CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ AN TOÀN, BẢO MẬT THÔNG TIN Trong chương này, luận văn sẽ trình bày khái quát về an toàn, bảo mật thông tin, hệ thống thông tin, các mức độ an toàn thông tin, một số yêu cầu đảm bảo an toàn thông tin với hệ thống thông tin, một số nguy cơ về an toàn thông tin. Khái quát về an toàn, bảo mật thông tin 1. Giới thiệu về an toàn, bảo mật thông tin An toàn, bảo mật thông tin là việc bảo vệ, ngăn chặn truy cập trái phép, sử dụng, tiết lộ, làm gián đoạn, sửa đổi, sao chép hoặc phá hủy thông tin. Thông tin có thể là thông tin vật lý hoặc điện tử.
Thông tin có thể là bất cứ điều gì như hồ sơ của cá nhân hay một tổ chức, dữ liệu kinh doanh, dữ liệu trên điện thoại di động, sinh trắc học. An toàn, bảo mật thông tin được ứng dụng trong rất nhiều lĩnh vực nghiên cứu như mật mã, điện toán di động, truyền thông xã hội trực tuyến. Các chính sách, giải pháp an toàn thông tin được xây dựng dựa trên 3 mục tiêu, thường được gọi là CIA - Tính bảo mật (Confidentiality), Tính toàn vẹn, (Integrity), Tính khả dụng (Availability). Tính bảo mật: thông tin không được tiết lộ cho các cá nhân, tổ chức và quy trình trái phép.
Tính toàn vẹn: duy trì tính chính xác và đầy đủ của dữ liệu. Điều này có nghĩa là dữ liệu không thể được chỉnh sửa theo cách trái phép. Tính khả dụng: thông tin phải có sẵn khi cần thiết. Tấn công từ chối dịch vụ là một trong những yếu tố có thể cản trở sự sẵn có của thông tin.
Ngoài điều này ra còn có một nguyên tắc nữa tác động lên các chính sách an toàn, bảo mật thông tin như: Không từ chối (Non repudiation): là một bên không thể từ chối việc nhận tin nhắn hoặc giao dịch cũng như bên kia không thể từ chối việc gửi tin nhắn hoặc giao dịch. Tính toàn vẹn và tính xác thực của dữ liệu là điều kiện tiên quyết để không từ chối. Tính xác thực (Authenticity): là xác minh rằng người dùng là chính họ và mỗi đầu vào đến đích là từ một nguồn đáng tin cậy. Luan van 4 Trách nhiệm giải trình (Accountability): là có thể theo dõi các hành động của một đơn vị duy nhất đối với đơn vị đó.
Vấn đề cốt lõi của An toàn thông tin là đảm bảo thông tin, có nghĩa là hành động duy trì thông tin của CIA, đảm bảo rằng thông tin không bị xâm phạm theo bất kỳ cách nào khi các vấn đề quan trọng phát sinh. Do đó, việc đảm bảo an toàn, bảo mật hệ thống thông tin, hệ thống mạng của các cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp luôn là đề tài nóng, nhận được sự quan tâm của các nhà lãnh đạo các quốc gia, lãnh đạo các tổ chức, cơ quan, doanh nghiệp. Thực trạng an toàn, bảo mật thông tin Quá trình toàn cầu hóa kết hợp với xu thế công nghệ, dịch vụ ICT hiện nay đang tạo ra những cơ hội phát triển mạnh mẽ và toàn diện, tuy nhiên điều này cũng đặt ra những thách thức, những nguy cơ to lớn về vấn đề an toàn thông tin, hệ thống thông tin, các hệ thống hạ tầng công nghệ thông tin của quốc gia, doanh nghiệp, các quá trình chuyển đổi số, ứng dụng công nghệ thông tin trong các hoạt động quản trị do mối đe dọa từ tội phạm công nghệ cao mang lại. Theo số liệu từ các tổ chức an ninh quốc tế, trong số các loại tội phạm nguy hiểm, tội phạm sử dụng công nghệ cao đứng thứ 2 chỉ sau tội phạm khủng bố.
