CHƯƠNG I: GIỚI THIỆU 1.1 Trình bày vấn đề: Bê tông cốt thép dự ứng lực, một ý tưởng của việc kết hợp giữa bê tông và cốt thép cường độ cao, đang nổi lên như một loại vật liệu có hiệu quả cho xây dựng cầu hiện đại. Những lợi ích về mặt kĩ thuật và kinh tế của bê tông cốt thép dự ứng lực cho phép nhịp có chiều dài lớn hơn và có thể gia tăng khoảng cách giữa các dầm. Việc tạo dự ứng lực trong dầm, tạo nên 1 độ vồng trước trong dầm. Tuy nhiên, nếu độ vồng dự đoán trước trong dầm bê tông dự ứng lực không chắc chắn có thể dẫn đến nhiều vấn đề trong quá trình thi công.
Đối với kết cấu dầm giản đơn, độ vồng quá mức có thể dẫn đến sự giao cắt giữa thớ trên của dầm với phần bê tông bản mặt cầu, do đó, phải tiến hành thay đổi chiều dày bản mặt cầu theo chiều dài cầu để đạt được cao độ thiết kế ban đầu. Độ vồng không đủ sẽ dẫn đến việc bù thêm một lượng bê tông đến cao độ tại đáy bản mặt cầu, điều này dẫn đến việc tăng thêm tải trọng của kết cấu phần trên. Cả hai điều không mong muốn ấy có thể dẫn đến việc trì hoãn trong thi công, cũng như việc gia tăng vật liệu lẫn việc tăng chi phí xây dựng. Đối với kết cấu dầm liên tục, thi công theo công nghệ đúc hẫng cân bằng, đây là công nghệ hiện đang được áp dụng rộng rãi ở Việt Nam.
Việc dự đoán biến dạng trong cầu đúc hẫng phân đoạn là một mối quan tâm rất lớn. Biến dạng gần như tăng trong toàn bộ thời gian sử dụng của cầu. Những xem xét không đầy đủ của biến dạng có thể gây bất lợi trong cả quá trình thi công và thời gian phục vụ của cầu. Điều quan trọng đầu tiên là đạt được một độ vồng trơn trong mặt cầu và để tránh độ võng xuống quá mức tại giữa nhịp (điểm gãy tại giữa nhịp sau khi hợp long giữa).
Điều quan trọng thứ hai là cao độ thực tế của mặt cầu, miễn là độ lệch khỏi cao độ thiết kế là tương đối nhỏ và không làm giảm tính an toàn giao thông, tính thiết thực và mỹ quan. Độ lệch lớn khỏi độ võng mong muốn trong quá trình xây dựng có thể gây bất lợi cho việc hợp long, dẫn đến việc phải điều chỉnh độ lệch với những bó cáp dự ứng lực thêm, hoặc có thể điều chỉnh bằng tải trọng dằn, hoặc những chuyển vị cưỡng bức bằng kích, trong nhiều trường hợp ở Việt Nam hiện nay phải chấp nhận gãy khúc giữa các đốt do điều chỉnh cao độ lại bằng ván khuôn, sau đó, phần gãy khúc này được bù lại bằng lớp bê tông nhựa có chiều dày khác nhau để đạt được đường cong sát với thiết kế.1: Độ võng quá mức khi hợp long Hình 1.2: Độ chênh lệch hợp long GVHD: PGS.TS Trần Đức Nhiệm Trang 6 / 102 Bộ Môn Cầu Hầm – ĐH GTVT Luận văn Thạc sỹ: Ngành Xây dựng Cầu Hầm K15 Việc dự đoán biến dạng theo thời gian dài trong cầu bê tông cốt thép dự ứng lực có thể không chính xác do một vài hệ số. Quan trọng nhất, mô hình từ biến và co ngót chứa đựng sự không chắc chắn, những cơ chế làm việc chủ đạo đằng sau hiện tượng này vẫn chưa được nắm bắt một cách đầy đủ, ảnh hưởng đến quan điểm hiện tại và cách tiếp cận để mô hình, bên cạnh đó, những thông tin thí nghiệm về vật liệu mới như bê tông cường độ cao vẫn chưa đầy đủ. Vì bê tông cường độ cao đang trở nên thực tế trong thiết kế, chiều dài nhịp và khoảng cách giữa các dầm gia tăng, có một vài câu hỏi đặt ra là những mô hình hiện tại vẫn áp dụng hay không hoặc những kết quả do ngoại suy, liệu có vượt quá giới hạn cho phép hay không? Liệu những mô hình này có phù hợp với điều kiện một nước có khí hậu nóng ẩm như Việt Nam hay không? Sau 30, 40, 50 năm sau thì độ vồng còn lại của dầm là bao nhiêu? Trong luận văn, tác giả tập trung chủ yếu vào kết cấu cầu dầm đúc hẫng cân bằng.
