Chương 1 cũng mô tả về quy trình tìm kiếm và phát triển thuốc mới (một ứng dụng quan trọng của ngành tin sinh) và một số phương pháp đang được nghiên cứu, áp dụng để cải thiện quy trình đó (thiết kế thuốc, xác định thêm đích mới của thuốc, sàng lọc ảo,…) 1.1 Tin sinh học và một số khái niệm cơ bản Tin sinh học (Bioinformatics) là một lĩnh vực nghiên cứu kết hợp giữa ngành sinh học, cụ thể là sinh học phân tử (Molecular Biology) và ngành khoa học tính toán (Informatics). Tin sinh học giải quyết các bài toán sinh học bằng cách sử dụng các phương pháp của khoa học tính toán. Các phương pháp tin sinh học giúp các nhà nghiên cứu sinh học xử lý dữ liệu phức tạp và phát hiện ra mối quan hệ giữa các yếu tố sinh học. Tin sinh học giúp tăng tốc quá trình nghiên cứu và phát triển các phương pháp mới trong sinh học, mang lại lợi ích cho các lĩnh vực như y học, nông nghiệp, môi trường, v.1 Mối quan hệ giữa các ngành toán thống kê, khoa học máy tính và sinh học [1].
Một số khái niệm cơ bản Trong sinh học phân tử có ba yếu tố quan trọng và có mối quan hệ chặt chẽ với nhau, đó là: gen, protein và thuốc (drug) / bệnh(disease) [2]. Các vấn đề và bài toán trong tin sinh học đều xuất phát từ mối quan hệ giữa ba yếu tố này. Trong cơ thể của sinh vật sống tồn tại đến hàng trăm tỉ tế bào (cell). Phần hạt nhân của tế bào (cell nucleus) chứa một bộ nhiễm sắc thể (là một chuỗi DNA - DeoxyriboNucleic Acid) gồm các cặp nhiễm sắc thể (chromosomes), và mỗi cặp 3 nhiễm sắc thể này có một chức năng nhất định.
Mỗi chuỗi DNA đóng vai trò quan trọng trong việc lưu trữ và truyền đạt thông tin di truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác. Mỗi cặp nhiễm sắc thể có một số lượng gen (gene) khác nhau. Gen chứa thông tin di truyền để điều khiển một tính trạng di truyền cụ thể và thông qua quá trình tổng hợp tạo protein. Gen được định nghĩa là một đoạn trên DNA, chứa thông tin di truyền để điều khiển một tính trạng di truyền cụ thể và thông qua quá trình tổng hợp tạo protein.
Trước khi tạo thành protein, DNA được phiên mã thành RNA (RiboNucleic Acid), RNA chính là biểu hiện của gen. Ví dụ, có thể người có hàng tỉ tế bào trong cơ thể (tế bào tóc, tế bào da,…). Trong bất cứ tế bào nào cũng chứa các đoạn gen là như nhau, tuy nhiên đối với từng tế bào, biểu hiện gen ra bên ngoài lại khác nhau (do các gen được bật tắt như nào), v. Protein là một loại phân tử sinh học quan trọng, được tạo ra từ sự kết hợp của các amino acid.
Mỗi protein được tạo ra từ một chuỗi các amino acid được liên kết với nhau bởi các liên kết peptide. Protein có vai trò quan trọng là thành phần vận hành cơ thể và trong nhiều quá trình sinh học, như là cấu trúc của tế bào, tạo năng lượng, truyền tín hiệu, v. Protein thường không hoạt động độc lập mà tương tác với các phân tử khác để tạo thành những cấu trúc gọi là protein phức tạp (complex protein). Các protein phức tạp này có thể tham gia vào nhiều quá trình sinh học khác nhau và đóng vai trò quan trọng trong việc điều khiển các quá trình này.
Chức năng của mỗi protein được quy định bởi gen tương ứng trên nhiễm sắc thể. Mỗi gen chứa thông tin di truyền để tạo ra một protein cụ thể, và quá trình biểu hiện gen là quá trình tạo ra protein từ chuỗi DNA tương ứng. Do đó, gen là đơn vị cơ bản của di truyền, và chúng quyết định tính chất và chức năng của các protein trong cơ thể. Thuốc là một hợp chất hóa học được sử dụng để điều trị và ngăn ngừa bệnh tật.
