CHƯƠNG 1. GIỚI THIỆU Cải thiện cuộc sống của con người một cách bền vững là một trong các nhiệm vụ trọng tâm của kỹ thuật hóa học và ngành hóa học. Nhằm đạt được điều này, các nhà hóa học và kỹ sư cần tìm ra các hợp chất hóa học hoặc vật liệu tốt hơn: ví dụ như phân tử thuốc có hiệu quả điều trị tốt nhưng độc tính thấp, vật liệu có hiệu suất chuyển đổi ánh sáng mặt trời sang năng lượng tốt hơn,. Mặc dù vậy, không gian tìm kiếm có thể đến hơn 1060 cấu trúc hóa học khác nhau,[6] và do đó, việc sàng lọc không gian gồm tất cả các cấu trúc hóa học chỉ với thực nghiệm là hoàn toàn không khả thi.
Thậm chí việc này là không thể hoàn thành chỉ với công cụ tính toán lý thuyết do các tính toán chất lượng cao cần rất nhiều thời gian và chi phí tính toán (computational cost). Một chiến thuật khôn ngoan để sàng lọc một cách hiệu quả là ta có thể xây dựng một trình tự sàng lọc hình chiếc phễu: các cấu trúc trong không gian tìm kiếm sẽ đi qua nhiều mô hình sàng lọc khác nhau và số lượng cấu trúc ra khỏi mỗi “sàng” sẽ ít hơn số lượng cấu trúc đi vào; mô hình sau sẽ có chi phí và thời gian tính toán nhiều hơn các mô hình trước. Hay nói cách khác, quy trình sàng lọc sẽ cố gắng thu hẹp dần không gian tìm kiếm và các mô hình với chi phí thấp sẽ được sử dụng để sàng lọc các không gian tìm kiếm rộng lớn ban đầu. Hình minh họa cho chiến lược này được cho ở hình 1.
Đến đây ta có thể đặt câu hỏi: đâu là mô hình sàng lọc với chi phí thấp nhưng lại cho hiệu quả cao nhất? Câu trả lời có thể sẽ là machine learning và artificial intelligence (máy học và trí tuệ nhân tạo, ML/AI). Trước tiên, ML/AI cung cấp một giải pháp tính toán với chi phí tương đối thấp so với các phương pháp lí thuyết ab initio. Thêm vào đó, các mô hình ML/AI có thể đạt độ chính xác cao hơn các phương pháp lý thuyết có cùng chi phí tính toán. Trên thực tế, các mô hình ML/AI có thể “học” được dữ liệu từ các tính toán chất lượng cao, và do đó, có thể đạt được độ chính xác của các mô hình này với khoảng sai số tương đối.[7, 8] Điều này khiến cho các công cụ ML/AI trở thành các công cụ xây dựng mô hình tiềm năng cho việc sàng lọc cấu trúc hóa học.
Hình minh họa cho chiến thuật sàng lọc theo dạng phễu.[6] Vật liệu bán dẫn hữu cơ (organic semiconductor) mở ra một kỉ nguyên mới cho công nghệ điện tử từ vật liệu hữu cơ. Lớp vật liệu này được dự đoán sẽ thay thế vật liệu dựa trên silicon vốn được sử dụng nhiều cho các công nghệ điện tử. Các vật liệu bán dẫn hữu cơ được chia thành 4 nhóm chính: diodes phát sáng hữu cơ (organic light-emitting diodes, OLEDs),[10] transistor hiệu ứng trường hữu cơ (organic field effect transistors),[11, 12] và quang điện hữu cơ (organic photovoltaics).[13, 14] Luận văn này sẽ tiếp nối những công trình trước của tác giả và nhóm nghiên cứu[1- 4] về việc xây dựng mô hình dự đoán tính chất điện tử bao gồm band gap, electron affinity (EA), và ionization potential (IP) cho các hợp chất đa vòng thơm bao gồm PAH, thienoacenes, và dẫn xuất có nhóm thế của PAH. Tuy nhiên, ở đây, mô hình được sử dụng sẽ hoàn toàn là machine learning để đạt được mô hình tổng quát nhất.
