CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ ĐẢM BẢO AN NINH VÀ XÁC THỰC NGƯỜI DÙNG 1. Hệ thống thông tin và vấn đề đảm bảo an ninh 1.1 Các vấn đề hệ thống thông tin An ninh mạng đặt ra các vấn đề với các tổ chức, doanh nghiệp, cá nhân. Đặc biệt, với đặc trưng có mặt ở khắp nơi, liên tục thu thập thông tin về hoạt động của con người, môi trường xung quanh và liên tục kết nối, hàng chục tỷ thiết bị đang hoạt động trên thế giới có thể bị lợi dụng để tạo ra những mạng lưới thu thập thông tin với phạm vi hoạt động cực rộng, len lỏi vào từng khía cạnh của đời sống con người, tạo ra những nguy cơ chưa từng có với các tổ chức, cá nhân trước hoạt động của tội phạm mạng. Có thể nói, đề tài về bảo đảm an ninh thông tin (ANTT) đang là một trong những vấn đề được ưu tiên toàn cầu, khu vực và mỗi quốc gia.
Các giải pháp bảo vệ an ninh thông tin trong thời đại công nghệ số: Một là thống nhất và nâng cao nhận thức về an toàn thông tin trong thời kỳ kỹ thuật số. Xác định công tác bảo đảm an ninh, phòng, chống vi phạm và tội phạm mạng là một bộ phận trọng yếu của cuộc đấu tranh bảo vệ an ninh quốc gia, giữ gìn trật tự, an toàn xã hội, là nhiệm vụ của cả hệ thống các cấp, các ngành, cho đến từng cơ quan, đoàn thể. Hai là coi trọng việc đẩy mạnh xây dựng nguồn nhân lực ANTT Lào cả số lượng lẫn chất lượng. Đào tạo thêm nhiều kỹ sư thuộc các chuyên ngành an ninh mạng, đảm bảo nhu cầu khát nhân lực hiện nay.
Không chỉ đảm bảo về mặt số lượng, cần phải nâng cao chất lượng trong ngành bằng việc đào tạo đội ngũ giảng dạy có phương pháp và quy trình chuẩn. Ba là tăng cường năng lực và nâng cao một bước hiệu quả quản lý nhà nước về công nghệ thông tin và truyền thông, về ANTT, an ninh mạng. Tiếp tục xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật về an ninh mạng, quy chuẩn về an toàn thông tin. Kiện toàn tổ chức bộ máy thực thi quản lý nhà nước về an ninh, an toàn mạng thông tin quốc gia, hệ thống các đơn vị chuyên trách về ANTT, công nghệ thông tin.
Hoàn thiện hệ thống quản lý theo pháp luật, đảm bảo. 6 Bốn là xây dựng mô hình phát triển và sử dụng công nghệ thông tin phù hợp với luật pháp, trên cơ sở tôn trọng quyền tự do và những quyền cơ bản khác của con người, đồng thời không can thiệp công việc nội bộ lẫn nhau; phản đối mọi hình thức lợi dụng vấn đề “tự do thông tin”, “nhân quyền”, “dân chủ” trên không gian mạng để xâm hại lợi ích của các quốc gia, quyền và lợi ích hợp pháp của các công dân. Năm là chủ động có phương án, chiến lược phòng chống các cuộc tấn công mạng. Lập kế hoạch triển khai khi có sự cố sảy ra để không bị động trước những tấn công bất thường [11].
Vai trò của an ninh thông tin ngày càng quan trọng kéo theo nhu cầu về nguồn nhân lực ngày càng gia tăng. Ở Lào, ngành an ninh thông tin và quản trị mạng đang được rất nhiều bạn trẻ theo học. Trung tâm tích hợp dữ liệu được hiểu là một khu vực mà trong đó tích hợp cơ sở dữ liệu (CSDL) của các ứng dụng trong một cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp và trong đó có các kết nối mạng, máy chủ chạy ứng dụng CSDL thực hiện việc trao đổi dữ liệu giữa tổ chức,.với CSDL trung tâm qua mạng cục bộ, mạng Internet. Ngoài việc đảm bảo an toàn cho nơi lưu trữ dữ liệu thì việc đảm bảo an ninh cho bản thân dữ liệu cũng rất quan trọng.
