CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN ĐỀ TÀI 1. Thông tin tổng quan COVID-19 1. Tác động của COVID-19 Đại dịch Covid-19 được biết đến trên toàn thế giới vào cuối tháng 12/2019, từ Vũ Hán – Hồ Bắc (Trung Quốc) với cơ chế lây chuyền từ động vật sang người và từ người sang người qua không khí, giọt bắn và các tiếp xúc trực tiếp với bề mặt có chứa virus. Ngoài ra, virus có thể tồn tại ở nhiệt độ bình thường tới ba tiếng và với nhiệt độ càng thấp sự tồn tại sẽ được kéo dài hơn đến một tháng nếu nhiệt độ lạnh khoản 4 độ C.
Với sự cơ chế dễ lây chuyền đặc biệt từ người sang người kết hợp thời gian tồn tại lâu covid – 19 đã lây lan một cách nhanh chóng và phát triển them nhiều biến thể mới từ loại góc từ đó đã lan ra toàn thế giới tạo thành một đại dịch từ cuối năm 2019 đến nay. Ảnh hưởng của đại dịch COVID-19 đối với đời sống và xã hội Số lượng người mặc bệnh tăng cao, bệnh viện quá tải, trang thiết bị y tế không đủ nguồn cung dẫn đến các nước trên thế giới rơi vào tình trang khủng hoảng, lo sợ. Các nước lần lượt thực hiện chính sách phong tỏa, hạn chế đi lại làm gián đoạn chuỗi cung ứng hàng hóa, giảm sự hợp tác chống lại dịch bệnh giữa các nước, nền kinh tế bị thiệt hại nặng nề. Cùng với đó, covid – 19 còn làm giảm hệ thống miễn dịch gây ra nhiều bệnh khác cho người bị mắc bệnh trường hợp xấu nhất gây tử vong.
1: Biểu đồ số ca mắc mới ở Việt Nam từ 30/11/2021 đến 28/03/2022 (Nguồn: https://ourworldindata.org/coronavirus/country) 5 1. Đặc điểm dữ liệu về số ca mắc mới Dịch bệnh COVID-19 đang bùng phát, diễn biến vô cùng phức tạp với số ca nhiễm tăng nhanh thay đổi hàng ngày làm cho tất cả hệ thống y tế, lương thực nhu yếu phẩm bị trì trệ, không đủ để cung cấp. Số ca mắc mới liên tục tăng và được công bố từng ngày với các đặc điểm như: - Thay đổi đặc biệt bất thường không tuấn theo những quy luật đã biết. - Đỉnh dịch có phân bố rộng và liên tổng thay đổi, tồn tại nhiều đỉnh dịch khác nhau.
Đỉnh dịch thay đổi nhanh và không tính dừng thống kê. - Không thể xác định được quy luật hành thành đỉnh dịch. 2: Biểu đồ số ca mắc mới tại Việt Nam từ 08/03/2021 đến 26/07/2021 (Nguồn: http://medinet. Phương pháp lọc thích nghi Bộ lọc cố định được thiết kế để xử lý trên dữ liệu có thuộc tính dừng cố định.
Widrow và học trò của ông là Wien và Hopf đã đề xuất thuật toán LMS, cho phép Bộ lọc thích nghi có khả năng tự động điều chỉnh thích nghi khi có sự thay đổi tham số dừng của dữ liệu. Hiểu cách khác, sau khi thuật toán hội tụ, bộ lọc vẫn có khả năng tự điều chỉnh các hệ số trong bộ lọc mỗi khi dữ liệu thay đổi trạng thái dừng. Tổ hợp thích nghi tuyến tính Đối với những hệ thống xử lý tín hiệu thích nghi, tổ hợp thích nghi tuyến tính (Hình 1.3) là thành phần quản trọng, giữ yếu tố trung tâm và có vai trò quyết định. Delay x(n-L) wL Hình 1.