Ngoài ra, lớp phân tử PAH có gắn nhóm thế NO2 sẽ được đưa vào việc mô hình hóa bên cạnh các lớp phân tử đã được mô hình hóa trong các công bố trước đó bao gồm PAH, thienoacenes, và CN-PAH. Mục tiêu đề tài: Xây dựng mô hình máy tính dựa trên thuật toán machine learning (học máy) có: 3 Input - Đầu vào: cấu trúc 2 chiều của Polycyclic Aromatic Hydrocarbon (PAH), thienoacenes, PAH có gắn nhóm thế -CN, -NO2. Output - Đầu ra: dự đoán các tính chất điện tử như band gap, Electron Affinity (EA, ái lực điện tử), và Ionization Potential (IP, thế ion hóa) cho phân tử đầu vào. Mô hình sẽ được xây dựng bằng cách “huấn luyện” (train) nó với một bộ dữ liệu huấn luyện (training set) Mô hình mục tiêu được minh họa trong flowchart của hình 1.
Dữ liệu dùng để xây dựng và kiểm tra mô hình lấy từ các phép tính hóa lượng tử chất lượng cao. Sơ đồ mô tả mô hình machine learning cho việc dự đoán band gap của PAH. Giới thiệu về vật liệu bán dẫn hữu cơ dựa trên phân tử đa vòng thơm. Ngày nay, các phân tử hữu cơ đa vòng thơm là một trong những ứng viên cho các ứng dụng “hữu cơ” vốn chỉ bao gồm vật liệu vô cơ trước đó như bán dẫn, transistor trường điện tử, diode phát sáng,[15] và vật liệu quang điện.
Tính chất đáng mong muốn của một phân tử đa vòng thơm sử dụng cho mục đích làm vật liệu bán dẫn hữu cơ có thể được tóm gọn bởi 3 ý như sau: 1/ có các tính chất (quang) điện tử liên quan tốt, 2/ có độ linh động điện tích (charge mobility) tốt, 3/ bền trước các tác nhân oxi hóa-khử và các phản ứng hóa học không mong muốn. [1] Để có thể tìm được các phân tử thỏa cả các điều kiện này, ta có thể dựa vào các giá trị năng lượng của orbital phân tử cao nhất có chứa electron (Highest Occupied Molecular Orbital - HOMO) và năng lượng của orbital phân tử thấp nhất còn trống (Lowest Unoccupied Molecular Orbital – LUMO) và khoảng cách giữa 2 mức năng lượng này. Cũng cần lưu ý rằng theo định lý Koopman, ta có thể xấp xỉ giá trị HOMO là thế ion hóa (Ionization Potential – IP), và giá trị LUMO là ái lực điện tử (Electron Affinity – EA).[16] Các giá trị năng lượng này đóng một vai trò quan trọng khi xem xét khả năng ứng dụng bán dẫn lượng tử của các phân tử đa vòng thơm. Quan trọng nhất, HOMO, LUMO, và bandgap của một phân tử hữu cơ đa vòng thơm sẽ quyết định độ bền của chúng trước các phản ứng không mong muốn.
Các phản ứng này sẽ bao gồm phản ứng oxi hóa khử và phản ứng Diels-Alder.[17] Trên thực tế, một trong những rào cản và mối quan tâm lớn nhất khi lựa chọn phân tử cho ứng dụng bán dẫn hữu cơ chính là độ bền của chúng. Các phân tử acene thẳng có nhiều vòng thơm hơn pentacene (cấu trúc B trong hình 2.1) sở hữu tính chất điện tử tốt hơn (ví dụ như độ linh động điện tích) cho ứng dụng dụng bán dẫn hữu cơ nhưng lại gặp phải vấn đề là chúng rất không ổn định do có IP thấp và band gap hẹp và do đó chúng rất dễ tham gia vào các phản ứng oxi hóa-khử, phản ứng quang hóa, hay Diels-Alder. Về cơ bản, các acenes thẳng càng dài thì sẽ càng dễ tham gia phản ứng hóa học, với vòng ở giữa dễ trở thành tâm phản ứng, và do đó, sẽ không đủ ổn định cho ứng dụng làm vật liệu bán dẫn. [11, 17] Thêm vào đó, các phân tử acene thẳng càng dài thì sẽ càng gây khó 5 khăn trong việc tổng hợp các tinh thể tương ứng, ví dụ như khó hòa tan các phân từ này và đòi hỏi các nhóm thế giúp tăng độ hòa tan của phân tử.[11] Điều này đặt ra một trở ngại khi cố gắng cải thiện các phân tử acene thẳng như pentacene chỉ với cách nối dài hệ liên hợp với nhiều vòng thơm hơn.
