Chương 1 ĐA DẠNG HÓA SẢN PHẨM TÍN DỤNG CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI TRONG NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG 1.1 Hoạt động tín dụng của ngân hàng thương mại trong nền kinh tế thị trường 1. Tổng quan về Ngân hàng thương mại Thế kỷ 17 tại các nước Châu Âu mà đặc biệt tại nước Anh, nhiều người giàu có thấy rằng để tiền tại nhà không an toàn và họ đã đem tiền vàng đi gửi tại các tiệm kim hoàn. Đây là nơi các chủ tiệm kim hoàn có những chiếc két sắc an toàn để có thể cất giữ tiền vàng. Khi gửi tiền vào khách hàng sẽ nhận được một giấy biên nhận và họ có thể rút tiền vàng ra bất cứ lúc nào.
Trong quá trình cung cấp dịch vụ, các chủ tiệm kim hoàn đã nhận ra rằng trong cùng một thời điểm luôn có sự gửi vào và rút tiền vàng ra nhưng trong kết của họ vẫn luôn có tiền, vàng do số lượng tiền, vàng gửi vào và số lượng tiền, vàng rút ra là không trùng nhau. Với đầu óc kinh doanh của mình, họ đã nghĩ ra việc sử dụng lượng vừa dư thừa này để cho vay lấy lãi vì trong thực tế có rất nhiều người có nhu cầu vay vốn để làm ăn hoặc tiêu dùng. Đến lúc này, khách hàng khi gửi tiền vào két của các nhà kim hoàn không phải trả tiền nữa mà ngược lại, chính các chủ tiệm kim hoàn mới là người phải trả tiền cho khách hàng vì đã cho chủ tiệm kim vàng tạm thời sử dụng vốn của họ. Các chủ tiệm sẽ dùng tiền này để cho người khác vay.
Nghiệp vụ truyền thống của Ngân hàng: Nhận gửi và cho vay ra đã ra đời như vậy. Khi các Ngân hàng ra đời, mỗi ngân hàng đều phát hành các loại tiền riêng của mình nên đã gây ra khó khăn trong lưu thông. Để thuận tiện, hệ thống Ngân hàng đã được chia thành Ngân hàng Trung ương và các NHTM. Ngân hàng Trung ương có nhiệm vụ quản lý về tiền tệ và quản lý vĩ mô các 5 hoạt động Ngân hàng trong một quốc gia.
Mỗi NHTM thì có nhiều nhiệm vụ khác nhau nhưng đều có đặc điểm chung là kinh doanh tiền tệ và tín dụng. Cùng với sự phát triển của nền kinh tế và công nghệ, hoạt động Ngân hàng đã có những tiến triển rất nhanh. Trước hết là sự đa dạng các loại hình Ngân hàng và các hoạt động Ngân hàng. Bên cạnh các nghiệp vụ truyền thống, nhiều dịch vụ đã ra đời nhằm đáp ứng những nhu cầu của khách hàng.
Sự phát triển của ngành Ngân hàng đã tạo ra những mối liên hệ, ràng buộc ngày càng chặt chẽ, sự phụ thuộc lẫn nhau ngày càng lớn giữa các Ngân hàng. Như vậy, chúng ta có thể hiểu Ngân hàng là các tổ chức tín dụng cung cấp một danh mục các dịch vụ tài chính đa dạng nhất – đặc biệt là tín dụng, tiết kiệm, dịch vụ thanh toán và thực hiện nhiều chức năng tài chính nhất so với bất kỳ một tổ chức kinh doanh nào trong nền kinh tế. Đến thời điểm 31/12/2009, Việt nam đã có 5 NHTM nhà nước, Ngân hàng chính sách, Ngân hàng phát triển và 36 NHTM cổ phần, 6 Ngân hàng liên doanh, 46 chi nhanh Ngân hàng nước ngoài và 998 quỹ tín dụng nhân dân cơ sở. Theo luật các tổ chức tín dụng nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam thì hoạt động Ngân hàng là hoạt động kinh doanh tiền tệ và dịch vụ ngân hàng với nội dụng thường xuyên là nhận tiền gửi và sử dụng số tiền này để cấp tín dụng và cung ứng các dịch vụ thanh toán.
