đặt vấn đề sức khỏe con người lên hàng đầu. Tùy theo mục tiêu của từng chương trình quan trắc, các hệ thống quan trắc tự động môi trường nước lưu vực sông, hệ thống quan trắc chất lượng nước cấp, hệ thống quan trắc nước thải công nghiệp đối với các khu công nghiệp, hệ thống quan trắc nước tưới tiêu thủy lợi, chăn nuôi cho hoạt động nông nghiệp và NTTS. được xây dựng với các bộ chỉ tiêu kiểm soát chất lượng nước đặc thù phục vụ công tác quản lý và bảo vệ môi trường. Tại các nước phát triển, nguồn kinh phí cho các hoạt động quan trắc tương đối lớn, đặc biệt đối với quan trắc theo phương pháp tự động được đầu tư với các trang thiết bị hiện đại, duy tu bảo dưỡng thường xuyên, nguồn nhân lực vận hành hệ thống cũng được đào tạo bài bản.
Đi kèm là các hệ thống đảm bảo chất lượng và kiểm soát chất lượng được văn bản hóa và thực hiện nghiêm ngặt, các phần mềm ứng dụng, dự báo và đánh giá chất lượng môi trường được phát triển mạnh. Về hành lang pháp lý cho hoạt động quan trắc môi trường tự động, hệ thống cơ sở khoa học và pháp lý được từng bước xây dựng với các văn bản hướng dẫn, các quy định sử dụng số liệu, các chính sách nhân sự. Công tác quan trắc tự động, liên tục được lồng ghép, kết hợp với các hoạt động nghiên cứu khoa học công nghệ. Số liệu quan trắc được chia sẻ rộng rãi tới cộng đồng thông qua nhiều hình thức: chỉ số chất lượng, báo cáo khoa học, hội thảo, trang web, diễn đàn, thống kê.
Nhiều chương trình quan trắc xuyên biên giới, toàn cầu được xây dựng nhằm đánh giá mức độ ô nhiễm môi trường trên khu vực rộng, quy mô lớn.1 Một số hệ thống quan trắc môi trường NTTS trên thế giới Năm 2003, với sự ủng hộ kinh phí của chính phủ Nhật Bản, bộ phận Quản lý nuôi trồng thủy sản của FAO và Cục Bảo tồn thiên nhiên (FIMA) thực hiện đề án “Nuôi trồng thủy sản bền vững: Các vấn đề được lựa chọn và hướng dẫn” tập trung vào 5 nội dung trong đó có quan trắc và đánh giá ảnh hưởng môi trường nuôi trồng thủy sản của 35 nước ở 4 khu vực: Châu Phi, châu Á - Thái Bình Dương, châu Mỹ La Tinh và Bắc Mỹ. Australia và New Zealand cũng là những nước đầu tiên ban hành quy trình hướng dẫn quan trắc chất lượng nước nuôi trồng thủy sản. Hướng dẫn này tập trung vào các yếu tố vật lý, hóa học và vi sinh có thể gây ảnh hưởng tới sản lượng hoặc chất lượng nguồn thức ăn cho tiêu dùng. Các thông số dùng để quan trắc bao gồm: Các yếu tố vi sinh (vi khuẩn lam, mầm bệnh, ký sinh trùng); các yếu tố lý hóa (DO, pH, độ muối, và nhiệt độ); các độc chất vô cơ và hữu cơ (kim loại nặng, thuốc trừ sâu) [5].
