Chương 1: Giới thiệu chung + Chương 2: Tổng quan về bài toán giảm tổn thất điện năng của lưới điện và các trạm công cộng + Chương 3: Đánh giá tổn thất điện năng của lưới điện phân phối và các trạm công cộng tại Công ty Điện lực Gia Định + Chương 4: Nghiên cứu và đề xuất các giải pháp giảm tổn thất điện năng cho các trạm công cộng tại Công ty Điện lực Gia Định + Chương 5: Kết luận và hướng phát triển tương lai 5 CHƯƠNG 2 TỔNG QUAN VỀ BÀI TOÁN GIẢM TỔN THẤT ĐIỆN NĂNG CỦA LƯỚI ĐIỆN VÀ CÁC TRẠM CÔNG CỘNG 2. Giới thiệu Hệ thống điện (HTĐ) bao gồm các nhà máy điện, trạm biến áp, các đường dây truyền tải và phân phối điện được nối với nhau thành hệ thống làm nhiệm vụ sản xuất, truyền tải và phân phối điện năng. HTĐ phát triển không ngừng trong không gian và thời gian để đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng của phụ tải. Tùy theo mục đích nghiên cứu, HTĐ được phân chia thành các phần hệ thống tương đối độc lập nhau.
* Về quản lý, vận hành, HTĐ được phân thành: - Các nhà máy điện do các nhà máy điện quản lý. - Lưới điện siêu cao áp ( 220 kV) và trạm khu vực do các công ty truyền tải điện quản lý. - Lưới truyền tải 110 kV và phân phối do các công ty điện lực quản lý, dưới nó là các điện lực. * Về mặt quy hoạch, lưới điện được phân thành hai cấp: - Lưới hệ thống bao gồm: + Các nguồn điện và lưới hệ thống (500, 220, 110 kV).
+ Các trạm khu vực (500, 220, 110 kV) được quy hoạch trong tổng sơ đồ. - Lưới phân phối ( 35 kV) được quy hoạch riêng. * Về mặt điều độ chia thành hai cấp: - Điều độ trung ương. - Điều độ địa phương.
Công tác điều độ bao gồm: + Điều độ các nhà máy điện. + Điều độ các điện lực. * Về mặt nghiên cứu, tính toán, HTĐ được phân chia ra thành: - Lưới hệ thống 500 kV. - Lưới truyền tải (35, 110, 220 kV).
- Lưới phân phối trung áp (6, 10, 15, 22, 35 kV). - Lưới phân phối hạ áp (0,4 kV, 0,22 kV). 6 Trong đó, lưới 35 kV được dùng cho cả lưới phân phối và truyền tải. Do phụ tải ngày càng phát triển về không gian và thời gian với tốc độ ngày càng cao, vì vậy cần phải xây dựng các nhà máy có công suất lớn.
Vì lý do kinh tế và môi trường, các nhà máy điện thường đuợc xây dựng ở nơi gần nguồn nhiên liệu hoặc việc chuyên chở nhiên liệu thuận lợi, ít tốn kém; trong khi đó các trung tâm phụ tải lại ở xa, do vậy phải dùng lưới truyền tải để truyền tải điện năng đến các hộ phụ tải. Vì lý do kinh tế cũng như an toàn, người ta không thể cung cấp trực tiếp cho các phụ tải bằng lưới truyền tải, do vậy phải dùng lưới điện phân phối. Sơ đồ đơn tuyến hệ thống phân phối như Hình 2. Trạm trung gian Đường dây truyền tải trung gian Trạm phân phối Mạng phân phối sơ cấp MBA phân phối Mạng phân phối thứ cấp Hình 2.
