Chương 1. Tổng quan về mô hình số độ cao 1. Khái niệm và phân loại mô hình số độ cao 1. Nguồn số liệu xây dựng mô hình số độ cao 1.
Tổng quan về mô hình số độ cao toàn cầu và một số công trình nghiên cứu mô hình số độ cao toàn cầu tại Việt Nam 1. Vấn đề nghiên cứu của luận văn Chương 2. Cơ sở lý thuyết về khảo sát độ chính xác của mô hình số độ cao 2. Các yếu tố ảnh hưởng đến độ chính xác của mô hình số độ cao 2.
Ước tính độ chính xác của mô hình số độ cao 2. Cơ sở khoa học đánh giá độ chính xác mô hình số độ cao Chưng 3. Thực nghiệm khảo sát độ chính xác mô hình số độ cao SRTM trên phạm vi lãnh thổ Việt Nam 3. Khái quát chung về khu vực nghiên cứu và nguồn số liệu 3.
Khảo sát độ lớn, độ chính xác của độ cao theo mô hình SRTM trên phạm vi lãnh thổ Việt Nam 3.3 Tổng hợp, đánh giá kết quả khảo sát 3 Luan van 6. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn Ý nghĩa khoa học: Luận văn đã đề xuất phương pháp kiểm tra độ chính xác theo tiêu chí giá trị độ lệch, sai số trung bình, sai số trung phương MHSĐC để đưa ra các khuyến cáo, đảm bảo đánh giá được độ chính xác MHSĐC toàn cầu trên lãnh thổ Việt Nam. Ý nghĩa thực tiễn: Cung cấp thêm thông tin về độ chính xác của MHSĐC toàn cầu tại Việt nam, giúp người sử dụng dễ dàng ra quyết định lựa chọn khi giải quyết các nhiệm vụ liên quan đến số liệu độ cao địa hình và ứng dụng MHSĐC toàn cầu. Lời cảm ơn Tác giả chân thành cảm ơn sự hỗ trợ nghiên cứu của Đề tài cấp Bộ Tài nguyên và Môi trường: “Nghiên cứu xác lập cơ sở khoa học để xây dựng mô hình Geoid trên vùng biển của Việt Nam; thử nghiệm cho một vùng điển hình”, mã số TNMT.
Trong quá trình thực hiện đề tài và hoàn thành luận văn, tác giả đã nhận được sự giúp đỡ nhiệt tình của các thầy, cô giáo trong Khoa Trắc địa, Bản đồ và Thông tin địa lý - trường Đại học Tài nguyên và Môi trường Hà Nội cùng sự giúp đỡ của các nhà khoa học, bạn bè đồng nghiệp tại Cục Bản đồ, Bộ Tổng tham mưu, đặc biệt là TS. Nguyễn Xuân Bắc - Phó trưởng bộ môn, phụ trách bộ môn Trắc địa cơ sở. Xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành tới các tập thể và cá nhân đã giúp đỡ tác giả hoàn thành bản Luận văn này. Hà Nội, ngày tháng năm 2019 Tác giả luận văn 5 Luan van CHƢƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ MÔ HÌNH SỐ ĐỘ CAO 1.
Khái niệm và phân loại mô hình số độ cao 1. Khái niệm mô hình số độ cao Mô hình số độ cao (Digital Elevation Model) là mô hình biểu diễn bề mặt địa hình trong không gian 3 chiều (3D), theo đó mọi vị trí ở trên mặt đất đều được gắn với giá trị (X,Y,h). Một cách khái quát mô hình số độ cao (MHSĐC) được định nghĩa là mô hình mô tả bề mặt địa hình bởi các điểm có toạ độ X, Y, H thoả mãn một hàm đơn trị H = f(X, Y) (1. Với bất cứ một vị trí (X, Y), chỉ có một giá trị độ cao H được xác định trong một MHSĐC.
