Tổng quan nghiên cứu

Làng biển Cảnh Dương thuộc huyện Quảng Trạch, tỉnh Quảng Bình sở hữu bề dày lịch sử khai canh gần 400 năm từ năm 1643. Nơi đây là vùng đất giàu truyền thống cách mạng với quy mô diện tích tự nhiên 152 ha và hơn 70% dân cư sinh sống bằng nghề khai thác thủy hải sản. Nền kinh tế biển mang lại nguồn thu hơn 200 tỷ đồng mỗi năm cho địa phương theo thống kê kinh tế năm 2015. Cùng với sự phát triển kinh tế, nghệ thuật Hát Chèo cạn ra đời như một hình thức diễn xướng dân gian gắn liền với Lễ hội Cầu Ngư và tục thờ cúng cá voi tại Ngư Linh Miếu có lịch sử hơn 200 năm.

Tuy nhiên, trong bối cảnh giao lưu văn hóa và sự bùng nổ của các dòng nhạc nhẹ hiện đại, thế hệ trẻ địa phương ngày càng ít quan tâm và không thuộc các làn điệu cổ truyền, đẩy loại hình nghệ thuật này trước nguy cơ mai một. Trong khi đó, chương trình giáo dục âm nhạc chính khóa cấp trung học cơ sở hiện hành chỉ dành khoảng 25% thời lượng phân môn học hát cho âm nhạc dân gian, gây khó khăn cho việc tích hợp chuyên sâu các bài bản bản địa.

Nghiên cứu được triển khai nhằm mục tiêu xây dựng hệ thống biện pháp sư phạm đồng bộ để đưa nghệ thuật Hát Chèo cạn vào hoạt động ngoại khóa âm nhạc tại Trường Trung học cơ sở Cảnh Dương, giai đoạn 2015 đến 2017. Nghiên cứu mang ý nghĩa thực tiễn to lớn trong việc nâng cao tỷ lệ nhận diện di sản của học sinh từ mức dưới 25% lên trên 85%, đồng thời bảo tồn không gian diễn xướng 13 nhân sự truyền thống và bồi dưỡng tình yêu quê hương cho thế hệ trẻ vùng biển miền Trung.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Đề tài vận dụng lý thuyết diễn xướng dân gian trong nghiên cứu văn hóa truyền thống của Richard Bauman, xem xét văn nghệ dân gian không phải là những văn bản tĩnh mà là chuỗi hành động biểu diễn sống động trong bối cảnh không gian, thời gian, người diễn và công chúng thưởng thức. Đồng thời, nghiên cứu kết hợp lý thuyết phương pháp dạy học âm nhạc hiện đại của các nhà giáo dục như Iu. Babanxki và Nguyễn Như An, nhấn mạnh sự tương tác chủ động giữa người dạy và người học nhằm kích thích hứng thú thẩm mỹ và năng lực tự học của học sinh.

Bốn khái niệm cốt lõi được chuẩn hóa trong luận văn bao gồm:

  1. Diễn xướng dân gian: Hình thức tích hợp giữa nghệ thuật ca hát, âm nhạc và động tác múa mô phỏng hành vi lao động chèo thuyền, kéo lưới trên sông biển.
  2. Hát Chèo cạn: Thể loại dân ca nghi lễ gắn với tín ngưỡng thờ Thần Ngư tại Cảnh Dương, cấu tạo như một tổ khúc liên hoàn ca ngợi biển cả và ước nguyện mưa thuận gió hòa.
  3. Làn điệu: Hệ thống giai điệu mang phong cách hát ngâm, được định hình qua thang âm ngũ cung Sol Huỳnh và Sol Bắc đặc trưng của âm nhạc cổ truyền miền Trung.
  4. Cặp phạm trù Cái hát và Con hát: Mối quan hệ tương hỗ giữa người lĩnh xướng (cái hát) giữ vai trò chỉ huy và dàn đồng ca hò xô (con hát) tạo nên tính cộng hưởng trong diễn xướng.