Tuỳ theo cách thức dữ liệu được truy xuất và lưu trữ thì vấn đề về đảm bảo an ninh cho dữ liệu có các điều kiện khác nhau. Ví dụ như việc đảm bảo an ninh cho dữ liệu được lưu trữ lại CSDL thì cần phải chống lại những nguy cơ mất an ninh cho dữ liệu như: trộm cắp dữ liệu, sửa đổi trái phép. Bảo đảm tính toàn vẹn dữ liệu và an ninh cho dữ liệu khi dữ liệu được trao đổi cho ứng dụng thì cần bảo vệ dữ liệu trên đường truyền. Do đó việc đảm bảo an ninh, an toàn và xác thực người dùng trên cổng thông tin là thiết yếu và cũng là vấn đề lớn mà Viện khoa học xã hội Quốc gia Lào cần phải nghiên cứu, triển khai trên thực tế.
Phân loại các hệ thống thông tin Hệ thống thông tin là một tập hợp và kết hợp của các thành phần sử dụng đề thu thập, tạo, tái tạo, phân phối và chia sẻ các dữ liệu, thông tin và tri thức nhằm phục vụ các mục tiêu của tổ chức; có thể là thủ công nếu dựa vào các công cụ như giấy, bút. Hệ thống thông tin hiện đại là hệ thống tự động hóa dựa vào máy tính 7 (phần cứng, phần mềm) và các công nghệ thông tin học còn hệ thống thông tin quản lý được phân loại theo cấp bậc quản lý như sau: - Hệ thống thông tin quản lý (Management Information System-MIS) - Hệ thống xử lý giao địch (Transactions Processing Systems- TPS) - Hệ tự động văn phòng (Office Automation Systems- OAS) - Hệ thống chuyên môn (Knowledge Word System- KWS) - Hệ hỗ trợ quyết định (Decision Support System – DSS) - Hệ thông tin hỗ trợ lãnh đạo (Executive Support Systems- ESS) 1. Đặc điểm hệ thống thông tin dữ liệu Viện khoa học xã hội quốc gia Lào Để đảm bảo các hệ thống ứng dụng công nghệ thông tin (CNTT) hoạt động tốt trên mạng Internet, đa số các cơ quan đã bước đầu quan tâm thực hiện theo các quy định của pháp luật nhằm đảm bảo an toàn, an ninh thông tin trong hoạt động ứng dụng CNTT cho cơ sở. Hệ thống phần mềm dùng chung, phần mềm chuyên ngành, phần mềm ứng dụng nội bộ cơ bản được đảm bảo an toàn, an ninh thông tin đều được sự hỗ trợ tích cực của các chuyên gia, công ty cung cấp phần mềm.
Hàng năm, Viện Khoa học Xã hội quốc gia Lào cũng tổ chức các lớp đào tạo, tập huấn về CNTT nhằm nâng cao trình độ giúp cho cán bộ, công chức, chủ động thực hiện các biện pháp bảo đảm an toàn, an ninh thông tin; nâng cao kiến thức về chuyên môn và kỹ năng sử dụng CNTT, đảm bảo an toàn thông tin mạng cho đội ngũ cán bộ chuyên trách CNTT trong cơ quan. Đồng thời yêu cầu các đơn vị trực thuộc tổ chức kiểm tra, rà soát và đánh giá tổng thể về công tác đảm bảo an toàn thông tin cho các hệ thống thuộc phạm vi quản lý, tổ chức thực hiện các biện pháp kỹ thuật cơ bản đảm bảo an toàn thông tin cho trang thông tin điện tử. Tuy nhiên, công tác đảm bảo an toàn thông tin mạng ở Viện khoa học xã hội quốc gia Lào vẫn chưa được cập nhật với mặt bằng chung của khu vực và thế giới. Hệ thống mạng kết nối ngang hàng, thiếu các trang thiết bị đảm bảo an toàn thông tin mạng, các hệ thống thông tin còn tồn tại lỗ hổng bảo mật, tiềm ẩn nguy cơ gây 8 mất dữ liệu, lây nhiễm các phần mềm độc hại ảnh hưởng đến ứng dụng và phát triển CNTT.
