CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN 1. TÌNH HÌNH KINH TẾ XÃ HỘI VIỆT NAM Kinh tế - Xã hội nước ta năm 2019 diễn ra trong bối cảnh tình hình kinh tế thế giới tiếp tục tăng trưởng chậm lại. Căng thẳng thương mại giữa Mỹ - Trung và vấn đề chính trị càng làm gia tăng đáng kể tính bất ổn của hệ thống thương mại toàn cầu, gây ảnh hưởng không nhỏ tới niềm tin kinh doanh, quyết định đầu tư và thương mại toàn cầu. Sự biến động khó lường trên thị trường tài chính - tiền tệ quốc tế, giá dầu diễn biến phức tạp tác động đến tăng trưởng tín dụng, tâm lý và kỳ vọng thị trường [1].
GDP năm 2019 đạt kết quả tăng 7,02% (Quý I tăng 6,82%, quý II tăng 6,73%; quý III tăng 7,48%; quý IV tăng 6,97%), vượt mục tiêu của Quốc hội đề ra từ 6,6%-6,8%, khẳng định tính kịp thời và hiệu quả của các giải pháp được Chính phủ ban hành, chỉ đạo quyết liệt các cấp, các ngành, các địa phương và cộng đồng doanh nghiệp cùng nỗ lực thực hiện để đạt và vượt mục tiêu tăng trưởng. Mức tăng trưởng năm nay tuy thấp hơn mức tăng 7,08% của năm 2018 nhưng cao hơn mức tăng của các năm 2011-2017. Trong mức tăng chung của toàn nền kinh tế, khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản tăng 2,01%, đóng góp 4,6% vào mức tăng chung; khu vực công nghiệp và xây dựng tăng 8,90%, đóng góp 50,4%; khu vực dịch vụ tăng 7,3%, đóng góp 45% [1]. Hình 1-1: Tăng trưởng Việt Nam giai đoạn 2009-2019 [1] 1.
Đóng góp của ngành Xây dựng đối với nền kinh tế Ngành xây dựng là một bộ phận quan trọng tạo ra nhiều tài sản vật chất phục vụ cho phát triển kinh tế xã hội của nền kinh tế quốc dân trong các giai đoạn phát triển. Những năm gần đây toàn ngành đã thi công xây dựng và hoàn thành nhiều công trình có quy mô lớn, công nghệ thi công phức tạp. Tỷ trọng của ngành xây dựng đóng góp vào tăng trưởng GDP của cả nước ngày càng tăng, đồng thời đã thu hút ngày càng Luan van 2 nhiều lực lượng lao động, nguồn vốn đầu tư, tạo điều kiện thuận lợi phát triển kinh tế xã hội của các vùng và quốc gia. Theo niên giám thống kê năm 2015, tỷ trọng đóng góp của ngành xây dựng trong GPD toàn quốc, tính theo giá hiện hành của giai đoạn 2011-2015 tương ứng là: 6,15% - 5,38% - 5,13% - 5,11% - 5,44%; vốn đầu tư xã hội vào ngành xây dựng trong năm 2015 là 113,478 tỷ đồng tương ứng khoảng 8,3% tổng vốn đầu tư xã hội; chỉ số phát triển tổng sản phẩm của toàn ngành Xây dựng trong giai đoạn 2011-2015 bình quân tăng khoảng 2,5%/năm, đặc biệt trong đó năm 2015 tăng vượt trội so với 2014 khoảng 4%.
Năm 2015 ngành Xây dựng đã thu hút khoảng 3.000 người lao động trong tổng số 52.000 lao động cả nước (ước khoảng 14% lực lượng lao động trong các doanh nghiệp của cả nước). Nguồn nhân lực ngành xây dựng đã có bước phát triển lớn cả về số lượng lẫn chất lượng, ngày càng đáp ứng tốt hơn nhu cầu nhân lực cho các hoạt động sản xuất kinh doanh dịch vụ ngành [2]. Cho đến năm 2019, hầu hết chỉ tiêu chủ yếu đề ra đều thực hiện đạt so với kế hoạch, cụ thể hoạt động xây dựng tăng trưởng đạt khoảng 9 - 9,2% so với cùng kỳ năm 2018. Tỷ lệ đô thị hóa cả nước đạt khoảng 39,2%, tăng 0,8% so với năm 2018.
