CHƯƠNG 1. GIỚI THIỆU ĐỀ TÀI Số liệu dị thường trọng lực được thu thập từ hai nguồn chính, đó là Viện Vật lý địa cầu và cục Đo đạc và Bản đồ Việt Nam. Số liệu từ Cục Đo đạc và Bản đồ Việt Nam Bộ số liệu dị thường trọng lực do cục Đo đạc và Bản đồ Việt Nam cung cấp được thu thập từ các nguồn khác nhau, nhưng để phục vụ yêu cầu của ngành Đo đạc và Bản đồ Việt Nam chúng đã được chuyển về dị thường trọng lực chân không, có độ chính xác 2 – 3 mgal. Chúng bao gồm các điểm có số thứ tự từ 1- 6270.
Số liệu từ Viện Vật lý địa cầu Bộ số liệu được đo trực tiếp ngoài thực địa vào năm 2015, bằng các máy đo trọng lực tương đối. Mục đích chính của bộ số liệu này là khảo sát độ đứt gãy của các mảng kiến tạo ở bên dưới, với độ chính xác khoảng 1 mgal. Chúng bao gồm các điểm có số thứ tự từ 6271 - 8465. Tuy nhiên với mục đích là khảo sát độ đứt gãy của các mảng kiến tạo, nên bộ số liệu do Viện Vật lý địa cầu cung cấp được đo dưới dạng tuyến.
Vì vậy số lượng điểm đi qua khu vực nghiên cứu rất ít, không phản ánh đầy đủ tính chất của khu vực. Nên số liệu học viên sử dụng trong đề tài nghiên cứu này là số liệu từ cục Đo đạc và Bản đồ Việt Nam. Phạm vi nghiên cứu Trong 6270 điểm có giá trị dị thường trọng lực từ cục Đo đạc và Bản đồ Việt Nam, học viên lựa chọn ra 556 điểm nằm trên khu vực tỉnh Hà Tĩnh. Với mục đích khảo sát mức độ phù hợp của các hàm hiệp phương sai, nên học viên sẽ lựa chọn 3 dạng địa hình: địa hình vùng núi, địa hình vùng đồng bằng và địa hình hỗn hợp để nội suy giá trị dị thường trọng lực.
Ứng với mỗi dạng địa hình sẽ chọn ra số lượng điểm gốc để nội suy và điểm nội suy như bảng sau: Dạng địa hình Đồng bằng Đồi núi Hỗn hợp Số lượng điểm đầu vào 516 516 476 Số lượng điểm nội suy 40 40 80 -9- CHƯƠNG 1. GIỚI THIỆU ĐỀ TÀI Bảng 1. 2: Số lượng điểm dự kiến sẽ tính toán Hình 1. 2: Vị trí các điểm dị thường trọng lực trong khu vực nghiên cứu Trong khuôn khổ đề tài này, học viên sẽ dùng số liệu các điểm đã biết giá trị dị thường trọng lực để so sánh với kết quả nội suy, vì vậy độ chính xác của số liệu ban đầu và ảnh hưởng của nó đến kết quả nội suy có thể cho là bằng 0.
Ý NGHĨA KHOA HỌC VÀ THỰC TIỄN - Làm quen, nắm vững cơ sở lý thuyết của phương pháp Collocation. - Củng cố lại kiến thức lý thuyết của các hàm hiệp phương sai, công thức tính toán nội suy bằng phương pháp Collocation. - Đánh giá mức độ phù hợp của các hàm hiệp phương sai khi tính toán nội suy bằng phương pháp Collocation đối với từng khu vực. KẾT CHƯƠNG: Thông qua các tài liệu tham khảo trong nước và ngoài nước, học viên thấy khi xây dựng mô hình Geoid bằng số liệu dị thường trọng lực hay số liệu dị thường độ cao thì các hàm hàm hiệp phương sai đóng vai trò rất quan trọng trong việc tính toán.