Một số hệ thống quan trắc tự động môi trường NTTS trên thế giới Như đã nhận định ở trên, việc tiến hành quan trắc chất lượng nước đối với NTTS là cần thiết đặc biệt là phương pháp quan trắc tự động nhằm có kết quả tức thời, liên tục chất lượng nước phục vụ nuôi trồng thủy sản và cảnh báo sớm các nguy cơ gây hại đối với con giống. Do đó, bộ thông số hóa lý gồm các chỉ tiêu cơ 7 bản được nhiều hệ thống quan trắc tự động trên thế giới lựa chọn. Soonhee Han và cộng sự [9] xây dựng hệ thống quan trắc cho trang trại nuôi trồng thủy sản đặc thù, các chỉ tiêu tiến hành quan trắc chất lượng nước gồm độ dẫn, nhiệt độ, DO và phần trăm bão hòa không khí. Hwang và cộng sự [10] xây dựng hệ thống quan trắc chất lượng nước với thông số nhiệt độ nước, phần trăm bão hòa của oxy hòa tan, DO, pH, độ dẫn, độ muối.
Qi Lin và cộng sự (2011) thiết kế hệ thống thu thập thông tin của nhiệt độ nước, độ dẫn, độ muối và pH. Huang Jianqing và cộng sự [11] lựa chọn hệ thống quan trắc tự động chất lượng nước thu thập thông tin của pH, nhiệt độ nước và hàm lượng oxy hòa tan DO.Simbeye và cộng sự (2014) lựa chọn đo thông số pH, mực nước, nhiệt độ nước và DO. Các kết quả đo chỉ ra sự dao động giá trị các thông số trong cả ngày. Đối với hệ thống của Lua Hongpin và cộng sự (2015) ngoài chỉ tiêu DO, nhiệt độ còn tiến hành quan trắc thêm amoni.
Gianni Cario và cộng sự (2017) giới thiệu hệ thống quan trắc cho trang trại nuôi cá với các thông số giám sát gồm nhiệt độ, pH, DO, độ muối, thế oxy hóa khử (ORP). Hiện nay, các thành phần cơ bản của hệ thống quan trắc tự động môi trường nước bao gồm: - Thiết bị lấy mẫu nước tự động - Các cảm biến đo các thông số ô nhiễm nước - Thiết bị kết nối, hiển thị và lưu trữ số liệu từ các cảm biến (Datalogger) - Thiết bị truyền dữ liệu Về kĩ thuật quan trắc, các cảm biến đo thương mại được sử dụng trên thế giới phổ biến trong quan trắc tự động dựa trên nguyên tắc trắc quang (so màu, hấp thụ UV, hấp thụ UV-vis) và điện cực ion chọn lọc. Ứng dụng công nghệ 4.0 và IoT trong quan trắc tự động môi trường NTTS Trên thế giới việc áp dụng các công nghệ tự động hóa, điện tử, công nghệ thông tin và truyền thông vào các hệ thống quan trắc môi trường NTTS một cách tự động và liên tục đã và đang được triển khai như: hệ thống đo nồng độ pH và nhiệt độ trong môi trường nước dựa trên các nút mạng cảm biến [12], hệ thống kiểm soát nguồn nước linh hoạt hàng ngày dựa trên các cảm biến ở Malawi [13], hệ thống mạng cảm biến giám sát nguồn nước tại bãi biển Kuwait dựa trên đo 8 nồng độ pH và ôxi [14]. Tại Tây Ban Nha [15], Libelium đã xây dựng hệ thống giám sát nguồn nước tại các sông, suối và các hồ nước sử dụng các cảm biến.
Các hệ thống này thu nhận các tham số như pH, ôxy hòa tan, độ mặn,. và gửi về cho trung tâm qua mạng di động. Tất cả các tham số này được tích hợp vào các đầu đo như trên Hình 2. Hệ thống này có khả năng ứng dụng trong cảnh báo ô nhiễm môi trường cũng như nuôi trồng thủy sản.
Tại Thái Lan [16], dự án (NECTEC-ACE) sử dụng cảm biến trong nuôi tôm cũng đang được triển khai. Dự án này dựa trên việc đo và điều khiển nồng độ ôxy hòa tan để tăng năng suất và sản lượng tôm. Nhờ yếu tố này mà tôm đạt chất lượng cao cũng như sản lượng yêu cầu khoảng 30 đến 35 gam trên 1 con sau một thời gian ngắn. Tại Trung Quốc có rất nhiều dự án sử dụng mạng cảm biến cho nuôi trồng thủy sản.
