Chương 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Trên thế giới Đánh giá là khâu then chốt trong một chu trình dự án và là hoạt động thường xuyên nhằm đưa ra những nhận xét về kết quả thực hiện các hoạt động dự án trên cơ sở so sánh kết quả thực hiện với các chỉ tiêu đã lập trước. Nói cách khác, đánh giá là một quá trình xem xét một cách hệ thống, khách quan nhằm cố gắng xác định tính phù hợp, hiệu quả và tác động của các hoạt động ứng với mục tiêu đã đặt ra. Trong giai đoạn trước thập kỷ 90 của thế kỷ trước, thuật ngữ “đánh giá dự án” mới chỉ giới hạn ở đánh giá hiệu quả bao gồm hiệu lực thực thi (efficiency) và hiệu quả (effectiveness).
Nhưng cho đến những năm 90 thì các hoạt động đánh giá còn thêm việc đánh giá tác động (impact), tức là xem xét các hoạt động của dự án đó có bền vững sau khi dự án kết thúc không (John và cộng sự, 2000). Việc đánh giá tác động được coi như bắt buộc đối với tất cả các hoạt động đánh giá hiện nay [29]. Vào đầu năm 1980, Cục Nông nghiệp Mỹ đã xây dựng được một chương trình máy tính tương đối hoàn chỉnh có tên là EVALUE nhằm đánh giá hiệu quả đầu tư cho các dự án rừng trồng (Peter J.Jnce và cộng sự; 1980). Chương trình máy tính này chỉ dừng lại ở mức đánh giá hiệu quả tài chính.
Theo kết luận của các chuyên gia vào thời điểm đó thì hiệu quả đầu tư vào trồng rừng là không cao, thể hiện ở các chỉ số như NPV thấp, IRR cao không đáng kể so với lãi suất ngân hàng, đó là chưa kể đến mức độ rủi ro cao thường xuyên xảy ra trong sản xuất lâm nghiệp. Đến năm 1996 trong báo cáo đánh giá của Winconsin Woodland do Micheal Luedeke và Jeff Martin (1996) cũng có kết luận tương tự. Tuy nhiên, các tác giả cũng khuyến nghị thêm rằng hoạt 4 động đánh giá tài chính đơn thuần chỉ nên sử dụng cho các công ty kinh doanh mà lợi nhuận kinh tế là yếu tố hàng đầu, còn đối với các dự án đầu tư lâm nghiệp mang nhiều yếu tố xã hội thì nên cân nhắc cả việc đánh giá hiệu quả xã hội và môi trường trích dẫn từ Hoàng Liên Sơn và cộng sự , 2008) [18]. Tuy nhiên, đánh giá dự án là một hoạt động rất quan trọng nhưng cũng rất nhạy cảm, đặc biệt trong lĩnh vực lâm nghiệp lại càng nhạy cảm và phức tạp vì nó không dừng lại ở mức độ hiệu quả tài chính mà còn bao hàm cả những khía cạnh về hiệu quả xã hội và môi trường.
Đồng quan điểm với các tác giả trên, Renard R. (2004) đặc biệt phê phán việc sử dụng đánh giá hiệu quả tài chính trong các dự án lâm nghiệp vì theo ông nó hoàn toàn vô nghĩa. Việc đánh giá hiệu quả tài chính luôn bỏ qua yếu tố lạm phát, chi phí cơ hội và rủi ro, trong khi những yếu tố này là rất lớn trong lâm nghiệp vì thời gian kinh doanh dài. Vì vậy, theo ông thì nên “quên hoàn toàn” việc đánh giá hiệu quả tài chính trong lâm nghiệp vì chắc chắn rằng hiệu quả tài chính trong lâm nghiệp là không cao.