Và ta vẫn phải nội suy các điểm dị thường trọng lực hay dị thường độ cao ở những vị - 10 - CHƯƠNG 1. GIỚI THIỆU ĐỀ TÀI trí không có, nên việc nội suy ra các điểm đó là cần thiết, một trong những phương pháp nội suy đó là Collocation. Trong những tài liệu ở trên, có những tài liệu đã đề cập đến việc khảo sát các hàm hiệp phương sai, cũng có những tài liệu chỉ nêu ra hàm hiệp phương sai mà họ sử dụng mà không nói ra tại sao họ lại lựa chọn hàm đó. Mà trong phương pháp nội suy Collocation thì lõi tái tạo (các hàm hiệp phương sai) đóng vai trò quan trọng, việc lựa chọn tham số cho các hàm hiệp phương sai đó sẽ ảnh hưởng lớn đến kết quả nội suy.
Từ những lý do để học viên tiến hành khảo sát một số hàm hiệp phương sai để lựa chọn ra hàm phù hợp với từng khu vực. CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ THẾ TRỌNG LỰC CHƯƠNG 2 CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ THẾ TRỌNG LỰC - 12 - CHƯƠNG 2. CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ THẾ TRỌNG LỰC 2. CÁC KHÁI NIỆM CƠ BẢN VỀ THẾ TRỌNG LỰC TRÁI ĐẤT VÀ CÁC ĐẶC TRƯNG CỦA NÓ 2.
Lực hấp dẫn, lực li tâm và trọng lực 1. Lực hấp dẫn Mọi vật thể trong vũ trụ đều gây ra và chịu tác động tương hỗ của lực có tên là lực hấp dẫn được đặc trưng bởi định luật vạn vật hấp dẫn do Newton đưa ra năm 1666. Theo định luật này, hai vật thể ở cách xa nhau một khoảng so với kích thước của chúng sẽ hút lẫn nhau với một lực có độ lớn tỉ lệ thuận với tích các khối lượng của chúng và tỉ lệ nghịch với bình phương khoảng cách giữa chúng. Biểu thức toán học của định luật có dạng như sau: m1 .1) r122 trong đó: - m1, m2 là khối lượng của mỗi vật thể.
- r12 là khoảng cách giữa chúng. - G là hằng số, thường được gọi là hằng số hấp dẫn. Về thực chất, hai vật thể nói đến ở đây phải được hiểu là hai chất điểm. Một vật thể được gọi là vật hút, còn vật thể kia là vật bị hút.
Để giản tiện cho diễn giải, người ta thường quy ước coi khối lượng của vật bị hút là m1 = 1 đơn vị và kí hiệu khối lượng của vật hút là m2 = m. Khi đó, bỏ qua chỉ số 1, 2 ứng với hai vật thể, biểu thức (2.1) sẽ được viết lại ở dạng gọn hơn: m F G .2) r2 Lực hấp dẫn được quy ước hướng từ vật bị hút sang phía vật hút. Như vậy, lực hấp dẫn là một đại lượng Vector có gốc đặt tại vật bị hút, hướng từ vật bị hút sang vật hút và có độ lớn xác định bởi biểu thức (2.2); Nó được kí hiệu là F. Tương ứng, khoảng cách giữa hai vật thể cũng là một đại lượng Vector với gốc đặt tại tâm vật - 13 - CHƯƠNG 2.
CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ THẾ TRỌNG LỰC hút, hướng từ vật hút sang vật bị hút, và được kí hiệu là r. Rõ ràng F và r là hai Vector đồng phương, nhưng đối chiều (hình 2. Ở dạng Vector biểu thức (2.2) sẽ được viết lại như sau: m r F G .3) r2 r Hằng số hấp dẫn G là một trong những hằng số vật lý quan trọng nhất. Nó được xác định bằng con đường thực nghiệm hết sức công phu.