Theo một nghiên cứu được thực hiện bởi Frost & Sullivan cùng Microsoft đã tiết lộ khả năng thiệt hại về kinh tế trên khắp Châu Á - Thái Bình Dương gây ra bởi sự cố an ninh mạng có thể đạt mức 1,745 nghìn tỷ USD, tương đương hơn 7% tổng GDP của khu vực [15]. Một số vụ việc gây thiệt hại lớn có thể kể đến trên thế giới như: Facebook liên tiếp gây rò rỉ thông tin người dùng; Google+ bị khai tử do tồn tại lỗ hổng bảo mật gây rò rỉ dữ liệu người dùng; tin tặc đánh cắp 90 GB dữ liệu của Apple hay gần đây nhất trong Quý 1/2022, Samsung Electronics bị ảnh hưởng nghiêm trọng khi một cuộc tấn công mạng tàn khốc diễn ra, khiến nhiều dữ liệu bí mật của họ bị rò rỉ trên mạng (190Gb dữ liệu nhạy cảm). Tại Việt Nam cũng xảy ra rất nhiều các vụ việc nghiêm trọng liên quan đến dữ liệu cá nhân như: rò rỉ thông tin dữ liệu của 5,4 triệu khách hàng Thế Giới Di Động; lộ dữ liệu thông tin khách hàng của FPT Shop; 275 nghìn dữ liệu Ngân hàng Hợp tác xã Việt Nam bị tin tặc khai thác. Một số phương thức thủ đoạn phổ biến nhằm đánh cắp thông tin dữ liệu cá nhân của người dùng mà các đối tượng thường sử dụng như thông qua trang web, qua Luan van 5 các phần mềm miễn phí trên mạng, thư điện tử, thiết bị ngoại vi hoặc các thiết bị thông minh.
Ngoài những thủ đoạn phổ biến kể trên, việc lộ lọt các thông tin cá nhân của người dùng còn xuất phát từ chính người dùng. Nhận thức của một bộ phận người dân về nguy cơ mất an ninh, an toàn thông tin còn hạn chế, tác phong giao tiếp trên môi trường mạng còn tùy tiện. Nhu cầu trao đổi thông tin qua USB, thư điện tử ngày càng nhiều nhưng chưa có các biện pháp cụ thể và toàn diện để bảo đảm an ninh, an toàn thông tin mạng. Các cơ quan, tổ chức chưa có đủ nhân lực, vật lực để thực hiện công tác bảo đảm an ninh, an ninh thông tin; chưa kiểm soát hết khả năng mất an ninh, an ninh thông tin do các phần mềm, thiết bị phần cứng nhập ngoại.
Hệ thống thông tin, các mức độ an toàn, bảo mật hệ thống thông tin, các mối nguy hiểm khi mất an toàn hệ thống thông tin 2. Hệ thống thông tin Hệ thống thông tin là một tập hợp tích hợp của các thành phần để thu thập, lưu trữ, xử lý và truyền đạt thông tin. Doanh nghiệp và tổ chức sử dụng hệ thống thông tin để quản lý hoạt động của họ trên thị trường cung cấp dịch vụ và nâng cao đời sống cá nhân. Có hai loại hệ thống thông tin được đưa ra dưới đây: Hệ thống thông tin mục đích chung và Hệ thống thông tin chuyên ngành.
Hệ thống thông tin mục đích chung: Có một số loại hệ thống thông tin chung. Ví dụ hệ thống quản lý cơ sở dữ liệu (DBMS) là sự kết hợp giữa phần mềm và dữ liệu để có thể tổ chức và phân tích dữ liệu. Phần mềm hệ thống quản lý cơ sở dữ liệu thường không được thiết kế để làm việc với một tổ chức cụ thể hoặc một loại phân tích cụ thể. Hệ thống thông tin chuyên ngành: Ngược lại, có một số hệ thống thông tin chuyên biệt đã được thiết kế đặc biệt để hỗ trợ một quá trình cụ thể trong một tổ chức hoặc để thực hiện các nhiệm vụ phân tích rất cụ thể.
