 Các nguyên nhân gây ra tổn thất điện năng trên lưới điện phân phối và phân loại tổn thất điện năng.