Chi phí nhân công trong ngành xây dựng chịu ảnh hưởng từ mức lương tối thiểu vùng do phần lớn lực lượng lao động trong ngành xây dựng có trình độ thấp, chưa qua đào tạo chuyên nghiệp. Trung bình từ 2010-2019, lương tối thiểu vùng tăng 17%/năm với mức tăng cao nhất trong năm 2012 do lạm phát cao tại thời điểm đó (lần lượt 18,7% và 9,1% trong 2011-2012). Tuy nhiên, tốc độ tăng lương tối thiểu vùng chậm lại từ năm 2012 với mức tăng dự kiến năm 2019 thấp nhất trong 10 năm trở lại đây. Mức lương tăng tối thiểu được công bố sớm làm hạn chế ảnh hưởng tiêu cực đến doanh nghiệp xây dựng, chi phí tăng lên dẽ được tính toán trong hồ sơ dự thầu và chuyển đến khách hàng [2].
Hình 1-2: Tăng trưởng xây dựng Việt Nam giai đoạn 1990 - 2018 [2] Cùng với sự phát triển đó, vẫn còn tồn tại một số vấn đề trong ngành như: chậm tiến Luan van 3 độ, vượt chi phí, kém chất lượng, thất thoát trong xây dựng,…Với vai trò của ngành xây dựng trong nền kinh tế quốc dân, năng suất lao động (NSLĐ) của ngành ảnh hưởng đáng kể đến sự phát triển kinh tế chung của đất nước. Theo số liệu của Niên giám thống kê năm 2015 cho thấy năng suất lao động của ngành Xây dựng trong 5 năm gần đây tương đối thấp, đang xếp ở vị trí 15 trong 20 ngành kinh tế so sánh. Những nguyên nhân, hạn chế chủ yếu gồm: Trình độ phát triển, ứng dụng khoa học và công nghệ còn thấp; đào tạo và phát triển nguồn nhân lực chưa đổi mới kịp thời; chính sách tiền lương bất cập; thu nhập người lao động, hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp còn thấp, quy mô doanh nghiệp không hợp lý. Một số giải pháp cơ bản cần thực hiện để nâng cao năng suất lao động ngành xây dựng là đẩy nhanh quá trình tái cơ cấu và cổ phần hóa các doanh nghiệp nhà nước; đổi mới đào tạo phát triển nguồn nhân lực; đẩy mạnh ứng dụng khoa học, công nghệ; hoàn thiện hệ thống tiêu chuẩn, quy chuẩn, định mức kinh tế - kỹ thuật của ngành; xây dựng và hoàn thiện quản lý hệ thống thông tin, cơ sở dữ liệu theo lĩnh vực, sản phẩm của ngành [2].
Năng suất lao động bình quân năm trong giai đoạn 2010 – 2015 là 42,7 – 53,4 – 55,6 – 60,7 – 66,5 triệu đồng/người và đang xếp ở vị trí 15 trong 20 ngành so sánh. Tuy nhiên, trong vòng 5 năm gần nhất, mức tăng NSLĐ đã có chuyển biến tích cực, tốc độ tăng bình quân xấp xỉ 10% /năm. Xét theo các yếu tố cấu thành nội hàm giá trị năng suất lao động thì có hai nguyên nhân cơ bản dẫn tới năng suất lao động của ngành Xây dựng còn thấp là tổng giá trị gia tăng của toàn ngành không cao trong khi thu hút số lượng lớn lao động có việc làm, nhưng chất lượng lao động thấp [2]. Bảng 1-1: Năng suất lao động của lĩnh vực xây lắp thuộc ngành Xây dựng còn thấp so với các ngành kinh tế khác [2] Năng suất lao động xã hội phân theo ngành kinh Ngành kinh tế tế (ĐVT: Triệu đồng/người) 2010 2012 2013 2014 2015 Giá trị của ngành Xây dựng 42.5 Giá trị của ngành có giá trị cao nhất 1.695,6 Giá trị của ngành có giá trị thấp nhất 15 25.6 Giá trị bình quân của tất cả các 44.4 ngành Với cách tính hiện hành thì năng suất lao động được thống kê, công bố chưa phản ánh hết thực trạng năng suất lao động của tất cả các lĩnh vực sản xuất kinh doanh khác Luan van 4 do ngành Xây dựng quản lý như sản xuất vật liệu xây dựng, cơ khí xây dựng, tư vấn xây dựng.
