Đánh giá kết quả và tác động dự án 5 triệu ha rừng tỉnh Bình Định (1998-2010)

Tài liệu phân tích chi tiết kết quả và tác động của dự án trồng 5 triệu ha rừng tại Bình Định về kinh tế, xã hội và môi trường giai đoạn 1998-2010.

Trường đại học

Trường Đại học Lâm nghiệp

Chuyên ngành

Lâm học

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận văn

2012

91
0
0

Phí lưu trữ

35 Point

Mục lục chi tiết

Lời cảm ơn

Danh mục các từ viết tắt

Danh mục các bảng

Danh mục các hình

MỞ ĐẦU

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

1.1. Trên thế giới

1.2. Ở trong nước

2. CHƯƠNG 2: MỤC TIÊU, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1. Mục tiêu nghiên cứu

2.1.1. Mục tiêu chung

2.2. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

2.3. Nội dung nghiên cứu

2.4. Phương pháp nghiên cứu

2.4.1. Quan điểm nghiên cứu

2.4.2. Phương pháp kế thừa tài liệu

2.4.3. Phương pháp xử lý số liệu và đánh giá

3. CHƯƠNG 3: ĐẶC ĐIỂM TỰ NHIÊN – KINH TẾ - XÃ HỘI KHU VỰC NGHIÊN CỨU

3.1. Điều kiện tự nhiên

3.1.1. Vị trí địa lý

3.1.2. Diện tích và dân số

3.1.3. Tài nguyên thiên nhiên

3.2. Điều kiện kinh tế – xã hội

3.2.1. Nguồn nhân lực

3.2.2. Cơ sở hạ tầng

3.2.3. Về phát triển kinh tế - xã hội

4. CHƯƠNG 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN

4.1. Một số chính sách để thực hiện dự án

4.1.1. Văn bản cấp chính phủ, thủ tướng chính phủ

4.1.2. Quyết dịnh cấp Bộ và thông tư hướng dẫn cấp bộ hoặc liên tịch làm cơ sở triển khai thực hiện dự án

4.1.3. Các văn bản do địa phương ban hành liên quan đến dự án trồng mới 5 triệu ha rừng

4.2. Đánh giá kết quả thực hiện Dự án tại tỉnh Bình Định

4.2.1. Kết quả chủ yếu của Dự án tại tỉnh Bình Định

4.2.2. Những hạn chế của Dự án

4.3. Đánh giá tác động của Dự án 661 tại tỉnh Bình Định

4.3.1. Tác động về kinh tế

4.3.2. Tác động của dự án về mặt xã hội

4.3.3. Tác động về môi trường

4.4. Đề xuất một số giải pháp sử dụng có hiệu quả kết quả của Dự án 661

4.4.1. Giải pháp sử dụng có hiệu quả kết quả dự án và duy trì dự án

4.4.2. Giải pháp cho thực hiện các dự án tiếp theo

KẾT LUẬN, TỒN TẠI, KIẾN NGHỊ

TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Tóm tắt

I. Tổng quan Dự án 5 triệu ha rừng Bình Định giai đoạn 98 10

Dự án trồng mới 5 triệu ha rừng, hay còn gọi là Dự án 661, là một trong những chương trình trọng điểm quốc gia, thể hiện quyết tâm của Chính phủ Việt Nam trong việc phục hồi và phát triển tài nguyên rừng. Tại Bình Định, một tỉnh duyên hải miền Trung với địa hình phức tạp, dự án được triển khai từ năm 1998 đến 2010 với mục tiêu chiến lược là nâng cao độ che phủ rừng Bình Định, bảo vệ môi trường sinh thái, đồng thời tạo động lực cho phát triển kinh tế - xã hội tại các địa phương, đặc biệt là vùng miền núi. Chương trình không chỉ tập trung vào việc phủ xanh đất trống đồi trọc mà còn hướng tới mục tiêu phát triển lâm nghiệp bền vững, gắn liền lợi ích của rừng với sinh kế người dân miền núi. Quá trình thực hiện dự án tại Bình Định đã huy động sự tham gia của nhiều bên, từ Ban quản lý dự án 661 các cấp, các doanh nghiệp lâm nghiệp, đến cộng đồng và các hộ gia đình. Việc triển khai dự án dựa trên một hệ thống chính sách lâm nghiệp đồng bộ, từ trung ương đến địa phương, nhằm giải quyết các vấn đề cốt lõi như giao đất giao rừng, cơ chế đầu tư, và quyền hưởng lợi của người dân. Sau hơn một thập kỷ, hiệu quả dự án trồng rừng đã được thể hiện rõ nét qua những thay đổi tích cực về cả ba mặt: kinh tế, xã hội và môi trường, góp phần quan trọng vào sự phát triển chung của tỉnh.