Do đó, tác giả xin được phép giới thiệu tổng quan về công nghệ này như sau: + Phương pháp đúc hẫng là quá trình xây dựng kết cấu nhịp dần từng đốt theo sơ đồ hẫng cho tới khi nối liền thành các kết cấu nhịp cầu hoàn chỉnh. Có thể thi công hẫng từ trụ đối xứng ra hai phía hoặc hẫng dần từ bờ ra. Phương pháp này có thể áp dụng thích hợp để thi công các kết cấu nhịp cầu liên tục cầu dầm hẫng, cầu khung hoặc cầu dây xiên có dầm cứng bê tông cốt thép. Đối với cầu dầm có thể xây dựng nhịp từ 70÷200m.3:Thi công các đốt dầm cầu Hàm Hình 1.4:Thi công các đốt hợp long cầu Luông – Cây cầu với kỷ lục về khẩu độ đúc Hàm Luông hẫng cân bằng ở VN + Khi thi công theo phương pháp này, kết cấu nhịp cầu được đúc tại chỗ trên đà giáo di động theo từng đốt nối liên tiếp nhau đối xứng qua trụ cầu.
Cốt thép thường của các đốt được liên kết với nhau trước khi đổ bê tông để đảm bảo tính liền khối và chịu cắt tốt của kết cấu. Sau khi bê tông đốt dầm đủ cường độ cần thiết thì các đốt này được liên kết với các đốt đã đúc trước đó nhờ căng các bó cốt thép dự ứng lực.TS Trần Đức Nhiệm Trang 7 / 102 Bộ Môn Cầu Hầm – ĐH GTVT Luận văn Thạc sỹ: Ngành Xây dựng Cầu Hầm K15 Thi c«ng bÖ, th©n (L¾p ®Æt c¸c chi tiÕt phôc vô cho thi c«ng khèi K0) l¾p gèi chÝnh l¾p ®µ gi¸o khèi k0 l¾p gèi kª t¹m l¾p v¸n khu«n khèi K0 ®æ bª t«ng khèi k0 c¨ng kÐo dl khèi k0 L¾p xe ®óc ®óc hÉng c¸c khèi k ®óc khèi trªn ®µ gi¸o Hîp long Hình 1.5: Sơ đồ tổng quan thi công đốt K0 và các đốt khác theo phương pháp đúc hẫng cân bằng. + Phần cánh hẫng của kết cấu nhịp dầm bê tông cốt thép đã được thi công xong phải đảm bảo đủ khả năng nâng đỡ trọng lượng của các đốt dầm thi công sau đó cùng với trọng lượng giàn giáo ván khuôn đúc dầm và các thiết bị phục vụ thi công. + Để ổn định chống lật trong suốt quá trình thi công đúc hẫng phải đảm bảo tính đối xứng của hai cánh hẫng.
Đối với sơ đồ cầu khung, đốt dầm trên đỉnh trụ được liên kết cứng với thân trụ. Còn đối với các sơ đồ liên tục có bố trí gối trên đỉnh trụ, đốt dầm trên đỉnh trụ cũng được liên kết cứng tạm với thân trụ thông qua các thanh ự ứng lực (D32, D38) và gối tạm, sau khi hợp long sẽ tháo bỏ các kết cấu tạm này và đưa cầu về sơ đồ làm việc như đã thiết kế. + Ở giai đoạn thi công cánh hẫng, kết cấu nhịp chỉ chịu mô men âm, do đó chỉ cần bố trí cáp dự ứng lực ở phần trên. Sau khi đúc xong một cặp đốt dầm đối xứng thì kéo căng cốt thép dự ứng lực từ đầu mút này sang đầu mút kia và bơm vữa bê tông lấp kín khe hở giữa cốt thép và thành ống để bảo vệ cốt thép.
