ĐẶT VẤN ĐỀ Chăn nuôi trâu trên thế giới nói chung và ở Việt Nam nói riêng đã có từ lâu đời và đóng vai trò quan trọng trong nền kinh tế của nhiều nước Châu Á, Viễn Đông và Trung cận Đông. Con trâu là con vật gắn bó mật thiết với người nông dân, có ý nghĩa lớn trong sản xuất nông nghiệp, nhất là ở những nơi trồng lúa nước. Ross Cokrill (1982) đã nhận xét: “.Con trâu là một con vật có tiềm năng vượt bậc, xét về mặt năng suất, ở những vùng nhiệt đới và cận nhiệt đới thì có thể không thua kém và thậm chí trội hơn cả các loài gia súc khác.Ở nhiều vùng trên thế giới, nơi mà tình trạng thiếu các nguồn protein đặc biệt là protein động vật, gay gắt nhất, thì trâu tồn tại với số lượng lớn nhất. Điều kiện sinh thái nhiệt đới nóng ẩm và nghề trồng lúa nước là cơ sở để hình thành và phát triển quần thể trâu nước ta.
Quần thể trâu Việt Nam chiếm 1,41% và đứng thứ 8 trên thế giới (Nguyễn Văn Đức, 2021). Theo số liệu của Tổng cục thống kê, năm 2020 tổng số trâu khoảng 2,33 triệu con, tính bình quân hằng năm từ 2016 - 2020 giảm 1,48%. Mặc dù đàn trâu cả nước giảm, nhưng tổng lượng thịt trâu hơi của cả nước vẫn tăng(năm 2020 là 96,73 nghìntấn, tăng so với năm 2016 là 11,7%). Sản lượng thịt trâu hơi xuất chuồng tăng bình quân từ 2016 đến 2020 là 2,34%/năm, tăng cao nhất là vùng trung du miền núi phía bắc (5,01%/năm).
Cản trở lớn nhất để tăng năng suất gia súc nhai lại ở các nước đang phát triển là thiếu thức ăn cả về số lượng và chất lượng. Để đáp ứng được nhu cầu ngày càng tăng về các sản phẩm chăn nuôi, việc sử dụng và khai thác hợp lý nguồn thức ăn gia súc truyền thống là những thức ăn các gia súc khác và con người không ăn được là cực kỳ quan trọng có ý nghĩa sống còn với chăn nuôi gia súc nhai lại nói chung, chăn nuôi trâu nói riêng (Markar, 2004). 2 Kết quả nghiên cứu của một số tác giả trước đây cho thấy: Khẩu phần ăn của trâu, bò không cân đối, hoặc thiếu hoặc thừa năng lượng và protein (Paul Pozy, 2002. Đinh Văn Cải và cs, 2005).
Lý do chủ yếu của khẩu phần mất cân đối là do chúng ta chưa có đầy đủ số liệu về tỷ lệ tiêu hoá in vivo (xác định trên gia súc) và do đó chưa tính toán được chính xác giá trị dinh dưỡng của từng loại thức ăn cũng như khẩu phần. Để làm được việc này, trước hết cần biết được thành phần hóa học và sau đó là giá trị dinh dưỡng của thức ăn. Trên cơ sở thành phần hóa học, giá trị dinh dưỡng của thức ăn chúng ta mới có thể nuôi dưỡng gia súc nhai lại đúng cách, tức là thoả mãn các nhu cầu về dinh dưỡng (năng lượng, protein, khoáng .) của chúng để chúng sống, sản xuất (tăng trọng, cho thịt, sữa.) và thải ra ngoài môi trường ít chất thải nhất (đặc biệt là các chất thải có nitơ, phốt pho) và các loại khí nhà kính (Paquay, 2000). Ở Việt Nam, hiện chưa áp dụng hệ thống nhất quán nào để tính toán nhu cầu dinh dưỡng cho trâu, tuy nhiên có thể dựa vào khuyến cáo từ các nước, như ARC của Anh (1980); INRA của Pháp (1989) và Kearl của Mỹ (1982).
