CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.1 Cơ sở khoa học 1.1 Khái niệm về ñất gò ñồi Cho ñến nay khái niệm về ñất gò ñồi vẫn chưa ñược thống nhất mặc dù những thuật ngữ như ñồi, vùng ñồi và trung du ñược sử dụng khá phổ biến trong lĩnh vực ñịa lý nói chung và ñịa mạo nói riêng. Lê ðức An (1994) [1] thì cho rằng giới hạn thấp nhất của ñồi là 25 m và giới hạn ở ñộ cao không ñược ñề cập mà chỉ nói ñến giới hạn của ñộ dốc phải nhỏ hơn 250. Trong ấn phẩm “Những loại ñất chính miền Bắc Việt Nam” Vũ Ngọc Tuyên và cs (1963) [57] cho rằng vùng Trung du bao gồm những loại ñất phân bố ở ñộ cao từ 25m-200m. Tuy nhiên về vấn ñề này cũng có nhiều cách phân chia khác nhau; Vũ Tự Lập (1999) [31] thì cho rằng ñất gò ñồi có ñộ cao tuyệt ñối từ 25 – 250 m và ñộ dốc 8 – 150.
Theo Nguyễn ðình Kỳ (1998) [27] có thể lấy giới hạn ñộ cao tuyệt ñối từ 15 m, nơi ñịa hình bắt ñầu bị chia cắt mạnh, còn giới hạn trên có thể ñến 250 m. Khi nghiên cứu về ñất gò ñồi, Nguyễn Văn Toàn và cs (2010) [53] ñã tham khảo khái niệm của Spiridonop cho rằng có thể dựa vào ñộ cao tương ñối hoặc ñộ chia cắt sâu ñể xác ñịnh thế nào là “ñồi” và theo các tác giả này, dạng ñịa hình ñồi có ñộ cao tương ñối (chia cắt sâu) khoảng 10 – 100 m. Trong nghiên cứu này, chúng tôi sử dụng tiêu chí xác ñịnh ñất gò ñồi do Nguyễn Văn Toàn và cs (2010) [53] ñề xuất trong ñề tài cấp Nhà nước KC 08.01 là: ñộ cao tương ñối (chia cắt sâu) 10 – 100 m và ñộ cao tuyệt ñối nhỏ 5 hơn 500 m. Và như vậy ñất gò ñồi chỉ bao gồm các loại ñất ñịa thành và ñất hình thành trên phù sa cổ.2 Khái niệm về thoái hóa ñất Hiện nay khái niệm thoái hóa ñất ñược sử dụng rộng rãi và ñều thống nhất ñó là quá trình làm xấu tính chất và chất lượng ñất.
Có nhiều thuật ngữ và ñịnh nghĩa liên quan ñến thoái hoá ñất ñai, trong ñó một số thuật ngữ thường ñược sử dụng là thoái hoá ñất, thoái hoá ñất ñai và sa mạc hoá. (1995) [66], trong khi có sự phân biệt rõ ràng giữa “ñất – soil” và “ñất ñai – land” thì vẫn không có sự phân biệt rõ ràng giữa các thuật ngữ “thoái hoá ñất ñai” và “sa mạc hoá”. Sa mạc hoá nói ñến sự thoái hoá ñất ñai ở các vùng khô hạn, bán khô hạn và vùng bán ẩm ướt do các hoạt ñộng của con người. UNEP (l992) [83], cho rằng thoái hoá ñất có thể ñược hiểu như là mức ñộ thay ñổi theo chiều hướng xấu ñi của chất lượng ñất, kết quả là làm giảm khả năng sản xuất của ñất do nguyên nhân chính là sự can thiệp của con người.
Theo Blaikie và Brookfield (1987) [81], thoái hoá ñất ñai là quá trình biến ñổi trong khả năng của ñất ñai ñể tạo ra những lợi nhuận từ việc sử dụng ñất ñai dưới những hình thức ñặc biệt của quản lý ñất ñai. Thoái hoá ñất là một khía cạnh của thoái hoá ñất ñai, ngoài ra còn có thoái hoá thực vật và nguồn nước. Theo kết quả ñánh giá sự thoái hoá ñất toàn cầu (GLASOD, 1991) [71], thoái hoá ñất là mô tả các hiện tượng gây ra bởi con người làm giảm khả năng hiện tại hoặc tương lai của ñất ñể phục vụ cho cuộc sống của con người, và theo Blum W.H (1998) [63], thoái hoá ñất có thể ñược mô tả như là sự suy giảm một phần hoặc toàn bộ chất lượng ñất hay mất một hoặc một vài chức năng của ñất. 6 Theo ðào Châu Thu (2008) [44], một loại ñất bị thoái hóa nghĩa là bị suy giảm hoặc mất ñi ñộ phì ñất (các chất dinh dưỡng; cấu trúc ñất; màu sắc ban ñầu của ñất; tầng dày ñất, thay ñổi pH ñất.), khả năng sản xuất (các loại cây trồng, các loại vật nuôi, các loại cây lâm nghiệp), cảnh quan sinh thái (rừng tự nhiên/ rừng trồng, hệ thống cây trồng), môi trường sống của con người (cây xanh, nguồn nước, không khí trong lành, nhiệt ñộ ôn hoà, ổn ñịnh.