Nếu phần cánh hẫng quá dài thì phải bố trí điểm nối cáp dự ứng lực hay có thể phân thành hai đoạn từ trụ ra mỗi cánh mút thừa. + Trong quá trình đúc hẫng phải theo dõi chặt chẽ độ võng của cánh hẫng và biến dạng xoắn của mặt cắt. Cốt thép dự ứng lực cần được bố trí đối xứng qua tim dọc cầu và đảm bảo ít nhất mỗi sườn dầm có một bó cốt thép dự ứng lực được căng và neo lại ở đốt cuối. + Sau khi đúc xong đốt cuối cùng của các cánh hẫng, tiến hành nối ghép chúng lại thành kết cấu nhịp hoàn chỉnh.
Đốt cuối cùng nối ghép gọi là đốt Hợp long. Đốt này có chiều dài từ GVHD: PGS.TS Trần Đức Nhiệm Trang 8 / 102 Bộ Môn Cầu Hầm – ĐH GTVT Luận văn Thạc sỹ: Ngành Xây dựng Cầu Hầm K15 1,5 đến 2 m, sau khi bê tông đạt cường độ sẽ tiến hành căng các bó cáp dưới để chịu các tải trọng sau này. Các ưu điểm của phương pháp đúc hẫng: Việc đúc hẫng từng đốt trên đà giáo di động giảm được chi phí đà giáo. Ván khuôn được dùng lại nhiều lần với cùng một thao tác lặp lại sẽ làm giảm chi phí nhân lực và nâng cao năng suất lao động; Phương pháp đúc hẫng thích hợp với việc xây dựng các kết cấu nhịp có chiều cao mặt cắt thay đổi, khi đúc các đốt dầm chỉ cần điều chỉnh cao độ ván khuôn đáy dầm sao cho phù hợp.
Mặt cắt kết cấu nhịp đúc hẫng có thể là hình hộp, bản chữ nhật hay dầm có sườn. Việc thay đổi chiều cao mặt cắt cho phép sử dụng vật liệu một cách hợp lý, giảm được trọng lượng bản thân kết cấu và vượt được nhịp lớn (cầu Hamana ở Nhật Bản thi công đúc hẫng vượt nhịp tới 240m); Trong trường hợp xây dựng các cầu có sơ đồ kết cấu hợp lý, thì quá trình đúc hẫng tạo ra sự phù hợp về trạng thái làm việc của kết cấu trong giai đoạn thi công và giai đoạn khai thác. Điều này làm giảm số lượng các bó cáp phục vụ thi công, dẫn đến việc hạ giá thành công trình do không phải bố trí và căng kéo các bó cáp tạm thời; Phương pháp này không phụ thuộc vào không gian dưới cầu, do đó có thể thi công trong điều kiện sông sâu, thông thuyền hay xây dựng các cầu vượt qua thành phố, các khu công nghiệp mà không làm đình trệ sản xuất hay giao thông dưới công trình; Tuy nhiên việc đúc hẫng kết cấu trong điều kiện hẫng kém ổn định, mặt bằng chật hẹp đòi hỏi phải có trình độ tổ chức tốt, trang thiết bị đồng bộ cũng như trình độ công nhân phù hợp mới có thể đảm bảo chất lượng công trình. Các sơ đồ phù hợp với phương pháp đúc hẫng Phương pháp đúc hẫng phù hợp với các sơ đồ cầu có trạng thái chịu mô men âm trên gối trụ.
Đó là các sơ đồ cầu dầm liên tục, cầu dầm hẫng, cầu khung siêu tĩnh, hoặc tĩnh định, cầu treo dây xiên dầm cứng. + Kể từ cây cầu đầu tiên thi công theo công nghệ này – Cầu Phú Lương, Hải Dương. Cho tới nay, Việt Nam đã làm chủ công nghệ thi công cầu tiên tiến này, với nhiều đơn vị thi công có thể đảm trách.