Để cải tiến các phân tử “cổ điển” cho bán dẫn hữu cơ là acene thẳng bao gồm tetracene (cấu trúc A trong hình 2.1) và pentacene, người ta đã đề xuất một vài hướng như sau. Đơn giản nhất, người ta đề xuất gắn các nhóm thế cồng kềnh để bảo vệ các tâm phản ứng và do đó, bền hóa các phân tử acene thẳng. Tuy nhiên, người ta cũng phát hiện rằng tương tác lập thể khiến cho các phân tử mất khả năng sắp xếp theo kiểu 𝜋-stacking, và do đó, làm giảm khả năng truyền tải điện tích trong phân tử. [17] Bên cạnh đó, việc sử dụng các nhóm rút đẩy điện tử như fluorine (F), hay cyano (CN) cũng là một lựa chọn để tăng IP của phân tử theo hướng bền hóa trước các tác nhân oxy hóa.
Mặt khác, thay vì chỉ sử dụng phân tử acenes thẳng như tetracene, pentacene như đã đề cập ở trên, người ta đề xuất sử dụng các acene ngưng tụ 2 chiều như các cấu trúc C và D ở hình 2.[17] Bên cạnh đó, các vòng thơm khác như thiophene cũng có thể được sử dụng để xây dựng và tối ưu phân tử đa vòng thơm cho ứng dụng bán dẫn hữu cơ. Các hợp chất đa vòng thơm với 1 hay nhiều vòng thiophene được gọi là thienoacene. Nhóm phân tử này có rất nhiều hình dạng khác nhau mà người ta có thể tổng hợp được,[2] và do đó, đem lại rất nhiều lựa chọn để các nhà nghiên cứu “tối ưu hóa” phân tử cho ứng dụng bán dẫn hữu cơ (xem cấu trúc E, F, G, và H ở hình 3). Người ta đã tìm ra được rằng các hợp chất thienoacene có các tính chất điện tử đáng mong muốn cho một vật liệu bán dẫn hữu cơ, nhưng vẫn có độ bền tốt.
Do đó, thienoacenes là một nhóm các phân tử có tiềm năng đáng kể trong lĩnh vực bán dẫn hữu cơ.[20] Không những là chỉ dấu cho độ bền của các phân tử, HOMO, LUMO, và band gap cũng là các chỉ dấu cho hiệu suất và tiềm năng của các phân tử đa vòng thơm cho ứng dụng bán dẫn lượng tử. Đối với vật liệu quang điện, hiệu suất chuyển đổi năng lượng (Power Conversion Efficiency – PCE) sẽ phụ thuộc vào giá trị mật độ dòng điện ngắn 6 mạch (short circuit current density 𝐽𝑠𝑐 ) và hiệu điện thế mạch hở (open circuit voltage 𝑉𝑜𝑐 ). Giá trị 𝑉𝑜𝑐 phụ thuộc vào HOMO và LUMO của vật liệu, trong khi 𝐽𝑠𝑐 phụ thuộc vào band gap.[13] Đến đây, chúng ta có thể đi đến kết luận rằng các giá trị bandgap, HOMO/IP, và LUMO/EA là các tham số quan trọng để tối ưu hóa các phân tử đa vòng thơm cho ứng dụng bán dẫn hữu cơ. Một số phân tử đa vòng thơm được đề cập.
Giới thiệu về machine learning trong hóa học. Tổng quan về thuật toán supervised machine learning. Thuật toán machine learning (ML) có thể được chia thành supervised learning (học có giảm sát), unsupervised learning (học không giám sát), reinforcement learning (học tăng cường),. Ứng dụng của thuật toán máy học supervised learning được xem xét trong luận văn này.