Chương 1 TỔNG QUAN 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu ở nước ngoài liên quan đến đề tài Đánh giá rủi ro là quá trình đánh giá các rủi ro phát sinh từ một mối nguy, có tính đến tính đầy đủ của mọi biện pháp kiểm soát hiện có và quyết định xem rủi ro có được chấp nhận hay không. Một số phương pháp để thực hiện đánh giá rủi ro có sẵn từ chuyên gia đến phương pháp có sự tham gia và từ các phương pháp đơn giản đến phức tạp. Để thực hiện một quy trình quản lý rủi ro hiệu quả , cần phải hiểu rõ bối cảnh pháp lý, các khái niệm, quy trình phân tích, đánh giá và kiểm soát rủi ro và vai trò của tất cả những người tham gia vào quy trình.
Cũng cần quản lý rủi ro dựa trên các phương pháp luận vững chắc và đã được thử nghiệm. Tiêu chuẩn OHSAS 18001 phiên bản năm 2007 do Viện tiêu chuẩn Anh (BSI) ban hành đã quy định các yêu cầu đối với hệ thống quản lý an toàn và sức khỏe nghề nghiệp (ATSKNN) để tổ chức có thể kiểm soát được các rủi ro về ATSKNN. Tiêu chuẩn này có đưa ra các thuật ngữ, định nghĩa và các quy trình về nhận diện và đánh giá rủi ro. Đồng thời OHSAS 18001:2007 cũng đưa ra các biện pháp để kiểm soát và thay đổi, các biện pháp kiểm soát hoặc thay đổi, cải tiến biện pháp biện pháp kiểm soát để làm giảm rủi ro theo các cấp độ: Loại trừ, thay thế, kiểm soát kỹ thuật, kiểm soát hành chính, các thiết bị bảo vệ con người.
Đặc biệt OHSAS 18001:2007, còn hướng dẫn thực hiện biện pháp đánh giả rủi ro bằng cách cho điểm có trong số các mối nguy và phân loại các rủi ro có thể chấp nhận được và rủi ro không thể chấp nhận được sao cho phù hợp với điều kiện của các doanh nghiệp va đáp ứng được các yêu cầu của pháp luật. Vào tháng 3 năm 2018 ISO 45001 được công bố. ISO 45001 là tiêu chuẩn ISO cho các hệ thống quản lý sức khỏe và an toàn nghề nghiệp. Mục tiêu của ISO 45001 là giảm thương tích và bệnh nghề nghiệp, bao gồm thúc đẩy và bảo vệ sức khỏe thể chất và tinh thần.
Theo ISO 45001:2018 thì có nhiều phương pháp để nhận dạng mối nguy: Phân tích cây sai hỏng FTA, 7 nhận dạng mối nguy HAZID, phân tích công việc chủ yếu CTA, tuần tra quan sát PO, phân tích cây sự cố ETA, dựa vào báo cáo, phân tích tai nạn, sự cố AI. Từ đó tìm hiểu những rủi ro có thể và sẽ liên quan tới công việc chuẩn bị thực hiện, những rủi ro có thể gặp; xây dựng những biện pháp kiểm soát để thực thi công việc một cách hiệu quả nhất, an toàn nhất, nhằm tránh gây tai nạn cho con người, hư hại tài sản, thiết bị và tổn hại môi trường. Đề tài luận văn liên quan đến việc nghiên cứu và đánh giá rủi ro khi làm việc trên cao đã quan tâm đến các nghiên cứu ở các nước về đánh giá rủi ro khi làm việc trên cao: 1. Nghiên cứu của Singapore về 126 trường hợp ngã cao Nghiên cứu và phân tích 126 trường hợp điều tra ngã cao của Bộ nhân lực Singapore (The Ministry of Manpower Singapore) về các trường hợp tai nạn lao động gây tổn thương nghiêm trọng hay tử vong do ngã cao từ năm 2003-2007 để hiểu rõ hơn các yếu tố góp phần gây ra những của những trường hợp tai nạn.