Phương pháp nghiên cứu

Nguồn dữ liệu của đề tài được tổng hợp từ nguồn tư liệu điền dã văn hóa tại Ngư Linh Miếu, gia phả làng Cảnh Dương, các báo cáo chính trị của Hội đồng nhân dân xã và hồ sơ giáo dục của Trường Trung học cơ sở Cảnh Dương.

Phương pháp chọn mẫu thuận tiện có chủ đích được áp dụng với cỡ mẫu khảo sát gồm 32 giáo viên thuộc 2 tổ chuyên môn (100% đạt chuẩn đào tạo) và hơn 120 học sinh thuộc khối lớp 6 và lớp 7 tại trường. Việc lựa chọn cỡ mẫu này xuất phát từ lý do đây là độ tuổi bước đầu hình thành thị hiếu âm nhạc độc lập, có khả năng tiếp thu nhanh các kỹ năng ca hát và vận động sân khấu.

Nghiên cứu sử dụng phương pháp phân tích âm nhạc học để giải mã thang âm, tiết tấu của 5 làn điệu cổ truyền, kết hợp phương pháp so sánh đối chiếu giữa Chèo cạn Cảnh Dương với Chèo cổ Bắc Bộ và hò khoan Lệ Thủy. Toàn bộ quy trình thực nghiệm sư phạm được tiến hành theo timeline 3 giai đoạn từ tháng 9 năm 2015 đến tháng 5 năm 2017 nhằm đo lường chính xác hiệu quả tác động của các giải pháp ngoại khóa.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Khảo sát thực trạng chương trình giáo dục âm nhạc tại Trường Trung học cơ sở Cảnh Dương cho thấy một số phát hiện then chốt:

  1. Sự thiếu hụt nội dung bản địa trong chương trình chính khóa: Phân môn học hát chỉ dành 25% thời lượng cho dân ca mọi miền, phân môn âm nhạc thường thức chỉ có 10% kiến thức văn hóa dân gian. Nhà trường chỉ có 1 biên chế giáo viên âm nhạc chuyên trách cho toàn bộ các khối lớp, dẫn đến việc thiếu thời gian mở rộng kiến thức địa phương trong các tiết học tiêu chuẩn.
  2. Cấu trúc âm nhạc độc đáo của Chèo cạn Cảnh Dương: Khác với các vùng lân cận, Chèo cạn Cảnh Dương là một tổ khúc hoàn chỉnh trải qua 3 giai đoạn diễn xướng liên hoàn gồm Nói lối, Hò hí gia và Hò hụi. Âm nhạc vận hành trên hai điệu thức ngũ cung Sol Huỳnh (Sol - La - Si - Re - Mi) và Sol Bắc (Sol - La - Do - Re - Mi), nhịp điệu 2/4 và 2/2 khỏe khoắn, mô phỏng chân thực nhịp chèo dồn dập.
  3. Đột phá về năng lực thực hành qua hoạt động ngoại khóa: Trước thực nghiệm, chỉ có 21,5% học sinh biết sơ lược về Hát Chèo cạn và 8,3% có khả năng hát đúng điệu. Sau khi tham gia mô hình câu lạc bộ ngoại khóa và các buổi điền dã, tỷ lệ học sinh nắm vững làn điệu, thực hiện đúng động tác chèo thuyền tăng vọt lên 88,3%, với 100% học sinh tham gia bày tỏ sự hào hứng với các làn điệu quê hương.

Thảo luận kết quả

Sự chênh lệch rõ nét giữa kết quả trước và sau thực nghiệm khẳng định hoạt động ngoại khóa là con đường tối ưu để bảo tồn nghệ thuật truyền thống trong trường học. Khác với Chèo cổ vùng châu thổ Bắc Bộ vốn đòi hỏi kỹ thuật bẻ làn nắn điệu phức tạp và hệ thống nhân vật kịch bản hoàn chỉnh, Chèo cạn Cảnh Dương mang tính dân dã, ngẫu hứng và gắn bó mật thiết với nhịp sống lao động nghề cá.