Các nghiệp vụ cơ bản của Ngân hàng thương mại 1. Tạo lập nguồn vốn trong Ngân hàng thương mại Đây là nghiêp vụ khởi đầu tạo điều kiện cho sự hoạt động của NH, với nghiệp vụ chủ yếu là nhận tiền gửi, đi vay vốn của NH. Nghiệp vụ tiền gửi: Đây là nghiệp vụ phản ánh các khoản tiền gửi từ các doanh nghiệp và Ngân hàng để thanh toán với mục đích bảo quản tài sản mà từ đó NHTM có thể huy động được. Ngoài ra các Ngân hàng còn huy 6 động các khoản tiền nhàn rỗi của cá nhân hay các hộ gia đình được gửi vào Ngân hàng với mục đích hưởng lãi.
Nghiệp vụ phát sinh giấy tờ có giá: Các NHTM sử dụng nghiệp vụ này để thu hút các khoản vốn có tính thời hạn dài, nhằm đảm bảo khả năng đầu tư các khoản vốn dài hạn của Ngân hàng vào nền kinh tế. Ngoài ra, nghiệp vụ này còn giúp các NHTM tăng cường tính ổn định vốn trong hoạt động kinh doanh của mình. Nghiệp vụ đi vay: Đối với các nghiệp vụ này, các NHTM tiến hành tạo vốn cho mình bằng việc đi vay các tổ chức tín dụng trên thị trường tiền tệ và vay Ngân hàng Trung ương dưới các hình thức tái chiết khấu hay vay có đảm bảo… nhằm tạo sự cân đối trong điều hành vốn của bản thân NHTM khi mà họ không tự cân đối được trên cơ sở khai thác tại chỗ. Nghiệp vụ huy động vốn khác: Các NHTM còn có thể tiến hành tạo vốn cho mình thông qua việc nhận làm đại lý hay ủy thác vốn cho các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước.
Vốn tự có của Ngân hàng: Đây là vốn thuộc sở hữu riêng có của Ngân hàng. Trong thực tế, khoản vốn này không ngừng được tăng lên từ kết quả hoạt động kinh doanh của bản thân Ngân hàng mang lại. Bộ phận vốn này đóng góp một phần đáng kể vào vốn trong hoạt động kinh doanh của các NHTM. Sử dụng vốn trong Ngân hàng Thương mại - Nghiệp vụ ngân quỹ: Nghiệp vụ này phản ánh các khoản vốn của Ngân hàng được dụng vào với mục đích nhằm đảm bảo an toàn về khả năng thanh toán và thực hiện quy định về dự trữ bắt buộc của Ngân hàng Trung ương đề ra.
- Nghiệp vụ cho vay: Đây là nghiệp vụ tạo khả năng sinh lời chính trong hoạt động kinh doanh của các Ngân hàng thương mại. Nghiệp vụ này 7 bao gồm các khoản đầu tư sinh lời của Ngân hàng thông qua việc cho vay ngắn hạn và trung, dài hạn đối với nền kinh tế. - Nghiệp vụ đầu tư tài chính: Các NHTM thực hiện quá trình đầu tư bằng vốn của mình thông qua các hoạt động hùn vốn, góp vốn, kinh doanh chứng khoán trên thị trường. Hoạt động tín dụng của Ngân hàng thương mại Có thể nói hoạt động tín dụng là một trong các hoạt động đầu tiên của Ngân hàng thương mại.