Trong nghiên cứu thông qua phân tích số liệu và các yếu tố góp phần gây ra tai nạn, họ đã phân loại các yếu tố gây ra tai nạn của 126 trường hợp điều tra thành 7 nhóm chính: thiếu các thủ tục làm việc an toàn là 54 trường hợp chiếm 43%; thiếu hoặc sử dụng không đúng hoặc không chấp hành việc sử dụng phương tiện bảo vệ cá nhân khi làm việc trên cao là 49 vụ, chiếm 39%; môi trường làm việc kém là 40 vụ, chiếm 32%; hệ thống phòng ngừa chống ngã cao không đầy đủ là 33 trường hợp, chiếm 26%; vi phạm các quy định/hành vi làm việc không đúng chuẩn là 25 trường hợp, chiếm 20%; thiếu giám sát là 25 trường hợp, chiếm 20%, thiếu đào tạo kiến thức cho nhiệm vụ được giao là 18 trường hợp chiếm 14%. Trong đó có thể có nhiều hơn 1 yếu tố góp phần cho từng trường hợp ngã cao. Phân loại ngã cao theo vị trí Các vụ tại nạn ngã cao trong số nằm trong số những 126 trường hợp điều tra.1: Biểu đồ phân loại ngã cao trong 126 trường hợp điều tra (Nguồn: Bộ nhân lực Singapore) 1. Phân loại theo ngành Phân loại ngã cao theo ngành nghề, lĩnh vực trong số 126 trường hợp điều tra ta có: Biểu đồ 1.2: Phân loại ngã cao theo ngành nghề trong số 126 trường hợp điều tra (Nguồn: Bộ nhân lực Singapore) 9 1.
Các yếu tố góp dẫn đến ngã cao tại nơi làm việc Các yếu tố góp phần được phân loại thành 7 loại chính và được thể hiện trong Hình bên dưới: Yếu tố góp phần dẫn đến tai nạn ngã cao (Đối với 126 trường hợp điều tra) Biểu đồ 1.3: Số lượng và tỷ lệ phần trăm các trường hợp các yếu tố góp phần dẫn đến tai nạn ngã cao (Nguồn: Bộ nhân lực Singapore) Thiếu, sử Vi phạm Thiếu Thiếu dụng không Môi Hệ thống các quy đào tạo / các thủ đúng hoặc trường phòng / định / kiến thức tục không sử làm chống hành vi Thiếu Phân loại cho làm dụng các việc ngã cao làm việc giám sát nhiệm vụ việc an phương tiện kém không không được toàn bảo vệ chống đầy đủ đúng giao ngã cao chuẩn Số trường 54 49 40 33 25 25 18 hợp % Các trường 43 39 32 26 20 20 14 hợp * Lưu ý rằng có thể có nhiều hơn 1 yếu tố góp phần cho từng trường hợp ngã (Nguồn: Bộ nhân lực Singapore) 10 1. Nghiên cứu của Brazil Nghiên cứu và phân tích 114 trường hợp điều tra ngã cao Nghiên cứu và phân tích 114 trường hợp điều tra ngã cao của đồng tác giả Tomi Zlatar, Eliane Maria Gorga Lago, Willames de Albuquerque Soares. Mục đích của nghiên cứu này là phân tích hậu quả tùy thuộc vào chiều cao rơi và điều tra các biện pháp quản lý rủi ro thường bị thiếu hoặc không được áp dụng đầy đủ trong việc ngăn ngừa và kiểm soát tại thời điểm xảy ra khi ngã cao. Từ 368 trường hợp ngã cao nhóm ngiên cứu đã sàng lọc kỹ lưỡng để loại trừ những trường hơp không phù hợp với tiêu chí và cuối cùng 114 trường hợp đã được đưa vào phân tích.