Đặc biệt nhu cầu dinh dưỡng theo Kearl (1982) thích hợp cho trâu ở Việt Nam nên có thể sử dụng trước khi chúng ta có được một hệ thống dinh dưỡng hoàn chỉnh của nước ta. Để khắc phục tình hình phải đi mượn số liệu của nước ngoài về nhu cầu dinh dưỡng, tỷ lệ tiêu hoá và quan trọng hơn là tạo ra một cơ sở dữ liệu về thành phần hoá học, giá trị dinh dưỡng của một số loại thức ăn phổ biến cho trâu tại Việt Nam nhằm góp phần nâng cao hơn nữa năng suất trong chăn nuôi trâu thịt, tạo cơ sở dữ liệu cho việc sử dụng lâu dài trong sản xuất, chúng tôi tiến hành đề tài: “Xác định giá trị dinh dưỡng của một số loại thức ăn và mức ăn thích hợp cho trâu giai đoạn sinh trưởng”. MỤC TIÊU CỦA ĐỀ TÀI 2. Mục tiêu tổng quát Xác định thành phần hóa học, tỷ lệ tiêu hóa một số chất dinh dưỡng cơ bản của một số loại thức ăn nuôi trâu ở Việt Nam bằng phương pháp tiêu 3 hoáin vivo và tiêu hoá in vitro gas production.
Đồng thời xác định được mức ăn thích hợp cho trâu giai đoạn sinh trưởng 7-18 tháng tuổi. Mục tiêu cụ thể - Xác định được thành phần hoá học của một số loại thức ăn phổ biến nuôi trâu. - Xác định được tỷ lệ tiêu hoá chất hữu cơ, giá trị năng lượng trao đổi của một số loại thức ăn nuôi trâu bằng phương pháp tiêu hoá in vitro gas production. - Xác định được tỷ lệ tiêu hoá các chất dinh dưỡng và giá trị năng lượng trao đổi của một số loại thức ăn nuôi trâu bằng phương pháp tiêu hoá in vivo.
- Xây dựng phương trình hồi quy tuyến tính về tỷ lệ tiêu hoá chất hữu cơ và giá trị năng lượng trao đổi giữa 2 phương pháp tiêu hoá in vivo và tiêu hoá in vitro gas production. - Xác định mức ăn thích hợp cho trâu sinh trưởng ở giai đoạn 7-18 tháng tuổi. Ý NGHĨA KHOA HỌC VÀ THỰC TIỄN CỦA LUẬN ÁN 3. Ý nghĩa khoa học Kết quả luận án đã góp phần bổ sung cơ sở dữ liệu về thành phần hóa học, tỷ lệ tiêu hóa của các chất dinh dưỡng (vật chất khô, protein, chất béo, xơ thô, NDF, ADF, khoáng và chất hữu cơ), của một số loại thức ăn nuôi trâu.
Xác định được tỷ lệ tiêu hóa chất hữu cơ (OMD) và giá trị năng lượng trao đổi (ME) bằng phương pháp tiêu hoáinvitrovà tiêu hóa in vivo của một số loại thức ăn nuôi trâu ở Việt Nam từ thành phần hóa học và hàm lượng các chất dinh dưỡng tiêu hóa của chúng. Xây dựng được phương trình hồi quy tuyến tính về tỷ lệ tiêu hoá chất hữu cơ và giá trị năng lượng trao đổi giữa 2 phương pháp tiêu hoá in vivo và tiêu hoá in vitro gas production. Xác định được mức ăn thích hợp nuôi trâu sinh trưởng ở giai đoạn 7-18 tháng tuổi. Ý nghĩa thực tiễn Kết quả của luận án là tài liệu tham khảo có giá trị trong công tác nghiên cứu khoa học và giảng dạy cho các nhà nghiên cứu, giảng viên, sinh viên đại học, thạc sỹ, tiến sỹ chuyên ngành chăn nuôi ở các Trường Đại học, Viện Nghiên cứu.