Thuốc thường bao gồm các thành phần hóa học như carbon (C), hydrogen (H), nitrogen (N), oxygen (O), v. Một số thuốc có hoạt tính sinh học (bioactive), tức là chúng có khả năng tác động vào các quá trình sinh học trong cơ thể. Các thuốc này thường làm thay đổi quá trình hoạt động của các protein trong cơ thể, bao gồm cả các enzym và các thụ thể tế bào (receptor). Các protein này thường có vai trò quan trọng trong các quá trình sinh học như truyền tín hiệu, điều tiết hoạt động của tế bào và tương tác giữa các tế bào.
Bằng cách tác động vào các protein này, thuốc có thể giúp điều trị các bệnh tật. Tuy nhiên, việc tìm ra các thuốc có hoạt tính sinh học hiệu quả và an toàn là một quá trình nghiên cứu và phát triển phức tạp và tốn kém thời gian và chi phí. Luận văn này giới hạn phạm vi nghiên cứu trên hai yếu tố đó là protein và thuốc, cụ thể là nghiên cứu sự tương tác giữa thuốc với đích protein để giúp làm giảm các thí nghiệm sàng lọc và tiết kiệm chi phí, thời gian sản xuất thuốc.2 dưới đây mô tả học thuyết trung tâm (Central Dogma), quá trình từ gen đến hình thành protein.2 Học thuyết trung tâm [3]. Các biến đổi trên hệ gen có thể bị biến đổi ở mức nucleotide (A, T, G, X) hoặc cũng có thể bị biến đổi trên các cặp nhiễm sắc thể.
Khi có sự thay đổi của một cặp nucleotide (chèn, thay thế, xóa,.) cũng có thể gây ra bệnh. Dựa vào sự thay đổi trên hệ gen, các bệnh ở người có thể được phân loại là bệnh đơn gen (monogenic), bệnh nhiễm sắc thể (chromosomal), bệnh đa yếu tố (multifactorial) [4]. Các bệnh đơn gen gây ra bởi những thay đổi trong một gen duy nhất, được phân tách trong gia đình theo nguyên tắc thừa kế. Những thay đổi này có thể là sự thay đổi của một nucleotide duy nhất trong DNA (gọi là đột biến - mutation) hoặc là sự thiếu hụt hoặc thừa kế một phiên bản gen (allele) trong quá trình phân li của tế bào tinh trùng hoặc tế bào trứng.
Ví dụ, bệnh thiếu máu hồng cầu hình liềm như Hình 1.3 Bệnh thiếu máu hồng cầu hình liềm. 5 Các bệnh nhiễm sắc thể gây ra bởi sự thay đổi trong số lượng, cấu trúc hoặc sắp xếp của các nhiễm sắc thể. Ví dụ, hội chứng Down là một bệnh nhiễm sắc thể phổ biến nhất, được gây ra bởi sự thay đổi số lượng nhiễm sắc thể. Thay vì có hai bộ nhiễm sắc thể số 21, người bị bệnh Down có ba bộ nhiễm sắc thể số 21.
Bệnh Down gây ra các vấn đề về phát triển và nhận thức, và có thể dẫn đến các vấn đề sức khỏe khác như bệnh tim, bệnh đường ruột và khuyết tật thần kinh.4 Biểu hiện nhiễm sắc thể của người có hội chứng Down [5]. Các bệnh đa yếu tố thường là do sự biến đổi của hệ gen bởi sự tương tác giữa các yếu tố di truyền và có thể bị ảnh hưởng hoặc không ảnh hưởng bởi môi trường. Ví dụ, bệnh tiểu đường là một bệnh đa yếu tố, được ảnh hưởng bởi sự tương tác giữa nhiều yếu tố di truyền khác nhau và môi trường. Những người có tiền sử gia đình về bệnh tiểu đường có nguy cơ mắc bệnh cao hơn, tuy nhiên, môi trường cũng có thể đóng vai trò quan trọng trong việc góp phần vào sự phát triển của bệnh, bao gồm chế độ ăn uống, động lực học, cân nặng, stress, và các yếu tố khác.