Một trong các dự án [17], Peng Jiang đã xây dựng các mô hình truyền dữ liệu thu được từ môi trường nước trên nền các nút cảm biến như Hình 2. Nhờ sử dụng giao thức định tuyến mới nên hệ thống đáp ứng được yêu cầu cảnh báo về thời gian thực. Tại Mỹ [18], đã đề xuất xây dựng hệ thống mạng cảm biến kết hợp cũng nuôi trồng thủy sản tạo thành một chu trình khép kín. Trong chu trình này các cảm biến đo lượng khí các sinh vật thải ra và đưa các chất này đến phục vụ sản xuất nông nghiệp.
Các cây trồng lại thải ra khí ôxy quay lại cung cấp cho các vật nuôi. Tại Ấn Độ, Alkandari [14] và Chandanapalli [19] đề xuất hệ thống ứng dụng mạng cảm biến trong nuôi cá với việc đo và kiểm soát hai tham số pH và nhiệt độ, vì đây là hai tham số biến đổi nhanh theo môi trường và ảnh hưởng trực tiếp đến vật nuôi.2 Mô hình tích hợp các cảm biến vào bộ xử lý dữ liệu (Libelium, 2018) 9 Hình 2.3 Mô hình truyền dữ liệu trong mạng cảm biến (Peng Jiang, 2018) 2.2 Quan trắc môi trường thủy sản ở Việt Nam 2. Mạng lưới quan trắc môi trường Ở Việt Nam, mạng lưới quan trắc môi trường thủy sản được hình thành dựa vào 4 trung tâm quan trắc tại các Viện 1, 2, 3 (quan trắc môi trường nuôi trồng thủy sản) và Viện NCHS (quan trắc môi trường biển và cảng cá bến cá) từ năm 2001. - Trung tâm Quốc gia quan trắc, cảnh báo môi trường và phòng ngừa dịch bệnh thủy sản (QGQT, CBMT và PNDBTS) tại Viện Nghiên cứu NTTS I.
Trung tâm QGQT, CBMT và PNDBTS có 8 trạm vùng: Trạm Cát Bà, Quý Kim, Hải Dương, Nam Định, Nghệ An, Thừa Thiên Huế, Sơn La và Tuyên Quang. - Trung tâm Quốc gia quan trắc, cảnh báo môi trường và phòng ngừa dịch bệnh thủy sản Nam bộ (QGQT, CBMT và PNDBTS Nam Bộ) tại Viện Nghiên cứu NTTS II. Trung tâm có các trạm thu mẫu được phân chia thành trạm cấp 1 và cấp 2. Trạm cấp 1 là các trạm tối thiểu giúp thu thập các tài liệu cơ bản để phân tích đánh giá chất lượng nước của một tiểu vùng.
Trạm cấp 2 là các trạm mở rộng theo yêu cầu và điều kiện cho phép. Các địa điểm chính là Bán đảo Cà Mau, Đồng Tháp Mười, Sông Tiền, Sông Hậu, Tứ giác Long Xuyên. - Trung tâm Quốc gia quan trắc, cảnh báo môi trường và phòng ngừa dịch bệnh thủy sản miền Trung (QGQT, CBMT và PNDBTS miền Trung) tại Viện Nghiên cứu NTTS III, thực hiện quan trắc môi trường tại các tỉnh từ Đà Nẵng đến Bình Thuận. - Trung tâm Quốc gia quan trắc cảnh báo môi trường biển (QGQT CBMT biển) tại Viện Nghiên cứu Hải sản.
Trung tâm tham gia vào trạm quan trắc phân tích môi trường biển quốc gia (trạm quan trắc biển khơi 5) và phụ trách quan trắc 10 môi trường biển vùng biển khơi Côn Đảo, Trung và Đông Nam bộ, Tây Nam bộ.