Sơ đồ đơn tuyến hệ thống phân phối Lưới điện phân phối thực hiện nhiệm vụ phân phối điện cho một địa phương (một thành phố, quận, huyện…) có bán kính cung cấp điện nhỏ, dưới 50 km. Lưới điện phân phối nhận điện từ các trạm phân phối khu vực bao gồm: + Lưới điện có các cấp điện áp 110/35 kV; 110/22 kV; 110/15 kV; 110/10 kV và 110/6 kV. + Hay lưới điện có các cấp điện áp 35/6 kV; 35/10 kV; 35/15 kV; 35/22 kV. Phương thức cung cấp điện của lưới phân phối có hai dạng: Phân phối theo một cấp điện áp trung áp - Trạm nguồn có thể là trạm nâng áp của các nhà máy địa phương hoặc trạm 7 phân phối khu vực có dạng CA/TA (110/35; 22; 15; 6 kV).
- Trạm phân phối có dạng TA/HA (35; 22; 15; 6/0,4 kV) nhận điện từ trạm nguồn qua lưới trung áp, từ đó điện năng được phân phối đến hộ phụ tải qua mạng hạ áp. Phân phối theo hai cấp điện áp trung áp - Trạm nguồn thông thường là trạm nâng áp của nhà máy địa phương hoặc trạm phân phối khu vực có dạng CA/TA (110 kV/35 kV) hoặc TA1/TA2 (35/22; 15; 10; 6 kV). - Trạm phân phối trung gian có dạng trung áp 1/trung áp 2 (TA1/TA2). - Trạm phân phối hạ áp có dạng 22; 15; 10; 6/0,4 kV.
- Mạng phân phối 1 ứng với cấp điện áp phân phối 1; mạng phân phối 2 ứng với cấp điện áp phân phối 2. Bên cạnh đó, cũng có hình thức hỗn hợp của cả hai phương thức với trạm nguồn có ba cấp điện áp CA/TA1/TA2 (110/35/22; 15; 6 kV). Mạng phân phối có ảnh hưởng lớn đến các chỉ tiêu kinh tế kỹ thuật của toàn hệ thống, cụ thể là: * Chất lượng cung cấp điện: ở đây là độ tin cậy cung cấp điện và độ dao động của điện áp tại hộ phụ tải. * Tổn thất điện năng: thông thường tổn thất điện năng ở lưới phân phối lớn gấp 3 đến 4 lần so với tổn thất điện năng ở lưới truyền tải.
* Giá đầu tư xây dựng: nếu chia theo tỉ lệ cao áp, phân phối trung áp, phân phối hạ áp thì vốn đầu tư mạng cao áp là 1, mạng phân phối trung áp thường từ 1,5 đến 2 lần và mạng phân phối hạ áp thường từ 2 đến 2,5 lần. * Xác suất sự cố: sự cố gây ngừng cung cấp điện sửa chữa bảo dưỡng theo kế hoạch, cải tạo, đóng trạm mới lên lưới phân phối cũng nhiều hơn lưới truyền tải. Với các đặc điểm trên, việc nghiên cứu lưới phân phối rất phức tạp và đòi hỏi nhiều thông tin. Lưới điện phân phối của Việt Nam Ở Việt Nam, do lịch sử phát triển lưới điện của các miền khác nhau, lưới điện phân phối tồn tại nhiều cấp điện áp khác nhau như 6; 10; 15; 22; 35 kV.
- Lưới điện phân phối miền Bắc hiện nay tồn tại các cấp điện áp 35; 10; 6 kV. 8 - Lưới điện phân phối miền Nam tồn tại 4 cấp điện áp: 6; 10; 15; 35 kV. - Lưới điện phân phối miền Trung tồn tại 4 cấp điện áp: 6; 10; 15; 35 kV. Từ năm 1993, Bộ năng lượng có quyết định số 149NL/KHKT ngày 24/03/1993 chuyển đổi các cấp điện áp trung áp về 22 kV.
Do vậy, hiện nay cả ba miền còn có thêm cấp 22 kV, ở một vài khu vực đã cải tạo hoặc xây dựng mới từ vốn đầu tư nước ngoài. Nhìn chung, hiện nay lưới điện phân phối của Việt Nam có rất nhiều cấp điện áp phân phối với phương thức cấp điện hỗn hợp cả hai mô hình: một cấp điện áp phân phối và hai cấp điện áp phân phối. Việc phát triển lưới điện có tính chắp vá do khó khăn về tiền vốn, phụ tải phát triển nhanh và chưa có quy hoạch tổng thể, do vậy chất lượng cung cấp điện kém (sụt áp lớn, tổn thất cao và sự cố nhiều). Các đường dây quá dài, mang tải lớn vượt khả năng của cấp điện áp đang sử dụng.