1.1. Mục tiêu của chương trình trồng mới 5 triệu ha rừng

Mục tiêu tổng quát của chương trình trồng mới 5 triệu ha rừng được xác định trong Quyết định số 661/QĐ–TTg là nâng độ che phủ rừng toàn quốc từ 28% lên 43% vào năm 2010. Cụ thể hóa tại Bình Định, dự án hướng đến việc sử dụng hiệu quả diện tích đất trống, đồi núi trọc để phát triển rừng, trong đó ưu tiên các đối tượng trồng rừng phòng hộtrồng rừng sản xuất. Về mặt môi trường, dự án nhằm tăng cường khả năng bảo vệ môi trường, bảo tồn đa dạng sinh học, giảm nhẹ thiên tai thông qua việc phòng chống thiên tai, đặc biệt là chống xói mòn, sạt lở đất và điều tiết nguồn nước. Về kinh tế - xã hội, mục tiêu là tạo thêm việc làm, góp phần xóa đói giảm nghèo, ổn định đời sống cho người dân sống phụ thuộc vào rừng, cung cấp nguyên liệu cho công nghiệp chế biến lâm sản, từng bước đưa lâm nghiệp trở thành một ngành kinh tế quan trọng của tỉnh.

1.2. Các chính sách lâm nghiệp then chốt được áp dụng

Để thực hiện thành công các mục tiêu, một hệ thống văn bản pháp lý và chính sách lâm nghiệp đã được ban hành và áp dụng. Nền tảng pháp lý quan trọng nhất là Quyết định số 661/QĐ–TTg ngày 29/7/1998 của Thủ tướng Chính phủ. Kèm theo đó là các văn bản hướng dẫn chi tiết như Nghị định 163/1999/NĐ-CP về giao đất giao rừng cho tổ chức và hộ gia đình sử dụng lâu dài, và Quyết định 178/2001/QĐ-TTg quy định về quyền hưởng lợi và nghĩa vụ của người nhận khoán rừng. Tỉnh Bình Định cũng đã chủ động ban hành nhiều quyết định cụ thể hóa chính sách, ví dụ như các quyết định phê duyệt suất đầu tư xây dựng rừng phòng hộ (1486/QĐ-UB, 3370/QĐ-UB) và các chính sách khuyến khích trồng rừng nguyên liệu. Các chính sách này đã tạo ra hành lang pháp lý cần thiết, khuyến khích người dân tham gia vào công tác trồng, chăm sóc và bảo vệ rừng, đảm bảo sự thành công của dự án.

II. Phân tích thách thức khi phủ xanh đất trống đồi trọc ở Bình Định

Mặc dù đạt được nhiều thành tựu, quá trình thực hiện Dự án 661 tại Bình Định cũng đối mặt với không ít khó khăn, thách thức. Việc phủ xanh đất trống đồi trọc ở một địa bàn có điều kiện tự nhiên khắc nghiệt, thường xuyên chịu ảnh hưởng của bão lũ là một nhiệm vụ phức tạp. Thách thức lớn nhất đến từ cơ chế tài chính và suất đầu tư. Mức hỗ trợ của nhà nước, dù đã được điều chỉnh, vẫn chưa theo kịp chi phí thực tế, làm giảm động lực của người dân. Bên cạnh đó, các quy định về nghiệm thu, thanh toán còn cứng nhắc, chưa phù hợp với đặc thù sản xuất lâm nghiệp có chu kỳ dài và rủi ro cao. Vấn đề giao đất giao rừng cũng gặp vướng mắc khi một số diện tích quy hoạch trồng rừng lại trùng lặp với đất nương rẫy canh tác lâu đời của người dân. Hơn nữa, những diện tích dễ trồng, gần khu dân cư đã được thực hiện trong giai đoạn đầu, càng về sau, quỹ đất trồng rừng càng ở những vị trí xa xôi, đi lại khó khăn, làm tăng chi phí và công sức lao động, gây trở ngại cho việc vận động người dân tiếp tục tham gia vào chương trình trồng mới 5 triệu ha rừng.

