Chương 1: Tổng quan chất lượng điện năng Chương 2: Một số biện pháp hạn chế sóng hài Chương 3: Mô phỏng bộ lọc sóng hài tích cực bằng Matlab Simulink Chương 4: Kết luận HVTH: Lê Thanh Long Trang 3/88 Luan van Luận văn thạc sĩ GVHD: PGS.TS Lê Chí Kiên CHƢƠNG 1 - TỔNG QUAN VỀ CHẤT LƢỢNG ĐIỆN NĂNG 1. Khái niệm về chất lƣợng điện năng. Chất lượng điện năng: Là tổng hợp các yếu tố ảnh hưởng tới khả năng làm việc ổn định, lâu dài đến hiệu suất làm việc của các thiết bị trong hệ thống điện. Chất lượng điện năng còn bao hàm những yếu tố có thể ảnh hưởng tới sức khỏe của người sử dụng điện.
Chất lượng điện năng là một chủ đề nghiên cứu rất rộng có ý nghĩa chiến lược đối với toàn ngành điện và với các nhân viên kỹ thuật vận hành, khai thác, bảo dưỡng quản lý, các nhà chế tạo thiết bị, vì các lí do sau: - Tính chất cạnh tranh của nền kinh tế nên đòi hỏi điện năng phải được đảm bảo thường xuyên với chất lượng tốt mới thu hút được các nhà đầu tư. - Việc suy giảm chất lượng điện năng làm cho thiết bị vận hành với hiệu suất thấp, tuổi thọ bị giảm. - Vấn đề hiệu quả sử dụng điện năng ngày càng được quan tâm, do công nghiệp chế tạo thiết bị điện phát triển và khách hàng đã sử dụng nhiều loại thiết bị “thông minh” với hiệu quả năng lượng ngày càng cao nhưng cũng khắt khe hơn như: Hệ thống truyền động điện sử dụng bộ điều tốc điện tử công suất, các hệ thống chỉnh lưu và nghịch lưu, các thiết bị điều chỉnh công suất phản kháng và điều khiển điện áp trong hệ thống điện. Chính những loại thiết bị điện này là nguyên nhân gây ra vấn đề về chất lượng điện năng, đặc biệt là sự xuất hiện của sóng hài điện áp và dòng điện trong lưới điện phân phối.
- Hệ thống cung cấp và sử dụng điện hiện đại là một hệ thống phức tạp, tích hợp cao, sự làm việc và hỏng hóc của một phần tử trong hệ thống có thể ảnh hưởng đến các phần tử khác thậm chí đến toàn hệ thống. Có nhiều cách hiểu và định nghĩa khác nhau về chất lượng điện năng tùy thuộc và quan điểm của người đánh giá. - Theo IEEE (Institue of Electric and Electronic Engineers): Chất lượng điện năng là một khái niệm của việc nối nguồn và nối đất cho các thiết bị nhạy cảm mà theo cách đó phù hợp cho việc hoạt động của thiết bị. - Đối với đơn vị cung cấp điện: Được hiểu là chất lượng điện áp, tần số và độ HVTH: Lê Thanh Long Trang 4/88 Luan van Luận văn thạc sĩ GVHD: PGS.TS Lê Chí Kiên tin cậy cung cấp điện theo quy định; - Đối với nhà sản xuất thiết bị điện: Là tập hợp các thông số của điện năng được cung cấp đảm bảo cho thiết bị hoạt động tốt.
Tập hợp các thông số này có thể rất khác nhau đối với từng chủng loại thiết bị và từng nhà sản xuất, khách hàng sử dụng điện. - Khách hàng sử dụng điện: Thường đánh giá chất lượng điện năng theo quan điểm an toàn, đảm bảo tiện nghi và hiệu quả sản xuất, tiêu dùng. - Theo quan điểm của Ngành điện: Hiện nay thì khách hàng sử dụng điện là đối tượng luôn được quan tâm, chăm sóc ngày càng tốt hơn. Do đó có thể hiểu chất lượng điện năng là các vấn đề liên quan đến việc làm cho hoạt động của thiết bị điện của khách hàng hoặc của đơn vị được cung cấp điện tốt nhất.