Hay MHSĐC là mô hình số khái quát và biểu diễn bề mặt địa hình trong không gian 3 chiều. Mô hình số độ cao biểu diễn bề mặt địa hình. Dưới góc độ toán học MHSĐC được định nghĩa là một dãy hữu hạn các vectơ 3 chiều của địa hình trên miền D: Vi =(Xi, Yi, Hi), i = 1,2,. Khi hình chiếu trên mặt phẳng của các vectơ trong dãy được sắp xếp thành một lưới có quy tắc thì các toạ độ mặt bằng (Xi, Yi) có thể giản lược, lúc đó MHSĐC trở thành dãy vectơ một chiều (Hi, i =1,2,.
MHSĐC mô tả bằng phương pháp số bề mặt Trái đất thông qua các điểm và đường. Thông thường, bề mặt được biểu diễn bằng các điểm phân bố 6 Luan van đều hoặc không đều. Nếu bề mặt này được hoàn thiện thêm bằng các yếu tố đặc trưng của địa hình (các điểm ghi chú độ cao và các đường đứt gãy) thì gọi là mô hình số địa hình. MHSĐC có thể ứng dụng trong nhiều lĩnh vực khoa học, công nghệ, thương mại, dịch vụ, an ninh, quốc phòng,.
có liên quan đến dữ liệu địa lý [3, 7, 15]. Ví dụ như: - Trong chiết xuất các thông tin về địa hình: độ dốc, hướng dốc, độ lồi lõm của sườn dốc, độ dài sườn dốc, độ cong, hướng chảy cục bộ, chỉ số địa hình, chỉ số năng lượng dòng chảy, chỉ số vận chuyển trầm tích, tầm nhìn,. - Trong đo vẽ ảnh hàng không và viễn thám: nắn chỉnh ảnh nhằm loại bỏ các sai số gây ra do nguyên lý hình học của máy chụp và chênh cao địa hình. - Trong địa vật lý: cải thiện chất lượng của dữ liệu trọng lực bằng cách cung cấp các dữ liệu cơ bản cho việc tự động hiệu chỉnh địa hình của các thông tin trọng lực, nghiên cứu, khảo sát ảnh hưởng của địa hình lên mô hình Geoid.
- Trong xây dựng: tính toán khối lượng đào đắp, bố trí công trình,. - Trong viễn thông: tính toán vùng phủ sóng, lựa chọn vị trí thu phát sóng. - Trong hàng không: hệ thống phòng tránh các va chạm hàng không, cảnh báo tiếp cận sân bay và quản lý các chuyến bay, mô phỏng địa hình dùng trong việc huấn luyện phi công. - Trong địa chất: cung cấp thông tin về địa hình phục vụ tìm kiếm khoáng sản, phân tích địa mạo khu vực; - Trong khai thác mỏ: thiết kế công trình khai thác, tính toán sự dịch chuyển của mặt đất do các công trình khai thác gây ra.
- Trong du lịch: giới thiệu, quảng bá về các địa điểm du lịch, tổ chức các chuyến tham quan ảo. - Trong an ninh, quốc phòng: xây dựng mô hình thực địa phục vụ tác chiến, phân tích địa hình cho các hoạt động của chiến trường như: phân tích 7 Luan van tầm nhìn và khả năng cơ động của các trang thiết bị cơ giới, phục vụ dẫn đường cho tên lửa, thiết kế mạng thông tin liên lạc, thành lập công cụ hiển thị hình ảnh động trong các mô hình mô phỏng tác chiến phục vụ công tác huấn luyện. - Trong quản lý và sử dụng đất: đánh giá phân hạng thích nghi đất đai, đánh giá mức độ xói mòn đất, cung cấp dữ liệu địa hình cơ bản để giải các bài toán quy hoạch sử dụng đất. - Trong thủy văn: dự báo dòng chảy, tính toán lưu vực.
- Trong phòng chống thiên tai: Dự báo lũ lụt và đánh giá tác động của chúng, dự báo ảnh hưởng của sóng thần, thiết kế các công trình phòng chống thiên tai,. - Trong sinh học: làm tư liệu phục vụ đánh giá mức độ đa dạng và thích nghi sinh học. Phân loại mô hình số độ cao Dựa vào kiểu số liệu, DEM được chia làm hai loại: DEM dạng Raster và DEM dạng Vector. * DEM dạng Raster Trong mô hình Raster DEM: ma trận các ô vuông gồm các hàng và cột như hình 1.