Đồng thời, kết quả nghiên cứu này cũng được áp dụng cho các doanh nghiệp, chủ trang trại, người chăn nuôi trong xây dựng mức ăn thích hợp cho trâu sinh trưởng giai đoạn 7 -18 tháng tuổi. NHỮNG ĐÓNG GÓP MỚI CỦA LUẬN ÁN Luận án đã xác định được thành phần giá trị dinh dưỡng và tỷ lệ tiêu hoá chất hữu cơ và giá trị năng lượng trao đổi của 11 loại nguyên liệu thức ăn nuôi trâu (bao gồm: 5 loại thức ăn thô xanh, 3 loại thức ăn thô khô và 3 loại thức ăn tinh) dựa vào tiêu hoá in vitro gas production và tiêu hoá in vivo. Luận án đã xây dựng được 3 phương trình hồi quy tuyến tính ước tính tỷ lệ tiêu hoá chất hữu cơ và 3 phương trình hồi quy tuyến tính ước tính giá trị năng lượng trao đổi của một số loại thức ăn nuôi trâu giữa 2 phương pháptiêu hoá in vivo và tiêu hoá in vitro gas production với hệ số tương quan chặt chẽ. Luận án đã xác định được mức ăn thích hợp, sử dụng một số nguyên liệu sẵn có để nuôi trâu sinh trưởng ở giai đoạn 7 -18 tháng tuổi ở Việt Nam.
5 Chƣơng 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Cơ sở khoa học của vấn đề nghiên cứu 1. Thức ăn cho gia súc nhai lại 1. Khái niệm về thức ăn gia súc nhai lại Thức ăn cho gia súc nhai lại là những sản phẩm có nguồn gốc thực vật, động vật và khoáng vật, những sản phẩm này cung cấp chất dinh dưỡng cho con vật, các chất dinh dưỡng đó phải phù hợp với đặc tính sinh lý, với cấu tạo bộ máy tiêu hóa giúp con vật có thể ăn uống, tiêu hóa và hấp thu được nhằm sinh sống bình thường trong một thời gian.
Khái niệm thức ăn cho gia súc nhai lại thay đổi tùy thuộc vào từng giai đoạn phát triển kinh tế xã hội. Thời kỳ chăn nuôi du mục, cỏ xanh trên bãi chăn là nguồn thức ăn duy nhất. Khi ngành trồng trọt phát triển, thức ăn bao gồm cả các sản phẩm phụ của cây trồng. Địa vị của ngành chăn nuôi được nâng cao, người ta gieo trồng cây thức ăn cho gia súc nhai lại, sử dụng các nguồn nguyên liệu trong các ngành công nghiệp, đẩy mạnh các biện pháp bảo quản, chế biến, phối hợp thức ăn, áp dụng các thành tựu mới nhất trong dinh dưỡng học gia súc, sử dụng thức ăn có hiệu quả nhất nâng cao năng suất ngành chăn nuôi.
Theo Pond và cs. (1995) đã đưa ra khái niệm về chất dinh dưỡng như sau: Chất dinh dưỡng là một nguyên tố hay một hợp chất hóa học mà có thể giữ được sự sinh trưởng, sinh sản, cho sữa một cách bình thường hoặc duy trì sự sống nói chung. Theo đó, thức ăn được định nghĩa là: một vật liệu có thể ăn được nhằm cung cấp chất dinh dưỡng hay tất cả những gì mà con gia súc ăn vào hoặc có thể ăn vào được mà có tác động tích cực đối với quá trình trao đổi chất thì gọi là thức ăn gia súc. Phân loại thức ăn gia súc nhai lại Để sử dụng hiệu quả thức ăn và có biện pháp chế biến bảo quản thích hợp cần thiết phải phân loại thức ăn.
6 Có nhiều cách phân loại thức ăn khác nhau, căn cứ vào nguồn gốc, đặc tính dinh dưỡng, tính chất thức ăn. Phân loại thức ăn là đưa các thức ăn vào từng nhóm, trong nhóm đó có các thức ăn có các đặc tính, giá trị dinh dưỡng tưng tự nhau và có thể sử dụng cùng một mục đích (Dryden, 2010). Các thức ăn có cùng nguồn gốc thường có giá trị dinh dưỡng không khác nhau quá nhiều và vì thế cách mà chúng ảnh hưởng đến năng suất gia súc cũng khá tương đồng. Hiện nay, có một số cách phân loại thức ăn cho gia súc, tuy nhiên hệ thống phân loại của Harris và cs.
(1980) được sử dụng nhiều hơn. Ngoài ra cũng có những hệ thống khác được đề nghị nhưng chưa thống nhất nên chưa được công bố (Dryden, 2010). Theo hệ thống phân loại của Harris và cs. (1980) đối với thức ăn cho gia súc nhai lại được phân thành 8 (tám) nhóm như sau: 1.