Bài toán đánh giá quan hệ đảm bảo chất lượng của điện năng ngày càng trở nên phức tạp theo cách nhìn của từng đối tác. Đối với nhà sản xuất thiết bị điện là giá thành sản phẩm. Một thiết bị điện nếu được chế tạo để có thể hoạt động bình thường trong một dải biến thiên rộng của thông số chất lượng điện năng thường có giá thành cao. Đối với đơn vị cung cấp điện: Nâng cao chất lượng điện năng thường đồng nghĩa với những khoản đầu tư lớn để nâng cấp lưới điện, vì vậy nếu không có những điều kiện pháp lý ràng buộc, các đơn vị cung cấp điện thường không thực hiện những giải pháp nâng cao chất lượng điện năng vì sẽ tốn kém chi phí.
Tuy nhiên, trong điều kiện thị trường điện lực phát triển, các ràng buộc kỹ thuật trong hợp đồng mua bán điện liên quan đến chất lượng điện năng sẽ là áp lực để các đơn vị cung ứng điện có trách nhiệm hơn trong việc đảm bảo chất lượng điện năng cho khách hàng sử dụng điện. Chất lượng điện năng cũng sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả sử dụng điện năng, hiệu quả sản xuất kinh doanh, chi phí và tiện nghi của khách hàng. Ngược lại, nhiều thiết bị sử dụng điện của khách hàng lại là nguyên nhân gây nên những ảnh hưởng đến Chất lượng điện năng đối với lưới điện và các tải lân cận. Các tiêu chuẩn về chất lƣợng điện năng.
Chất lƣợng tần số. - Chất lượng tần số được đánh giá bằng độ biến thiên tần số so với tần số định HVTH: Lê Thanh Long Trang 5/88 Luan van Luận văn thạc sĩ GVHD: PGS.TS Lê Chí Kiên mức của hệ thống điện độ biến thiên tần số được tính như sau: | | Trong đó: ft : Tần số thực tế fđm : Tần số định mức - Chất lượng tần số còn được đánh giá dựa trên độ dao động tần số, được đặc trưng bởi độ biến thiên giữa giá trị lớn nhất và giá trị nhỏ nhất của tần số khi tốc độ tần số biến thiên nhanh hơn 1 %/s. - Thông tư số 39/2015/BCT [3] quy định: Tần số danh định trong hệ thống điện quốc gia là 50 Hz. Trong điều kiện bình thường, tần số hệ thống điện được dao động trong phạm vi ± 0,2 Hz so với tần số danh định.
Trường hợp hệ thống điện chưa ổn định, tần số hệ thống điện được dao động trong phạm vi ± 0,5 Hz so với tần số danh định. Chất lƣợng điện áp Điện áp là một trong những đại lượng đặc trưng cho chất lượng điện năng của hệ thống điện. Có thể mô tả điện áp của một thiết bị điện hoặc hệ thống điện thông qua các trị số. - Điện áp tức thời, u(t): Là trị số điện áp ứng với một thời điểm nhất định, được biểu diễn bằng hàm số sau: Trong đó: Umax: Biên độ điệp áp (V); f: Tần số (Hz); φ: Góc pha điện áp (o); Trị số điện áp viết theo (1.2) là thành phần sóng điện áp ở tần số cơ bản.
- Điện áp hiệu dụng, Urms: Là trị số điện áp được tính theo công thức sau: √ ∫ [ ] HVTH: Lê Thanh Long Trang 6/88 Luan van Luận văn thạc sĩ GVHD: PGS.TS Lê Chí Kiên Trong đó: + u(t): Trị số điện áp tức thời (V); + T: Chu kỳ thời gian khảo sát (giây); Điện áp hiệu dụng cũng là 1 đại lượng thay đổi theo thời gian. Với dạng điện áp như (1.2) trong đó biên độ điện áp Umax không thay đổi thì trị số điện áp hiệu dụng sẽ là. √ - Biến thiên điện áp: Là sự sai khác giữa điện áp vận hành và điện áp danh định biểu diễn bằng phần trăm điện áp danh định gọi là độ biến thiên điện áp phần trăm. Trong đó: Ut : Điện áp vận hành Uđm : Điện áp định mức.