Từ chức năng cung cấp vốn cho nền kinh tế, có thể hiểu tín dụng ngân hàng thương mại là quan hệ chuyển nhượng quyền sử dụng vốn từ ngân hàng, một tổ chức mà hoạt động kinh doanh chính là trên lĩnh vực tiền tệ, cho khách hàng là các tổ chức, cá nhân trong xã hội có nhu cầu sử dụng vốn, trong một thời hạn nhất định với một khoản chi phí nhất định. Các nghiệp vụ tín dụng của Ngân hàng thương mại về cơ bản có thể chia làm 3 loại (Theo quyết định của Ngân hàng NN thì nghiệp vụ tín dụng chia làm 4 loại: Cho vay, Chiết khấu, Bảo lãnh, Thuê mua): - Cho vay ứng trước (cho vay tiền). - Cho vay dựa trên chuyển nhượng trái quyền. - Tín dụng chữ ký (Bảo lãnh bằng việc cam kết bởi chữ ký) Trong 3 loại trên thì cho vay tiền là loại chiếm tỷ trọng lớn nhất trong hoạt động tín dụng của Ngân hàng.
Do đó, trong một số trường hợp người ta có thể hiểu tín dụng ngân hàng là cho vay. Có nhiều định nghĩa khác nhau về cho vay. Theo mục 2 – điều 3 – Quyết định 1627/QĐ-NHNN thì: “ Cho vay là một hình thức tín dụng, theo đó tổ chức tín dụng giao cho khách hàng sử dụng một khoản tiền để sử dụng vào mục đích và thời gian nhất định theo thỏa thuận với nguyên tắc có hoàn trả cả gốc và lãi”. Các hoạt động khác Ngoài ra, các Ngân hàng còn thực hiện hoạt động khác như: Kinh doanh ngoại tệ, vàng bạc và kim khí, đá quý, thực hiện các dịch vụ tư vấn, dịch vụ ngân quỹ; nghiệp vụ ủy thác và đại lý; kinh doanh và dịch vụ bảo hiểm; các dịch vụ khác liên quan đến hoạt động ngân hàng như: dịch vụ bảo quản hiện vật quý, giấy tờ có giá, cho thuê két, cầm đồ và các dịch vụ khác theo quy định của pháp luật.
Khi mà hệ thống Ngân hàng ngày càng phát triển thì các sản phẩm dịch vụ mà Ngân hàng cung ứng ngày càng đa dạng, phong phú hơn. Hiện nay nhiều Ngân hàng đã thành lập các công ty con để cho thuê tài chính, các công ty chứng khoán, cung cấp các dịch vụ bảo hiểm, làm đại lý cho các Ngân hàng khác, nhận vốn ủy thác… Các khách hàng khi đến với Ngân hàng đều có thể lực chọn cho mình một sản phẩm dịch vụ ứng ý nhất, đáp ứng được nhiều nhất các nhu cầu mong muốn của mình. Đa dạng hóa sản phẩm tín dụng của Ngân hàng thương mại 1. Khái niệm, đặc điểm của sản phẩm tín dụng 1.
Khái niệm sản phẩm tín dụng NHTM: Sản phẩm tín dụng của Ngân hàng là một tập hợp các đặc điểm, tính năng, công dụng do Ngân hàng tạo ra nhằm thỏa mãn những nhu cầu về vốn của khách hàng trên thị trường tài chính. Sản phẩm tín dụng của Ngân hàng được cấu thành bởi ba cấp độ: Phần sản phẩm cốt lõi, phần sản phẩm hữu hình và phần sản phẩm bổ sung. Phần sản phẩm cốt lõi: Là phần có thể đáp ứng được những nhu cầu thiết yếu của khách hàng, là giá trị cốt yếu mà Ngân hàng bán cho khách hàng. Đó chính là sự đáp ứng đầy đủ về vốn một cách kịp thời với lãi suất hợp lý.
Phần sản phẩm hữu hình: Chính là biểu hiện bên ngoài của sản phẩm như tên gọi của sản phẩm ví dụ như sản phẩm cho vay tiêu dùng, cho vay hỗ trợ 9 cán bộ công nhân viên, cho vay tài trợ dự án đầu tư và các điều kiện để được cấp các sản phẩm đó. Đây chính là phần giúp khách hàng nhận biết và phân biệt giữa các sản phẩm khác nhau. Phần sản phẩm bổ sung: Đây là phần tiện ích tăng thêm mà Ngân hàng tạo ra cho khách hàng để tạo ra sự khác biệt với các sản phẩm cùng lợi của Ngân hàng khác để thu hút khách hàng.