Mặt khác, kinh phí tổng thể đầu tư cho xây dựng hạ tầng kỹ thuật CNTT và công tác đảm bảo an toàn và an ninh thông tin còn hạn chế; việc đảm bảo an toàn, an ninh thông tin đối với các hệ thống thông tin nói chung và các hệ thống thư điện tử, quản lý văn bản và điều hành, trang thông tin điện tử nói riêng chưa được quan tâm đầu tư tương xứng. Đa số mới chỉ dừng lại ở mức trang bị các phần mềm diệt virus có bản quyền cho các máy tính, chưa có biện pháp đảm bảo an toàn an ninh thông tin được cài đặt đồng bộ trên toàn cơ quan do vậy khả năng phòng chống virus, bảo mật không cao. Đội ngũ cán bộ chuyên viên phụ trách an toàn, an ninh thông tin tại Viện khoa học xã hội quốc gia Lào còn thiếu, cần được đào tạo, tập huấn chuyên sâu về an toàn, an ninh thông tin. Do đó để đảm bảo an toàn, an ninh thông tin trong hoạt động của Viện khoa học xã hội quốc gia Lào hiện nay cần có những giải pháp, cơ chế chính sách cụ thể nhằm hạn chế nguy cơ mất ATTT trên môi trường mạng, ngăn ngừa mã độc, phần mềm gián điệp tấn công vào các hệ thống thông tin trọng yếu, máy tính cá nhân của cán bộ, công chức, viên chức.
Trong đó cần ưu tiên thực hiện ngay một số biện pháp sau: Một là, nâng cao nhận thức của cán bộ, công chức, viên chức trong đơn vị về mức độ quan trọng của việc đảm bảo an toàn, an ninh thông tin. Thường xuyên tổ chức đào tạo, tập huấn, tuyên truyền về công tác đảm bảo an toàn, an ninh thông tin; tổ chức diễn tập, đào tạo chuyên sâu ATTT để nâng cao trình độ, chuyên môn nghiệp vụ cán bộ chuyên trách CNTT. Hai là, thường xuyên kiểm tra, rà soát, đánh giá mức độ đảm bảo ATTT cho hệ thống mạng nội bộ (LAN) gồm: Máy chủ, máy trạm, thiết bị mạng, phần cứng, phần mềm hệ thống và các hệ thống thông tin, phần mềm ứng dụng nhằm đánh giá tổng thể mức độ ATTT mạng, kịp thời phát hiện và xử lý sự cố, lỗ hổng, ngăn chặn, bóc gỡ mã độc tấn công vào hệ thống mạng. 9 Ba là, về phòng chống mã độc, virus, phần mềm gián điệp: Cách hiệu quả nhất để có thể ngăn chặn, phòng ngừa các phần mềm độc hại trên lây nhiễm trên hệ thống mạng máy tính của đơn vị đó là phải triển khai cài đặt phần mềm chống virus cho tất cả các máy chủ, máy trạm và thiết bị di động trong hệ thống mạng.
Sử dụng cơ chế phòng chống tấn công, truy nhập trái phép vào hệ thống mạng, tự động phát hiện và loại trừ mã độc được truyền tải từ thư điện tử, file đính kèm, từ các trang web độc hại trên mạng Internet. Thường xuyên cập nhật phiên bản mới, bản vá lỗi của hệ điều hành, phần mềm chống virus. Kiểm soát chặt chẽ cài đặt phần mềm trên máy chủ, máy trạm, không cài đặt phần mềm không rõ nguồn gốc hoặc không có bản quyền; cử cán bộ thường xuyên theo dõi hoạt động của cổng/trang thông tin điện tử của đơn vị nhằm tránh các cuộc tấn công deface gây ảnh hưởng đến việc cung cấp thông tin phục vụ người dân và doanh nghiệp.