- Theo quy định chất lượng điện áp trong chế độ xác lập của hệ thống điện, thì biến thiên điện áp dài hạn được đặc trưng bởi độ biến thiên điện áp cho phép. Đó là giới hạn thay đổi của điện áp vận hành trong đó các thiết bị điện làm việc an toàn, tin cậy: δU– ≤ δU ≤ δU+ Trong đó: U và U+ : Các giới hạn dưới và giới hạn trên của độ biến thiên điện áp. - Một số tiêu chuẩn trên thế giới của biến thiên điện áp quy định như sau: Tiêu chuẩn châu Âu: EN 50160 quy định U = ±10 %; xác suất 95 %. Tiêu chuẩn Úc: AS60038 quy định với Uđm = 240V, -2 % ≤ U ≤ +10 %; xác suất 95 % và -6 % ≤ U ≤ +10 %; xác suất 99 %.
Tiêu chuẩn về độ biến thiên điện áp ở Việt Nam [3]: Trong chế độ vận hành bình thường, điện áp vận hành tại điểm đấu nối được phép dao động so với điện áp danh định như sau: HVTH: Lê Thanh Long Trang 7/88 Luan van Luận văn thạc sĩ GVHD: PGS.TS Lê Chí Kiên Tại điểm đấu nối với khách hàng sử dụng điện là U = ±5 %; Tại điểm đấu nối với nhà máy điện là – 5 % ≤ U ≤ +10 %. Trong chế độ sự cố đơn lẻ hoặc trong quá trình khôi phục vận hành sau sự cố, cho phép mức biến thiên điện áp tại điểm đấu nối với khách hàng sử dụng điện bị ảnh hưởng trực tiếp bởi sự cố trong khoảng +5 % và -10 % so với điện áp danh định. Trong chế độ sự cố nghiêm trọng trên hệ thống truyền tải điện hoặc khôi phục sự cố, cho phép mức biến thiên điện áp trong khoảng ±10 % so với điện áp danh định. - Nhấp nháy điện áp: Nhấp nháy (flicker): Là ấn tượng không ổn định của thị giác do sự kích thích của ánh sáng có quang thông dao động theo thời gian.
Nhấp nháy là cảm giác không thoải mái của thị lực con người do sự thay đổi của cường độ ánh sáng của nguồn sáng. Quang thông của các thiết bị chiếu sáng phụ thuộc điện áp nên việc đánh giá hiện tượng dao động điện áp được thực hiện thông qua những kiến thức về quá trình sinh lý trong quá trình sự cảm nhận nhấp nháy ánh sáng của con người. Các mức nhấp nháy điện áp: Mức nhấp nháy ngắn hạn (Pst) là giá trị đo được trong khoảng thời gian mười (10) phút bằng thiết bị đo nhấp nháy. Nó là đại lượng không đơn vị, đặc trưng cho mức độ xấu của nhấp nháy.
Pst = 1 tương ứng với giới hạn không được vượt qua để tránh sự mệt mỏi cho người quan sát đối với bất kỳ loại nhấp nháy nào. Mức nhấp nháy dài hạn (Plt) được tính từ 12 kết quả đo Pst liên tiếp (trong khoảng thời gian hai giờ), theo công thức: ∑ √ Trong đó: Plt là tiêu chuẩn đánh giá nhấp nháy dài hạn khi xem xét các sự kiện nhấp nháy với các chu kỳ lớn hơn hoặc khi một số phụ tải gây nhấp nháy đồng thời vận hành. Giới hạn mức nhấp nháy dài hạn là 0,8.