Theo FAO (1979) [69], thoái hóa ñất là quá trình làm suy giảm khả năng sản xuất ra hàng hóa (cả về mặt số lượng và chất lượng) hoặc giảm mức ñộ ñáp ứng các nhu cầu sử dụng ñất khác của con người. Như vậy có thể hiểu thoái hoá ñất là quá trình thay ñổi các tính chất hoá lý và sinh học của ñất dẫn ñến giảm khả năng trong việc thực hiện các chức năng của của ñất: - Cung cấp chất dinh dưỡng và tạo ra không gian sống cho cây trồng, vật nuôi và hệ sinh thái. - Sản xuất ra lương thực an toàn và giàu dinh dưỡng với hiệu quả kinh tế cao, ñồng thời ñảm bảo sức khoẻ và an toàn cho dân cư. - ðiều hoà và bảo vệ lưu vực thông qua sự thấm hút và phân bố lại nước mưa, dự trữ ñộ ẩm, hạn chế sự biến ñộng của nhiệt ñộ, hạn chế ô nhiễm nước ngầm và nước mặt do các sản phẩm rửa trôi.2 Tổng quan về thoái hóa ñất 1.1 Nghiên cứu ở nước ngoài 1.1 Thực trạng thoái hoá ñất Tài nguyên ñất trên thế giới ñang ñứng trước nguy cơ giảm sút về số lượng và suy thoái nhiều về chất lượng.
Thoái hoá, ô nhiễm ñất ngày càng gia tăng dẫn tới hoang mạc hoá và sa mạc hoá. ðồng thời thiên tai lũ lụt và hạn hán cũng xuất hiện ở nhiều nơi trên thế giới. Một trong những vấn ñề môi 7 trường toàn cầu cuối thế kỷ 20 là thoái hoá ñất và hoang mạc hoá ngày càng mở rộng. Trong khi ñó quĩ ñất canh tác của thế giới hết sức hữu hạn và dân số không ngừng phát triển.
Khi ñánh giá về sự thoái hoá ñất toàn cầu Oldeman, L.965 triệu ha ñất bị thoái hóa, có khoảng 719 triệu ha thoái hoá nhẹ, 1.249 triệu ha thoái hoá trung bình ñến rất nặng. Cũng theo Oldeman L. R (1993) [78], Châu Á là vùng có diện tích thoái hoá lớn nhất, trong ñó có ñến 452,5 triệu ha thoái hóa từ mức trung bình ñến rất nặng. Theo Dimyati Nangju and A.
Perez (1995) [77], thoái hoá ñất do nhiều nguyên nhân, trong ñó có nguyên nhân do xói mòn, sự xói mòn do sản xuất trồng trọt chiếm 28%, chăn thả 34%, chặt phá rừng 29%. Số liệu tổng hợp của chương trình ñánh giá thoái hoá ñất do con người ở Nam và ðông Nam Á (1997) cho thấy có ñến 45% diện tích ñất bị thoái hoá, trong ñó có 21% xói mòn do nước, 24% thoái hoá hoá học và 9% thoái hoá vật lý, 20% thoái hoá do gió, còn lại là các nguyên nhân khác. Bản ñồ thế giới về hiện trạng suy thoái ñất do con người ñã ñược FAO – UNESCO và Hội Khoa học ðất Thế giới thành lập. Các số liệu về diện tích ñất thoái hóa dựa trên cơ sở bản ñồ hiện trạng ñược xác ñịnh bởi Trung tâm Thông tin và Tham chiếu Tài nguyên ðất Quốc tế (ISRIC) và các hoạt ñộng của UNEP ñã ñược công bố vào ñầu 1991.