2.1. Khó khăn về vốn đầu tư và cơ chế hỗ trợ tài chính

Một trong những rào cản chính ảnh hưởng đến hiệu quả dự án trồng rừng là suất đầu tư thấp. Theo tài liệu nghiên cứu, chi phí thực tế để trồng 1 ha rừng phòng hộ là từ 13-15 triệu đồng, nhưng mức hỗ trợ của nhà nước chỉ dừng ở 10 triệu đồng. Đối với trồng rừng sản xuất, mức hỗ trợ còn thấp hơn, chỉ từ 2-5 triệu đồng/ha. Sự chênh lệch này buộc người dân phải bỏ thêm vốn đối ứng, trong khi đa số họ là hộ nghèo. Thêm vào đó, quy định tỷ lệ cây sống phải đạt trên 85% mới được thanh toán toàn bộ kinh phí đã tạo áp lực lớn và rủi ro cho người trồng rừng, nhất là khi thời tiết diễn biến bất lợi. Cơ chế này, cộng với việc thanh toán chậm, đã làm giảm đáng kể sự mặn mà của các hộ gia đình đối với việc nhận đất trồng rừng.

2.2. Vướng mắc trong thực tiễn giao đất giao rừng

Chính sách giao đất giao rừng theo Nghị định 163/1999/NĐ-CP là một chủ trương đúng đắn, tạo ra tư liệu sản xuất cho người dân. Tuy nhiên, việc triển khai tại Bình Định gặp phải một số vướng mắc. Nhiều diện tích đất được thiết kế trồng rừng lại nằm trên đất nương rẫy mà người dân đã canh tác từ lâu. Việc chuyển đổi đất canh tác lương thực ngắn ngày sang trồng rừng dài ngày, trong khi mức hỗ trợ thấp, đã khiến người dân lo ngại về sinh kế người dân miền núi trước mắt. Theo báo cáo, "nếu lấy diện tích nương rẫy để trồng rừng, người dân nơi đây sẽ càng gặp khó khăn hơn trong cuộc sống". Điều này dẫn đến tình trạng người dân không hào hứng tham gia, làm chậm tiến độ trồng rừng ở một số khu vực, cho thấy sự cần thiết phải có sự hài hòa giữa mục tiêu phát triển rừng và an ninh lương thực tại chỗ.

III. Hiệu quả dự án 661 Tăng độ che phủ rừng Bình Định ngoạn mục

Kết quả nổi bật nhất và là minh chứng rõ ràng cho sự thành công của Dự án 661 tại Bình Định là sự gia tăng đáng kể về diện tích và chất lượng rừng. Độ che phủ rừng Bình Định đã có bước nhảy vọt, góp phần quan trọng vào mục tiêu chung của cả nước. Theo số liệu thống kê, độ che phủ rừng của tỉnh đã tăng từ 33,7% năm 1999 lên 44,5% vào năm 2005. Sự tăng trưởng này không chỉ đến từ hoạt động trồng rừng mới mà còn là kết quả của công tác khoanh nuôi, bảo vệ hiệu quả những diện tích rừng tự nhiên hiện có. Thành công này là nhờ sự kết hợp đồng bộ giữa các giải pháp kỹ thuật, chính sách khuyến khích và sự tham gia tích cực của cộng đồng. Việc nhận thức của người dân và chính quyền địa phương về vai trò của rừng được nâng cao đã tạo ra một phong trào xã hội hóa lâm nghiệp mạnh mẽ, giúp hạn chế nạn phá rừng và thúc đẩy các hoạt động phát triển lâm nghiệp bền vững. Hiệu quả dự án trồng rừng được thể hiện qua những cánh rừng xanh bạt ngàn, thay thế cho những vùng đất trống, đồi trọc trước đây.

3.1. Kết quả trồng rừng sản xuất và trồng rừng phòng hộ

Hoạt động trồng rừng mới là nhiệm vụ trọng tâm của dự án. Giai đoạn 1998-2010, Bình Định đã triển khai mạnh mẽ việc trồng mới cả hai loại rừng chính là trồng rừng sản xuấttrồng rừng phòng hộ. Theo bảng 4.4 trong tài liệu gốc, kế hoạch trồng rừng hàng năm gần như đều đạt và vượt chỉ tiêu đề ra, với tỷ lệ thực hiện xấp xỉ 100%. Các diện tích rừng phòng hộ được ưu tiên trồng ở những khu vực đầu nguồn, ven biển rất xung yếu, nhằm phát huy chức năng phòng chống thiên tai và bảo vệ các công trình thủy lợi. Trong khi đó, các mô hình trồng rừng sản xuất với các loài cây như Keo đã mang lại hiệu quả kinh tế rõ rệt, cung cấp nguyên liệu cho ngành công nghiệp chế biến và nâng cao thu nhập cho người dân.