Ngoài ra, các thiết bị điện vận hành trên lưới cũng như phụ tải chưa có quy định về các chỉ tiêu kỹ thuật để nâng cấp chất lượng lưới như: các thông số kỹ thuật, hiệu suất thiết bị, phụ tải điện chưa có quy định về hệ số công suất, chế độ làm việc, số lượng sóng hài cũng như chưa có chương trình quản lý phụ tải, dẫn đến chất lượng cung cấp kém. Do vậy, việc nghiên cứu tổng thể về lưới điện phân phối là rất cần thiết. Trong đó, việc nghiên cứu để giảm tổn thất công suất, giảm tổn thất điện năng, cải thiện điện áp, hệ số công suất, hạn chế các dao động điện áp lớn đang được ngành điện quan tâm. Đặc điểm chung của lưới điện phân phối Lưới điện phân phối có một số đặc điểm chung như sau: * Chế độ vận hành bình thường của lưới phân phối là vận hành hở, hình tia hoặc dạng xương cá.
Để tăng cường độ tin cậy cung cấp điện có thể sử dụng cấu trúc mạch vòng nhưng vận hành hở. * Trong mạch vòng các xuất tuyến được liên kết với nhau bằng dao cách ly hoặc thiết bị nối mạch vòng. Các thiết bị này vận hành ở vị trí mở, trong trường hợp cần sửa chữa hoặc sự cố đường dây điện thì việc cung cấp điện không bị gián đoạn lâu dài nhờ việc chuyển đổi nguồn cung cấp bằng thao tác đóng cắt dao cách ly phân đoạn hay tự động chuyển đổi nhờ các thiết bị nối mạch vòng. 9 * Phụ tải của lưới phân phối đa dạng và phức tạp, nhất là ở Việt Nam các phụ tải sinh hoạt và dịch vụ, tiểu thủ công nghiệp đa phần cùng trong một hộ phụ tải.
So với mạng hình tia, mạng mạch vòng có chất lượng điện tốt hơn, đó chính là lý do tồn tại của mạch vòng, song lại gây phức tạp về vấn đề bảo vệ rơle. Cấu trúc mạch vòng chỉ thích hợp cho những mạng TA/HA có công suất lớn và số lượng trạm trên mạch vòng ít. Mặt khác, cùng với một giá trị đầu tư thì hiệu quả khai thác mạch vòng kín so với mạch hình tia thấp hơn. Ngoài ra, chất lượng phục vụ của mạng hình tia đã liên tục được cải thiện, đặc biệt trong những thập niên gần đây với sự xuất hiện của các thiết bị có công nghệ mới và các thiết bị tự động, việc giảm bán kính cung cấp điện, tăng tiết diện dẫn và bù công suất phản kháng.
Do vậy, chất lượng điện mạng hình tia đã được cải thiện nhiều. Kết quả của các nghiên cứu và thống kê từ thực tế vận hành đã đưa đến kết luận nên vận hành lưới phân phối theo dạng hình tia bởi các lý do: + Vận hành đơn giản hơn. + Trình tự phục hồi lại kết cấu lưới sau sự cố dễ dàng hơn. + Ít gặp khó khăn trong việc cắt điện cục bộ.
Tổn thất công suất và điện năng trong lưới điện phân phối 2. Giới thiệu Vấn đề xác định tổn thất điện năng trong mạng điện hiện nay đang là nhiệm vụ hết sức thiết thực, không những đối với cơ quan quản lý và phân phối điện, mà ngay cả đối với các hộ dùng điện. Phương pháp xác định tổn thất điện năng thông thường nhất là so sánh sản lượng điện ở đầu vào và đầu ra, nhưng thường mắc phải những sai sót lớn, do một số nguyên nhân sau: - Không thể lấy đồng thời chỉ số của các công tơ tại đầu nguồn và ở các điểm tiêu thụ điện.