Theo công bố mới nhất vào năm 2002 của tổ chức quốc tế về dữ liệu khoa học và công nghệ (Committee on Data for Science and Technology – CODATA) thì G = (6,6742±0,0010)10-11 m 3 kg -1s -2 Hình 2. 1: Vector lực hấp dẫn và Vector khoảng cách Ta hãy chọn hệ toạ độ vuông góc tuỳ ý x,y,z và kí hiệu các thành phần toạ độ tương ứng với vật hút (điểm hút) là (x,y,z), còn các thành phần tọa độ của vật bị hút (điểm bị hút) là (x’,y’,z’) (hình 2. Khi đó, các thành phần của Vector lực hấp dẫn theo các trục toạ độ sẽ được biểu diễn ở dạng: Gm ( x x ') ( x x ') Fx F cos( F , x) 2 Gm ; r r r3 Gm ( y y ') ( y y ') Fy F cos( F , y ) 2 Gm ; (2. CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ THẾ TRỌNG LỰC Hình 2.
2: Vector lực hấp dẫn và Vector khoảng cách trong hệ toạ độ vuông góc không gian Hình 2. 3: Vật hút ở dạng vật khối Bây giờ ta hãy xét trường hợp vật bị hút là một chất điểm với khối lượng bằng 1, nhưng vật hút là một vật thể có hình dạng xác định với thể tích (Hình 2.3); Khi đó, vật hút thường được gọi là vật khối. Dễ hiểu là để biểu diễn lực hấp dẫn của vật hút dạng khối như thế, không thể sử dụng ngay các biểu thức vừa nêu ở trên, vì một trong hai vật thể đang xét, mà cụ thể là vật hút, không phải là chất điểm với kích thước nhỏ vô cùng so với khoảng cách giữa chúng, như định luật Newton yêu cầu. Tuy vậy, bài toán đặt ra có thể được giải quyết bằng cách chia nhỏ vật khối thành vô - 15 - CHƯƠNG 2.
CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ THẾ TRỌNG LỰC d số phần tử với thể tích d và khối lượng dm sao cho tỉ số tiến tới một giá trị dm xác định nào đó khi thu nhỏ vô cùng phần tử d xung quanh điểm có toạ độ dm (x’,y’,z’) trong lòng vật khối. Đại lượng ( x’, y’, z’) lim được gọi là mật độ vật d 0 d khối. Tương ứng ta có biểu thức: dm = (x’,y’,z’).6) Điểm có toạ độ (x’,y’,z’) với mật độ vật khối ( x’,y’,z’) được gọi là điểm chạy. Khi đó, ta có thể áp dụng trực tiếp biểu thức cơ bản của định luật vạn vật hấp dẫn cho từng cặp điểm là điểm xét M với toạ độ (x,y,z) và điểm chạy với toạ độ (x’,y’,z’) trong lòng vật khối, rồi cộng tất cả các giá trị lực hấp dẫn thành phần như thế lại, sẽ nhận được lực hấp dẫn tổng thể của vật khối tại điểm điểm xét cho trước.
Tương ứng ta có biểu thức toán học ( x ', y ', z ') F ( x, y, z ) G d (2.7) r2 Các thành phần của Vector lực hấp dẫn của vật khối theo các trục toạ độ vuông góc sẽ là: ( x x ') Fx ( x, y, z ) G ( x’, y’, z’) 3 d ; r ( y y ') Fy ( x, y, z ) G ( x’, y’, z’) 3 d ; (2. Lực li tâm Giả sử có một vật thể ở dạng chất điểm với khối lượng m quay quanh trục T ở cách nó một khoảng bằng với tốc độ dài có độ lớn là (hình 2. Khi đó, vật này sẽ chịu tác dụng của lực li tâm P hướng ra phía ngoài theo phương vuông góc với trục T và vector vận tốc . Từ chương trình vật lý phổ thông ta biết: - 16 - CHƯƠNG 2.
CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ THẾ TRỌNG LỰC 2 P (2.9) Nếu kí hiệu tốc độ góc tương ứng là , ta có: .