3: Tổ hợp thích nghi tuyến tính Trên thực tế có nhiều mô hình thích nghi được sử dụng rộng rãi chẳng hạn như nhận dạng, lọc nhiễu, sửa sóng và dự đoán tất cả mô hình điều sử dụng một phiên bản của tổ hợp thích nghi tuyến tính. Trong đó, có thuật toán LMS cũng được phát triển để có thể áp dụng trên tổ hợp thích nghi tuyến tính. Bao gồm cấu tạo chính như sau: Tín hiệu đầu vào chứa những phần tử x (n ), x (n - 1),. x (n - L ) trong đó n Î Z là biến thời gian rời rạc.
x (n ) thường được mô tả bởi hàm xung Dirac. Mô tả như sau: x (n ) = A d(n ) trong đó: 1 n=0 ( n) = 0 n0 A R là độ lớn, hoặc biên độ của x (n ) Với L Î Z , có thể coi x (n - L ) là tín hiệu được làm trễ L lần của x (n ) 7 - w0, w1, .wL là các trọng số có thể điều chỉnh. - Bộ lấy tổng số học. - Một đầu lấy tín hiệu ra với.1) k= 0 Các trọng số là các số thực và được điều chỉnh sao cho y (n ) giống nhất với d (n ) (Xem lại Hình 1.
Việc điều chỉnh các trọng số được coi là thủ tục thích nghi cho tổ hợp. Theo công thức (1. đầu ra là kêt quả tổ hợp tuyến tính từ các thành phần tín hiệu đầu vào. Thuật toán dốc nhất Đây là phương pháp sử dụng lặp để tìm tập trọng số với giá trị tương ứng với điểm cực tiểu của mặt sai số của bộ lọc thích nghi.
Đối với phương pháp này, ta sẽ tìm được điểm cực tiểu của hàm mục tiêu sau một số hữu hạn lần lặp, trong đó mỗi lần lặp, bước trượt sẽ ngược chiều với gradient tại bước lặp đó. Do gradient là vector luôn vuông góc với đường mức. Do vậy thuật toán này được gọi là thuật toán dốc nhất. 4: Hình minh họa thuật toán dốc nhất (Nguồn: https://www.com/2018/07/gradient-descent.
Thuật toán LMS Thuật toán bình phương trung bình tối thiểu LMS là thuật toán được sử dụng rộng rãi trong xử lý tính hiệu thích nghi. Tập trọng số được lựa chọn sao cho hàm mục tiêu đạt cực tiểu: B. Widrow đã xác lập công thức lặp để tính tập trọng số như sau: W k + 1 = W k + 2mek X k 8 Trong đó: - μ là tham số bước của thuật toán - là xấp xỉ độ lớn (magnitude) của gradient được tính xấp xỉ tại bước k 1. Định lý bayes Định lý bayes là kết quả lý thuyết xác suất cho phép ta tính xác suất xảy ra của một sự kiện A bất kỳ khi ta biết được những sự kiện B đã xảy ra có liên quan.
Ta có thể đọc là “Xác suất của A nếu có B”. Giá trị này được gọi là xác suất có điều kiện hay gọi cách khác là xác suất hậu nghiệm vì tại đó giá trị được rút ra từ giá trị được cho của B hoặc phụ thuộc vào giá trị đó. Công thức bayes Theo định lý Bayes, ở đây xác suất xuất hiện của A khi biết được giá trị B sẽ phụ thuộc vào 3 yếu tố: - Xác suất xảy ra giá trị A của riêng giá trị đó không quan tâm đến giá trị B. Được ký hiệu P(A) được đọc là xác suất của A.
- Xác suất xảy ra giá trị B của riêng giá trị đó không quan tâm đến giá trị A. Được ký hiệu P(B) được đọc là xác suất của B. - Xác suất xảy ra giá trị B khi biết A xảy ra Được ký hiệu P(B|A) đọc là xác suất của B nếu có A. Khi có được ba đại lượng nói trên, ta có công thức xác suất của A khi biết B: 𝑷(𝑩|𝑨)𝑷(𝑨) 𝑷(𝑨|𝑩) = 𝑷(𝑩) Từ đó ta có: 𝑷(𝑨|𝑩)𝑷(𝑩) = 𝑷(𝑨 ∩ 𝑩) = 𝑷(𝑩|𝑨)𝑷(𝑨) 1.