Các lĩnh vực này hiện đang được tính là thành phần trong các ngành như: Công nghiệp chế biến, chế tạo; hoạt động chuyên môn, khoa học và công nghệ…Từ kết quả khảo sát, đánh giá số lượng lớn doanh nghiệp của các lĩnh vực này trong giai đoạn từ năm 2010 đến 2015, cho thấy năng suất lao động trong các lĩnh vực sản xuất, kinh doanh khác do ngành Xây dựng cũng còn tương đối thấp. Trong đó lĩnh vực cơ khí xây dựng và xây dựng có năng suất thấp so với lĩnh vực sản xuất vật liệu xây dựng và tư vấn xây dựng. Mức tăng năng suất lao động trong các lĩnh vực sản xuất, kinh doanh được khảo sát qua các năm là không cao và không ổn định [2]. Các triển vọng tăng trưởng ngành xây dựng: Mảng xây dựng cơ sở hạ tầng sẽ tăng trưởng chậm lại trong 2019 do thách thức từ cấu trúc.
Cơ sở hạ tầng là một trọng tâm phát triển trong mô hình phát triển kinh tế Việt Nam 2016-2020. Hàng năm, Việt Nam chi khoảng 5,8% GDP cho phát triển cơ sở hạ tầng, trong khu vực chỉ thấp hơn Trung Quốc. Nhu cầu đầu tư cơ sở hạ tầng ở Việt Nam rất lớn, chủ yếu do tăng trưởng kinh tế cao và xu hướng đô thị hóa tạo áp lực lên hệ thống hạ tầng hiện có. Ngân hàng Phát triển Châu Á (ADB) ước tính Việt Nam cần chi khoảng 11-12% GDP cho cơ sở hạ tầng để duy trì mức tăng trưởng hiện nay [3].
Mức chi đầu tư cơ sở hạ tầng Việt Nam hiện nay mới chỉ đạt 50% nhu cầu. Đây là hệ quả của các vấn đề trong cấu trúc kinh tế Việt Nam như thâm hụt ngân sách, quá trình bội chi kéo dài khiến nợ công tăng cao, hạn chế khả năng đầu tư công của Chính phủ, Bộ Giao thông Vận tải ước tính nhu cầu đầu tư giao thông trong 2016-2020 khoảng 1 triệu tỷ đồng, trong đó vốn ngân sách chỉ cân đối được 30% [3]. Về nhà ở, tăng trưởng chậm lại trong 2019 do các động thái kiềm chế bong bóng bất động sản. Bong bóng bất động sản vỡ dẫn đến nhiều doanh nghiệp phá sản, nợ xấu ngân hàng tăng cao và thị trường đóng băng kéo dài 2-3 năm.
Ngành Kinh doanh bất động sản có chu kỳ tăng tốc kéo dài từ 2013 tới nay, cùng với một số dấu hiệu bất ổn trong thị trường gây ra lo ngại bong bóng bất động sản trở lại trong 2018 và 2019, dẫn tới các động thái kiềm chế của cơ quan quản lý [3]. Luan van 5 Hình 1-3: Dự phóng tăng trưởng xây dựng Việt Nam [3] 1. TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU TRONG NƯỚC VÀ NGOÀI NƯỚC 1.1 Nghiên cứu trong nước Năng suất xây dựng có ý nghĩa rất lớn với sự phát triển của xã hội loài người, là động cơ thúc đẩy phát triển tiến độ của công trình, là chỉ số để đánh giá năng lực của nhà thầu. Việc tăng năng suất xây dựng có ý nghĩa quan trọng đối với mọi nhà thầu nhằm củng cố vị trí của mình trên thị trường.
Ở Việt Nam, vấn đề nghiên cứu về năng suất lao động trong ngành xây dựng đã được chú ý những năm gần đây. Số đề tài nghiên cứu về vấn đề này rất nhiều, các nghiên cứu tại Việt Nam đã lĩnh hội kinh nghiệm và kết quả từ các nghiên cứu trên thế giới, giúp hệ thống hóa cơ sở khoa học về vấn đề năng suất lao động trong ngành xây dựng tại nước ta.