Trong thực tế nghiên cứu, toàn bộ dữ liệu khảo sát được mô hình hóa qua biểu đồ cột so sánh mức độ tiến bộ của học sinh qua các tiêu chí: cao độ, trường độ, phong cách biểu cảm và kỹ năng phối hợp đạo cụ mái chèo. Bảng ma trận đối sánh thang âm ngũ cung cũng làm rõ sự giao thoa độc đáo giữa âm hưởng phương Bắc và nét luyến láy trầm bổng của dải đất miền Trung. Việc giải phóng áp lực điểm số và đưa học sinh về đúng không gian văn hóa tại Ngư Linh Miếu đã kích hoạt lòng tự hào cội nguồn, giúp các em hấp thụ di sản một cách tự nhiên nhất.

Đề xuất và khuyến nghị

  1. Thành lập và duy trì Câu lạc bộ Âm nhạc Dân gian học đường: Ban Giám hiệu nhà trường phối hợp cùng giáo viên âm nhạc tổ chức câu lạc bộ với quy mô 40 đến 50 học sinh nòng cốt, sinh hoạt định kỳ 2 tuần một lần, bắt đầu triển khai ngay từ đầu mỗi năm học.
  2. Tổ chức chuỗi hoạt động điền dã và học tập trải nghiệm di sản: Giáo viên bộ môn chủ động liên kết với Hội Người cao tuổi và Ban quản lý Ngư Linh Miếu để đưa 100% học sinh khối 6 và khối 7 tham quan thực tế, nghe nghệ nhân truyền dạy kỹ năng cầm chèo và gõ sanh vào dịp Lễ hội Cầu Ngư tháng Giêng và tháng 11 âm lịch hàng năm.
  3. Biên soạn tài liệu và ký âm hóa các bài bản Chèo cạn lời mới: Giáo viên âm nhạc phối hợp với các nghệ nhân dân gian như ông Phạm Ngọc Thức hoàn thành việc ký âm và biên tập tuyển tập 5 làn điệu Chèo cạn mang chủ đề mái trường, quê hương trong vòng 6 tháng để làm cẩm nang học tập thống nhất.
  4. Đẩy mạnh sân khấu hóa và truyền thông học đường: Đoàn Thanh niên và Liên đội nhà trường tổ chức tối thiểu 2 hội diễn văn nghệ ngoại khóa mỗi năm học, phấn đấu đạt tỷ lệ 95% học sinh toàn trường biết thưởng thức và hát hòa giọng các câu hò xô cơ bản trong các buổi sinh hoạt dưới cờ.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

  1. Giáo viên âm nhạc cấp trung học cơ sở: Nắm bắt hệ thống giáo án ngoại khóa chi tiết, phương pháp ký âm và kỹ thuật truyền dạy các làn điệu dân ca nghi lễ miền biển vào môi trường học đường.
  2. Cán bộ quản lý giáo dục tại các trường phổ thông: Tiếp cận mô hình tích hợp giáo dục di sản vào kế hoạch giáo dục nhà trường, nâng cao hiệu quả giáo dục thẩm mỹ và bản sắc địa phương theo định hướng đổi mới.
  3. Nhà nghiên cứu âm nhạc dân gian và văn hóa học: Khai thác kho tư liệu điền dã quý giá về cấu trúc thang âm ngũ cung Sol Huỳnh, Sol Bắc và phương thức diễn xướng Chèo cạn đặc thù của vùng duyên hải Quảng Bình.
  4. Học viên cao học và sinh viên ngành Sư phạm Âm nhạc: Tham khảo khung phương pháp luận nghiên cứu thực nghiệm sư phạm, kỹ thuật thiết kế bảng hỏi và quy trình đánh giá định lượng trong nghiên cứu khoa học giáo dục.

Câu hỏi thường gặp

Tại sao nên đưa Hát Chèo cạn vào hoạt động ngoại khóa thay vì chương trình chính khóa?

Chương trình chính khóa hiện nay bị giới hạn bởi khung phân phối 1 tiết mỗi tuần và phải tuân thủ nghiêm ngặt chuẩn kiến thức của Bộ Giáo dục và Đào tạo. Hoạt động ngoại khóa tạo ra không gian mở linh hoạt, cho phép học sinh vừa học hát vừa thực hành múa chèo với đạo cụ thực tế mà không gây quá tải chương trình học.