Các dạng khác của định lý bayes Ngoài công thức cơ bản trên, định lý bayes cũng thường được viết dưới dạng. 𝑷(𝑩) = 𝑷(𝑨, 𝑩) + 𝑷(𝑨𝑪 , 𝑩) = 𝑷(𝑩|𝑨)𝑷(𝑨) + 𝑷(𝑩|𝑨𝑪 )𝑷(𝑨𝑪 ) 9 Hoặc: 𝑷(𝑩|𝑨)𝑷(𝑨) 𝑷(𝑨|𝑩) = 𝑷(𝑩|𝑨)𝑷(𝑨) + 𝑷(𝑩|𝑨𝑪 )𝑷(𝑨𝑪 ) Ở đây AC là biến cố bù của biến cố A. Tổng quá hơn, ta có {A j} tạo thành phân hoạch của không gian các biến cố. 𝑷(𝑩|𝑨𝒋 )𝑷(𝑨𝒋 ) 𝑷(𝑨𝒋 |𝑩) = ∑𝒋 𝑷(𝑩|𝑨𝒋 )𝑷(𝑨𝒋 ) 10 CHƯƠNG 2: ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP ÁP DỤNG LỌC THÍCH NGHI VÀ XÁC XUẤT BAYES DỰ ĐOÁN SỐ CA NHIỄM MỚI COVID – 19 2.
Bài toán dự đoán số ca nhiễm. Đặt ra vấn đề nghiên cứu Các vấn đề cần nghiên cứu để hỗ trợ cho luận văn: - Tìm hiểu về phương pháp lọc thích nghi và xác suất bayes. - Áp dụng phương pháp lọc thích nghi xây dựng công thức dự đoán cho nội dung luận văn. - Thông qua thuật toán bayes tính toán xác suất và mức độ áp dụng của dữ liệu được dự đoán.
- Thực hiện trực quan dữ liệu dưới dạng biểu đồ thông qua ngôn ngữ học máy. Giải pháp Dịch bệnh covid – 19 đã và vẫn đang tiếp tục gây ảnh hưởng đến nhiều mặt đối với xã hội. Để khắc phục được những vấn đề do dịch bệnh gây ra cũng như là đối phố với dịch bệnh trong thời gian sắp tới cần đưa ra chính sách hợp lý, phân bổ nguồn nhân lực, vực tư, … đẩy mạnh tiêm ngừa vaccine cho cộng đồng. Để làm được những việc đó cần có những công cụ giúp hỗ trợ cho việc kiểm soát dịch trong đó có công cụ dự đoán số lượng ca nhiễm bệnh để từ đó đưa ra các chính sách phù hợp hỗ trợ trong công cuộc phòng chống dịch bệnh.
Ý tưởng chuyển đổi của bài toán dự đoán sẽ được chia thành 2 bài toán nhỏ hơn, bài toán đó là bài toán ước lượng độ dốc mới và bài toán xác định độ chuyển hướng của dữ liệu áp dụng với phương pháp lọc thích nghi được gợi ý từ (Hình 2. 1: Biểu đồ dự đoán số ca nhiễm COVID-19 (Nguồn: [34]) Ở đây, tại từng móc thời gian khả năng dữ liệu được mô phỏng thông qua một miền mô tả nhiều khả năng có thể xảy ra ở tưởng lại. Độ rộng của từng miền có thể phụ thuộc vào độ dóc tại thời điểm hiển tại tương ứng. Nhưng trong [34] tác giả công bố biểu đồ lại không trình bày cách tính độ dóc tại từng thời điểm có trên biểu đồ.
Vì vậy, ý tưởng đề xuất lời giải cho bài toán xác định độ dốc thông qua biến đổi sóng nhỏ. Thực hiện áp dụng biến đổi sóng nhỏ để ước lượng độ dốc được đề xuất từ việc tiếp xúc, xem chuỗi số liệu thời gian là quá trình biến đổi. Các nghiên cứu liên quan Bài dự đoán được giải quyết dựa trên đề giả định bài toán dự đoán chuỗi dữ liệu thời gian. Phép biến đổi sóng nhỏ cũng được áp dụng để tính gần đúng độ dóc trong chuỗi dữ liệu liên tiếp.
Độ chính xác của mô hình đề xuất được so sánh với kết quả mới và đáng tin cậy. Và bài toán này cũng được dựa trên từ các bài toán nghiên cứu khác có liên quan gần với bài nghiên cứu như: - Supriadi Putra, Khozin Mu'tamar, Zulkarnain [1] sử dụng thuật toán bầy đàn (PSO) để ước tính các tham số của mô hình SIR (Susceptible, Infected, Recovered) cho phép nghiên cứu sự chuyển đổi giữa 3 trạng thái: Dễ nhiễm bệnh – Bị nhiệm bệnh – Đã chữa 12 khỏi. Kết quả thu được với sai số đủ tin cậy so với các phương pháp khác.