Ông khuyến nghị việc đánh giá hiệu quả kinh tế nên kết hợp đồng thời với hiệu quả xã hội, hiệu quả môi trường trong đánh giá các dự án lâm nghiệp (trích dẫn từ Hoàng Liên Sơn và cộng sự , 2008) [18]. FAO (1990, 1997) cũng nhấn mạnh việc đánh giá hiệu quả xã hội và môi trường khi đưa ra các báo cáo tham luận về lâm nghiệp xã hội, lâm nghiệp cộng đồng. Cũng theo FAO, một dự án đầu tư trong lâm nghiệp dù có đạt hiệu quả tài chính cao (NPV, IRR, B/C.) nhưng chưa đạt được hiệu quả xã hội (giải quyết việc làm tạo thêm thu nhập cho cộng đồng.) và hiệu quả môi trường (không gây ô nhiễm, xói mòn đất.) thì không được coi là một dự án bền vững [27]. 5 Tại hội nghị quốc tế về môi trường năm 1992, ở Rio de Janeiro (Braxin) đã đi đến tiếng nói chung là “Phải kết hợp hài hoà giữa bảo vệ môi trường và phát triển kinh tế xã hội, hướng tới một sự phát triển bền vững trong phạm vi từng nước trên thế giới”.
Tiếp theo đó sự ra đời của Nghị định thư Kyoto cũng như việc thành lập Quỹ môi trường toàn cầu (GEF) càng đề cao vai trò của việc đánh giá hiệu quả xã hội và hiệu quả môi trường. Theo khuyến nghị của rất nhiều chuyên gia thì cần phải có hoạt động đánh giá môi trường riêng rẽ bao gồm tất cả các chỉ tiêu phản ánh ảnh hưởng tích cực hay tiêu cực của dự án đó đến môi trường như mức độ bào mòn đất, khả năng ngăn ngừa thiên tai, độ che phủ rừng, mức độ CO2 tăng giảm. Năm 1994, Walfredo Raqual Rola đã đưa ra một mô phỏng về tác động của các phương thức canh tác (trích dẫn từ Đoàn Hoài Nam, 1996) [13]. Theo mô phỏng này, hiệu quả của một phương thức canh tác được đánh giá theo quan điểm tổng hợp trên cả ba mặt kinh tế, xã hội và môi trường sinh thái.
Tất cả các tác động đó đều nhằm mục tiêu cuối cùng là phát triển toàn diện kinh tế - xã hội và bảo vệ môi trường sinh thái. Các lý thuyết và hướng dẫn đánh giá dự án đầu tư lâm nghiệp được đề cập trong các công trình nghiên cứu của nhiều tác giả khác nhau trên thế giới như: L. Therse Barker (1995) [44] thực hiện nghiên cứu xã hội học, WHO, Jim Woodhill, Gittinger, Dixon & Hufschmidt,. Nhìn chung kết quả của những nghiên cứu này đề cập việc đánh giá liên quan đến việc đo lường hay đưa ra nhận định.
Đây là một quá trình nhằm đánh giá mức độ đạt được những mục tiêu chung và mục tiêu cụ thể đã đề ra, tương ứng với chúng là kết quả của các hoạt động, các nguồn lực đã được triển khai và sử dụng như thế nào. Đối với một dự án, đánh giá là xem xét dự án một cách có hệ thống để xác định tính hiệu quả, 6 mức độ thành công của dự án, tác động xã hội cũng như các tác động kinh tế môi trường đối với cộng đồng thụ hưởng. Nhiều tác giả đề nghị rằng, điều quan trọng không phải là tiến hành đánh giá có sự tham gia của các bên liên quan mà quan trọng nhất là có sự tham gia của những người hưởng lợi từ dự án. Mặt khác, khi triển khai dự án phải có hệ thống thường xuyên thu nhận các phản hồi để kiểm tra xem dự án có đi đúng hướng không.