Mỗi một ô (cell) chứa giá trị độ cao của điểm trung tâm của ô. Cấu trúc dữ liệu dạng Raster Mô hình DEM dạng Raster được biểu diễn trong hình 1. 8 Luan van Hình 1. Mô hình DEM dạng Raster * DEM dạng Vector Trong cấu trúc Vector, DEM có thể được coi như là một tấm lưới tam giác không đều (Triangle Irregular Nework - TIN) [1].
TIN là tập hợp các đỉnh nối với nhau thành các tam giác, mỗi tam giác được giới hạn bởi 3 điểm xác định về giá trị x, y và z ( độ cao) như hình 1. Cấu trúc dữ liệu dạng véc tơ. 9 Luan van * DEM dạng TIN Mô hình DEM dạng TIN được biểu diễn trong hình 1. Biểu diễn mô hình DEM dạng TIN Mô hình số độ cao dạng TIN có những đặc điểm sau: - Mô hình TIN biểu diễn một bề mặt liên tục từ những tập hợp điểm rời rạc phân bố bất kì.
- TIN: gồm tập hợp các điểm nối với nhau thành những tam giác - tạo nên bề mặt ba chiều. - Một điểm bất kì thuộc vùng biểu diễn sẽ nằm trên đỉnh, cạnh hoặc trong một tam giác của lưới tam giác. Nếu một điểm không phải là đỉnh thì giá trị hình chiếu của nó có được từ phép nội suy tuyến tính (của hai điểm khác nếu điểm này nằm trên cạnh hoặc của ba điểm nếu điểm này nằm trong tam giác). Mô hình TIN là mô hình tuyến tính trong không gian 3 chiều.
- Mô hình TIN hiệu quả trong xây dựng bề mặt. Mật độ của điểm trên bề mặt tỷ lệ với độ biến đổi của địa hình. Những bề mặt phẳng tương ứng với mật độ điểm thấp và những địa hình đồi núi có mật độ điểm cao. Nguồn số liệu xây dựng mô hình số độ cao Hiện nay MHSĐC gồm các phương pháp xây dựng cơ bản sau đây: phương pháp đo đạc thực địa, phương pháp đo vẽ ảnh (đo vẽ ảnh giải tích và ảnh số, dữ liệu ảnh có thể là ảnh hàng không hay ảnh vệ tinh), phương pháp nội suy từ các đường đồng mức và các yếu tố khác được số hóa trên bản đồ có sẵn, phương pháp ứng dụng công dụng công nghệ laser và phương pháp ứng dụng radar độ mở tổng hợp giao thoa [1].
Các phương pháp này khác nhau ở nguồn dữ liệu đầu vào, thiết bị máy móc sử dụng, giá thành, độ chính xác, phạm vi và khả năng ứng dụng. Việc thành lập mô hình số độ cao dù tiến hành theo phương pháp nào cũng bao gồm hai công đoạn là thu thập các trị đo và tạo MHSĐC từ các trị đo này thông qua tính toán nội suy. Hai phần này tuy thường được thực hiện một cách riêng biệt nhưng có mối liên hệ qua lại mật thiết với nhau. Phần thu thập các trị đo còn gọi là quá trình lấy mẫu tạo MHSĐC.
Hiện nay hầu hết MHSĐC được tạo từ năm nguồn dữ liệu: đo đạc thực địa, đo vẽ ảnh hàng không và ảnh vũ trụ (theo các phương pháp thủ công, bán tự động và tự động), số hóa trên bản đồ đã có sẵn, từ các dữ liệu đo radar độ mở tổng hợp giao thoa và đo laser đặt trên máy bay [1]. Ngoài ra, mô hình số độ cao các vùng ngập nước và bán ngập nước còn được thành lập từ nguồn dữ liệu đo sâu hồi âm.