Các trường hợp được thu nhận có chiều cao rơi vào khoảng 1,2 đến 42 mét, trong đó các con số là: 19 trường hợp trong khoảng từ 0 đến 3 m; 52 trường hợp từ 3 đến 6,1 m; 21 trường hợp từ 6,1 đến 9,0 m; và 22 trường hợp hơn 9,1 m, người ta thấy rằng một tai nạn điển hình của việc ngã cao sẽ ở 45,6% từ độ cao từ 3 đến 6,1 mét. Những nơi phổ biến nhất xảy ra ngã cao là: trên giàn giáo/sàn làm việc (26-22,8%); mái nhà (30- 26,3%); sập, bao gồm sập sàn, tường và cầu thang (4-3,5%); thông qua lỗ mở, khoảng hở, bao gồm rơi qua cầu thang, bẫy, giếng nâng hoặc các tấm kính trong xây dựng (15-13,2%); thang và bệ bước (10 8,8%); nâng, bao gồm nâng bằng xe nâng (10-8,8%) và khác (19-16,7%)) và 49,1% xảy ra từ giàn giáo hoặc mái nhà. Hậu quả của vụ ngã cao này sẽ dẫn đến tử vong nếu người đó ngã xuống đầu và bị chấn thương đầu, trong khi nếu không, tỷ lệ phần trăm đại diện cho tỷ lệ sống sẽ là ≈55%, tùy thuộc vào khối lượng người và cả vật liệu người đó mang theo. Nghiên cứu chỉ ra rằng sẽ có một tỷ lệ phần trăm ≈98% mà một số biện pháp đánh giá rủi ro không được áp dụng.
Trong số các biện pháp không được áp dụng (thất bại), lý do sẽ là: 81,6% các thủ tục làm việc (biện pháp hành chính); 65,8% lan can, tay vịn, rào chắn và bảo vệ cạnh (biện pháp kỹ thuật); 60,5% đánh giá rủi ro; và 60,5% nền tảng làm việc/ giàn giáo (biện pháp kỹ thuật). Do đó, có thể kết luận rằng việc ngã cao gây rủi ro 11 lớn cho người lao động, điều này có thể được ngăn chặn bằng các biện pháp quản lý áp dụng đầy đủ. Tổng quan các nghiên cứu trong nước liên quan đến đề tài 1. Bộ công cụ đánh giá và đề xuất giải pháp kiểm soát nguy cơ tai nạn lao động trong thi công xây dựng nhà cao tầng Trong lĩnh vực xây dựng, trước thực trạng công tác thi công xây dựng nhà cao tầng ở Việt Nam đã có nhiều đổi mới, những công nghệ hiện đại cũng đang từng bước được áp dụng.
Đặc thù của công nghệ xây dựng nhà cao tầng có những yêu cầu khác biệt, đòi hỏi phải giải quyết được các khó khăn trong thi công xây dựng nhưng vẫn phải đảm bảo an toàn cho người lao động. Đề tài: “Bộ công cụ đánh giá và đề xuất giải pháp kiểm soát nguy cơ tai nạn lao động trong thi công xây dựng nhà cao tầng” của đồng tác giả Nguyễn Anh Tuấn, Nguyễn sỹ Khánh Linh (viện Khoa học an toàn và vệ sinh lao động và Nguyễn Phương hùng (viện Nghiên cứu cơ khí) đã được thực hiện. Nhận thấy công tác quản lý ATVSLĐ tại các cơ sở sản xuất nói chung và ở tại các công trường xây dựng nói riêng còn nhiều bất cập. Việc xây dựng được một phương pháp nhận dạng và đánh giá nguy cơ gây tai nạn lao động là hết sức cần thiết.
Tuy nhiên, trong thực tế để giảm bớt tính chất phức tạp, công sức trong công tác này đòi hỏi cần phải có những cách thức hiệu quả hơn nữa, chính vì thế nếu xây dựng được bộ công cụ đánh giá nguy cơ gây tai nạn sẽ giải quyết được những tồn tại đó. Đề tài đã tiến hành việc xây dựng phần mềm bộ công cụ đó sao cho đáp ứng phù hợp được những đòi hỏi của thực tế sản xuất, trình độ quản lý… Bộ công cụ đánh giá rủi ro ATLĐ được tin học hóa và được xây dựng gọn nhẹ, đảm bảo tính tương thích của hệ thống dựa trên việc chạy trên nền của hệ điều hành Windows với cấu hình phần cứng tốt ưu nhất có thể. Phần mềm được xây dựng dựa trên ngôn ngữ lập trình Visual Studio và hệ quản trị cơ sở dữ liệu SQL Server của hãng Microsoft.