Ví dụ: Hoạch định nguồn lực doanh nghiệp (ERP) (được sử dụng để tích hợp quản lý hệ thống thông tin trong toàn bộ tổ chức) 2. Đảm bảo an toàn hệ thống thông tin Để đảm bảo an ninh an toàn hệ thống thông tin, cần phải cung cấp ít nhất các dịch vụ sau đây, được đưa ra dưới đây. Luan van 6 Xác thực: Đây là hành động xác định xem một thực thể (xác thực) có quyền thực hiện hành động hay không. Đánh giá: Cung cấp lịch sử hoạt động có thể được sử dụng để xác định điều gì (nếu có) đã sai và nguyên nhân dẫn đến sai sót.
Xác thực vật lý: Một số cơ quan, tổ chức xác thực chẳng hạn như một đối tượng (chìa khóa hoặc thẻ thông minh) hoặc một đặc điểm cá nhân như vân tay, mẫu võng mạc, hình học bàn tay. Bảo mật dữ liệu: Nó bảo vệ chống lại việc tiết lộ bất kỳ dữ liệu nào trong quá trình vận chuyển và được cung cấp bằng cách mã hóa dữ liệu. Các mức độ an toàn bảo mật hệ thống thông tin Đảm bảo an toàn hệ thống thông tin tuân thủ theo tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật được phân chia theo cấp độ và được thực hiện thường xuyên và liên tục từ các bước ban đầu như lập kế hoạch, thiết kế thi công hai đến vận hành và sau cùng là hủy bỏ. Người vận hành hoặc sử dụng truy cập hợp pháp vào hệ thống thông tin của cơ quan, đơn vị tuân thủ theo các quy định đảm bảo an toàn thông tin hệ thống do cơ quan, tổ chức ban hành.
Yêu cầu đảm bảo an toàn hệ thống thông tin theo từng cấp độ là yêu cầu tối thiểu tương ứng với cấp độ đó. Trên thế giới Việc xác định loại bảo mật của hệ thống thông tin đòi hỏi phải phân tích và phải xem xét các hạng bảo mật của tất cả các loại thông tin thường trú trên hệ thống thông tin. Cho một hệ thống thông tin, các giá trị tác động tiềm ẩn được chỉ định cho các mục tiêu an ninh tương ứng (tính bảo mật, tính toàn vẹn, tính khả dụng) phải là các giá trị cao nhất (tức là dấu nước cao) trong số các giá trị những danh mục bảo mật đã được xác định cho từng loại thông tin cư trú trên hệ thống thông tin. Định dạng tổng quát để thể hiện loại bảo mật của một hệ thống thông tin là: SCinformation system = {(confidentiality, impact), (integrity, impact), (availability, impact)} trong đó các giá trị có thể chấp nhận được đối với tác động tiềm ẩn là THẤP, TRUNG CẤP hoặc CAO.
Luan van 7 Việc phân loại hệ thống thông tin cũng dựa vào các thuộc tính và tác động như với thông tin. SCinformation system = {(confidentiality, impact), (integrity, impact), (availability, impact)} Trong đó SC là mức độ an toàn của hệ thống thông tin. Đối với hệ thống thông tin, impact cần được đặt giá trị cao nhất trong số các giá trị đã được xác định cho các loại thông tin có trong hệ thống. Bộ tiêu chuẩn FIPS 200 đưa ra ba phân loại cơ bản: Hệ thống có tác động thấp: HTTT có yêu cầu thấp đối với cả ba thuộc tính bí mật, toàn vẹn và khả dụng.
Hệ thống có tác động trung bình: HTTT có ít nhất một thuộc tính là trung bình, không có thuộc tính nào ở mức cao. Hệ thống có tác động cao: HTTT có ít nhất một thuộc tính là mức cao. Bộ tiêu chuẩn FIPS 199 đưa ra ba mức độ tác động như trong Bảng 1.