Đội hình diễn xướng chuẩn của Hát Chèo cạn gồm những ai và sử dụng đạo cụ gì?

Một đội hình chuẩn gồm 13 người, trong đó 1 người giữ vai trò hò cái (lĩnh xướng) cầm thanh sanh đứng ở mũi thuyền để chỉ huy, 6 đến 12 bạn chèo (hò xô) xếp thành hai hàng dọc cầm mái chèo gỗ sơn màu sặc sỡ, cùng đội cờ dẫn thuyền di chuyển theo nhịp hò dứt khoát.

Đặc trưng thang âm của Chèo cạn Cảnh Dương có gì khác biệt so với dân ca các vùng khác?

Âm nhạc Chèo cạn Cảnh Dương được xây dựng trên sự đan xen giữa hai điệu thức ngũ cung Sol Huỳnh và Sol Bắc. Lối hát sử dụng nhiều hư từ đệm như "bớ hò", "bớ hụi", kết hợp dấu giọng phương ngữ miền Trung với cao độ thanh sắc luôn thấp hơn thanh không dấu, tạo nên giai điệu vừa mộc mạc vừa da diết.

Học sinh không có năng khiếu ca hát có thể tham gia câu lạc bộ Chèo cạn được không?

Hoàn toàn có thể tham gia thuận lợi vì Chèo cạn mang tính diễn xướng tập thể cao. Các em có thể đảm nhận phần hò xô đồng thanh, tham gia đội múa mái chèo hoặc cầm cờ dẫn thuyền. Thực tế thực nghiệm chứng minh hơn 85% học sinh đại trà đều nhanh chóng hòa nhịp tốt chỉ sau 4 buổi luyện tập.

Làm thế nào để giải quyết vấn đề kinh phí trang phục và đạo cụ cho câu lạc bộ học đường?

Nhà trường hoàn toàn có thể xã hội hóa thông qua sự hỗ trợ của Hội phụ huynh và chính quyền xã Cảnh Dương. Đạo cụ mái chèo và phách sanh có thể tận dụng chế tác từ tre nứa sẵn có tại địa phương, trong khi trang phục áo bà ba và khăn đóng có thể sử dụng chung cho nhiều thế hệ học sinh.

Kết luận

  • Luận văn hệ thống hóa toàn diện cơ sở lý luận về diễn xướng dân gian và giá trị văn hóa lịch sử gần 400 năm của nghệ thuật Hát Chèo cạn làng biển Cảnh Dương.
  • Phân tích sâu sắc cấu trúc âm nhạc độc đáo với sự kết hợp của 3 làn điệu cốt lõi trên nền thang âm ngũ cung Sol Huỳnh và Sol Bắc đặc trưng duyên hải miền Trung.
  • Đánh giá thực trạng giảng dạy âm nhạc tại Trường Trung học cơ sở Cảnh Dương, chỉ rõ rào cản về thời lượng chính khóa và khẳng định tính tất yếu của mô hình ngoại khóa.
  • Thực nghiệm thành công mô hình Câu lạc bộ Chèo cạn học đường, nâng tỷ lệ học sinh nắm vững kỹ năng thực hành di sản từ 21,5% lên 88,3%.
  • Đề xuất 4 nhóm giải pháp sư phạm mang tính ứng dụng cao, gắn kết chặt chẽ giữa nhà trường, nghệ nhân dân gian và không gian văn hóa Ngư Linh Miếu.

Công trình là đóng góp khoa học có giá trị thực tiễn to lớn cho chuyên ngành Lý luận và Phương pháp dạy học Âm nhạc. Trong giai đoạn tiếp theo từ năm 2018 đến 2020, mô hình này cần được nhân rộng ra các trường phổ thông ven biển trên toàn tỉnh Quảng Bình. Các nhà trường và giáo viên âm nhạc hãy chủ động triển khai mô hình câu lạc bộ ngoại khóa ngay hôm nay để gìn giữ mạch nguồn di sản văn hóa dân tộc mãi trường tồn cùng thời gian.