Sự tác ñộng của con người trong quá khứ và hiện tại lên nguồn tài nguyên môi trường bởi sự khai thác và sử dụng tài nguyên ñã gây ra những hậu quả nặng nề. G (1987) [64], ñã chỉ ra trong bản báo cáo của họ có tên là “Tương lai chung của chúng ta rằng không chỉ những hình thức 8 phát triển kinh tế mới làm huỷ hoại nguồn tài nguyên môi trường mà ñang nuôi sống chúng ta, ñồng thời sự suy thoái môi trường lại có thể gây ảnh hưởng ñến sự phát triển kinh tế”. Tác giả cũng chỉ ra rằng một kỷ nguyên mới cho sự phát triển kinh tế sẽ ñược hình thành dựa trên các chính sách nhằm duy trì và mở rộng những nền tảng của tài nguyên môi trường. Tình trạng ñất bị thoái hóa ñang tăng nhanh và chủ yếu tập trung ở các nước châu Phi, châu Á và Nam châu Mỹ.
Hàng năm, có 11 - 13 triệu hécta rừng bị chặt phá, hàng chục triệu hécta ñất bị thoái hóa có nguy cơ biến thành hoang mạc với phạm vi, cường ñộ và mức ñộ khác nhau nhưng ñã gây ra hậu quả về môi trường và sinh thái ngày càng nghiêm trọng trên phạm vi toàn cầu. Riêng ở châu Á, một khu vực ñược coi là có quá trình khai thác tài nguyên thiên nhiên một cách rầm rộ và thiếu kiểm soát, dẫn tới tình trạng thoái hoá ñất càng trở nên nghiêm trọng. ðiều này ñược minh chứng bởi các số liệu về tình trạng thoái hoá ñất ở một số quốc gia châu Á như sau: Tại Trung Quốc: 1/6 diện tích ñất ñai của Trung Quốc (179 triệu ha) chịu ảnh hưởng xói mòn nước, tương ứng với lượng ñất bị bóc mòn hàng năm 500 triệu tấn. ðất bị sa mạc hoá là 34 triệu ha tập trung ở miền Bắc, ñất mặn lục ñịa, ven biển 99 triệu ha, ñất ngập nước 21 triệu ha (Goun Zitong, 1994 [72]).
Tại Ấn ñộ: Diện tích ñất chịu ảnh hưởng của các tác nhân gây thoái hoá ñất là 199,4 triệu ha, chiếm 60,6% diện tích cả nước; trong ñó: xói mòn do nước 152,2 triệu ha, chiếm 46,6%; xói mòn do gió 15 triệu ha, chiếm 4,6%; ô nhiễm hoá chất 14,9 triệu ha, chiếm 4,5 %; ngập úng 16,3 triệu ha, chiếm 4,9% (M. Tại Thái Lan: Diện tích ñất bị xói mòn 51,40 triệu ha, trong ñó xói mòn rất nhẹ 18,99 triệu ha; nhẹ 11,44 triệu ha; trung bình 4,14 triệu ha; mạnh 6,82 triệu ha, rất mạnh 6,26 triệu ha (Upatham Potisuwan, 1994 [85]).2 Các loại hình thoái hoá Cũng theo kết quả nghiên cứu của Eswaran (2001) [67] (bảng 1.1), thì diện tích ñất thoái hóa trên thế giới ñược chia theo 4 loại hình như sau: Bảng 1. Diện tích và mức ñộ các loại hình thoái hoá ñất trên thế giới ðVT: triệu km2 Trung Mạnh và Loại hình thoái hoá Nhẹ Tổng Tỷ lệ (%) bình cực mạnh Xói mòn do nước 3,43 5,27 2,24 10,94 55,7 Xói mòn do gió 2,69 2,54 0,26 5,49 27,9 Thoái hoá hoá học 0,93 1,03 0,43 2,39 12,2 Thoái hoá vật lý 0,44 0,27 0,12 0,83 4,2 Tổng số 7,49 9,11 3,05 19,65 100 Nguồn: Eswaran, H. Reich (2001) [67] Số liệu ở bảng 1.1 cho thấy: Thoái hóa do xói mòn do nước (Water erosion) 10,94 triệu km2, chiếm 55,7%; thoái hóa do xói mòn do gió (Wind erosion) 5,49 triệu km2, chiếm 27,9%; thoái hoá hoá học (Chemical degradation) 2,39 triệu km2, chiếm 12,2% và thoái hoá vật lý (Physical degradation) 0,83 triệu km2, chiếm 4,2%.
Nghiên cứu này cũng chỉ ra mức ñộ thoái hóa theo từng nguyên nhân.