Đánh giá quan trọng ở chỗ, nó giúp chúng ta có được những cơ sở quan trọng và cần thiết để đi đến những quyết định chính xác do trong quá trình thực hiện phải điều chỉnh để phù hợp với tình huống khách quan với những thay đổi đột ngột hoặc bất thường của điều kiện thực thi. Hoạt động đánh giá phải trả lời hai câu hỏi “đã đạt được cái gì” nghĩa là xác định kết quả đạt được của dự án và “đã tiêu tốn bao nhiêu nhân lực, tài lực và vật lực để có được kết quả đó” nghĩa là nó phải được xem xét các chi phí về thời gian, nhân lực, tiền của cho các hoạt động của dự án. Nếu như việc đánh giá dự án là giai đoạn cuối cùng của dự án, được tiến hành sau khi thực hiện dự án, nhằm đưa ra những kết quả, làm rõ những thành công hay thất bại và rút ra những bài học kinh nghiệm để quản lý các dự án khác nhau hay chu kỳ tiếp theo của dự án trong tương lai thì đánh giá tác động dự án, đặc biệt là dự án đầu tư lâm nghiệp được hình thành từ yêu cầu khách quan về sự phát triển bền vững của rừng – môi trường – con người. Ngoài hiệu quả về kinh tế - xã hội – môi trường của quá trình đầu tư, thông qua đánh giá tác động dự án giúp chúng ta định lượng được những tổn thất, những tái tạo về rừng và môi trường do tác động của dự án đem lại, từ đó làm cơ sở cho việc tính toán mức chi phí cần thiết cho bảo vệ rừng, điều chỉnh các hoạt động thực tiễn phù hợp đảm bảo có lợi cho môi trường từ bảo vệ và phát triển rừng mang lại.
7 Trên thế giới việc đánh giá hiệu quả và tác động dự án đã có lịch sử hàng trăm năm. Đánh giá tác động dự án không chỉ xem xét tác động của dự án về mặt kinh tế mà còn cả mặt xã hội và môi trường sinh thái. Tùy theo tính chất và thể loại dự án việc đánh giá dự án đầu tư lâm nghiệp có những điểm khác nhau. Một số dự án mang tính chất kinh doanh hay còn gọi là các dự án trồng rừng sản xuất thì đánh giá thường tập trung vào khía cạnh phân tích hiệu quả kinh tế.
Ngược lại, những dự án hỗ trợ phát triển lâm nghiệp lại đặt trọng tâm ở khía cạnh xã hội hoặc dự án bảo tồn lại chú ý nhiều đến khía cạnh môi trường. Thời điểm và mục tiêu đánh giá khác nhau thì yêu cầu và nội dung đánh giá cũng khác nhau. Đánh giá giữa kỳ hay đánh giá tiến độ thường chỉ tập trung xem xét về tiến độ thực hiện các hoạt động dự án nhằm xem xét mức độ hoàn thành, xác định những khó khăn trở ngại và đưa ra những biện pháp điều chỉnh kịp thời. Trong khi đó việc đánh giá kết thúc lại phân tích một cách toàn diện về tất cả các mặt, đồng thời phải đưa ra một chiến lược tiếp theo.
Trong trường hợp đối với những dự án có quy mô lớn và triển khai đồng thời nhiều mảng hoạt động có tính chất tách biệt hay dự án với nhiều hợp phần khác nhau thì công tác đánh giá thường tách riêng theo từng mảng hoạt động hay còn gọi là đánh giá theo chuyên đề. Theo FAO (1987) [28], Hướng dẫn đánh giá kinh tế các dự án quản lý lưu vực sông, thì đánh giá về mặt kinh tế thường được dùng để phân tích các lợi ích và chi phí của xã hội, nên các lợi ích và chi phí đó phải được tính cho suốt thời gian mà chúng còn có tác dụng, nhất là đối với dự án trồng rừng, phải sau khoảng thời gian dài thì chúng mới tạo nên một đầu ra nhất định, đồng thời lại có những tác động về mặt môi trường có thể còn tiếp tục tới nhiều chục năm sau khi dự án kết thúc. Vậy cần vận dụng khoảng thời gian nào để đánh giá thì thích hợp?