Các bệnh đa yếu tố khác bao gồm bệnh ung thư, bệnh tim mạch, bệnh Parkinson và nhiều bệnh khác. Các cá thể sống có tới 99,99% là giống nhau trên hệ gen, chỉ có 0.01% khác nhau trên DNA và chỉ có 2% hệ gen đóng vai trò tạo ra protein, 98% kia có thể đóng vai trò điều hòa quá trình tạo protein. Gen trên DNA quyết định quá trình sinh ra và tổng hợp protein. Vì vậy, nó quyết định sự ổn định của toàn bộ cơ thể sống và do đó có rất nhiều bệnh phát sinh do gen gây nên.
Y học chính xác / y học cá thể hóa (Precision Medicine/Personalized Medicine) được hiểu là điều trị đúng phương pháp cho đúng người bệnh tại đúng thời điểm với đúng liều lượng. Hiểu một cách đơn giản, y học chính xác là điều trị trúng đích (targeted therapy): xét nghiệm gen và dựa trên đặc trưng về hệ gen để đưa ra lựa chọn thuốc điều trị chính xác hơn. Ví dụ, tại Việt Nam, khi chữa bệnh thì mọi người chưa quan tâm đến đặc trưng sinh học. Các bác sĩ thường kê thuốc theo chỉ định, sử dụng thuốc khi không xét nghiệm DNA để xem người ta có biến dị, biến đổi gì trong DNA hay không? Nếu có thì dùng với liều lượng bao nhiêu, 6 hoặc thậm chí là không được dùng.
Phạm vi và ứng dụng của y học chính xác được trình bày trong Bảng 1.1 Phạm vi và ứng dụng của y học chính xác Phạm vi Ứng dụng Đánh giá nguy Cho phép xác định nguy cơ mắc bệnh của một người. cơ Ví dụ: Xét nghiệm gen BRCA1/2 sẽ cho phép xác định những người có nguy cơ cao bị ung thư vú, gen APC chịu trách nhiệm cho bệnh đa polyp tuyến gia đình. Chẩn đoán và Chẩn đoán chính xác và cho phép xác định hướng điều trị cho phân loại từng cá nhân cụ thể. Đối với các bệnh hiếm gặp cũng như là các bệnh khó chẩn đoán, y học chính xác giúp chẩn đoán chính xác lên đến 40%.
Ví dụ: các khối u não tế bào thần kinh nguyên thủy (PNET, bệnh thường gặp ở trẻ em) được phân loại dựa trên sự thay đổi của các gen FOXR2, CIC, MN1, BCOR. Ngăn ngừa Cho phép can thiệp hoạt động điều trị, lối sống, hành vi để ngăn ngừa bệnh phát triển. Ví dụ: Đột biến ở những gen MLH1, MSH2, MSH6, PMS2 có nguy cơ 70% phát triển ung thư trực tràng. Phát hiện Một số tế bào ung thư khi chết sẽ giải phóng vật liệu di truyền hoặc các chỉ dấu sinh học vào trong hệ tuần hoàn.
Việc phát hiện chỉ dấu phân tử lưu chuyển trong máu (sinh thiết lỏng - liquid biopsy) sẽ cho phép phát hiện sớm ung thư hoặc phát hiện sớm sự tái phát. Điều trị Trong điều trị ung thư Ví dụ: Phân tích dữ liệu hệ gen đã trở thành chuẩn mực cho việc điều trị ung thư tuyến phổi; sử dụng các bộ xét nghiệm ung thư để phát hiện đột biến trên một số gen có liên quan đến ung thư.2 Quá trình sản xuất thuốc và vai trò của sàng lọc ảo trong quá trình sản xuất thuốc Quy trình tìm kiếm và phát triển thuốc mới theo phương pháp truyền thống Quá trình sản xuất thuốc còn được gọi là quá trình tìm kiếm và phát triển thuốc mới.