3.2. Hiệu quả công tác khoanh nuôi và bảo vệ rừng tự nhiên

Bên cạnh trồng mới, công tác khoán bảo vệ rừng cũng đạt được những kết quả tích cực. Bảng 4.3 cho thấy diện tích rừng được đưa vào bảo vệ luôn được thực hiện tốt. Việc khoán bảo vệ rừng không chỉ giúp bảo vệ các khu rừng tự nhiên nghèo kiệt có cơ hội phục hồi mà còn thu hút hàng nghìn lao động địa phương tham gia, tạo thêm thu nhập ổn định. Các khu rừng được bảo vệ tốt đã hạn chế đáng kể tình trạng khai thác trái phép. Cơ chế cộng đồng tham gia quản lý, với các đội tuần tra và quy chế rõ ràng, đã phát huy hiệu quả. Hoạt động này không chỉ giúp giữ rừng mà còn nâng cao ý thức, trách nhiệm của người dân, biến họ từ người khai thác thành người bảo vệ, góp phần vào mục tiêu bảo vệ môi trường và bảo tồn đa dạng sinh học.

IV. Tác động của dự án trồng rừng đến sinh kế người dân miền núi

Dự án 5 triệu ha rừng Bình Định không chỉ mang lại màu xanh cho những quả đồi mà còn tạo ra những tác động sâu sắc và tích cực đến đời sống kinh tế - xã hội của người dân, đặc biệt là ở các huyện miền núi. Chương trình đã trở thành một đòn bẩy quan trọng, góp phần cải thiện sinh kế người dân miền núi, giảm tỷ lệ hộ nghèo và thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội tại các vùng khó khăn. Thông qua các hoạt động trồng, chăm sóc và bảo vệ rừng, dự án đã tạo ra hàng vạn việc làm, mang lại nguồn thu nhập trực tiếp và ổn định cho các hộ gia đình tham gia. Hơn nữa, khi rừng trồng đến chu kỳ thu hoạch, nó trở thành một tài sản lớn, giúp người dân có nguồn vốn để tái đầu tư sản xuất, xây dựng nhà cửa và cải thiện chất lượng cuộc sống. Tác động xã hội của dự án còn thể hiện qua việc nâng cao nhận thức cộng đồng, tăng cường sự gắn kết và thúc đẩy chính sách định canh, định cư, ổn định an ninh chính trị tại địa phương.

4.1. Giải pháp xóa đói giảm nghèo và tạo việc làm bền vững

Một trong những thành công lớn nhất về mặt xã hội của Dự án 661 là đóng góp trực tiếp vào công cuộc xóa đói giảm nghèo. Theo bảng 4.9 của nghiên cứu, việc thực hiện dự án đã tạo ra một lượng lớn việc làm cho lao động nông thôn. Các khoản thu nhập từ tiền công trồng rừng, chăm sóc và tiền nhận khoán bảo vệ rừng đã giúp nhiều hộ gia đình thoát nghèo. Nguồn thu này đặc biệt quan trọng trong những thời điểm nông nhàn, giúp người dân có thêm chi phí trang trải cuộc sống. Quan trọng hơn, dự án đã tạo ra một sinh kế mới, bền vững gắn với nghề rừng. Thay vì phát nương làm rẫy, người dân chuyển sang kinh tế đồi rừng, vừa bảo vệ được đất đai, môi trường, vừa có thu nhập lâu dài, góp phần ổn định đời sống và giảm áp lực lên tài nguyên rừng tự nhiên.

4.2. Phân tích hiệu quả kinh tế từ các mô hình rừng trồng

Ngoài thu nhập từ công lao động, hiệu quả dự án trồng rừng còn được thể hiện qua giá trị kinh tế mà các mô hình rừng trồng mang lại. Bảng 4.7 trong tài liệu gốc phân tích hiệu quả kinh tế của mô hình trồng 1 ha Keo. Các mô hình trồng rừng sản xuất này sau 7-8 năm đã cho thu hoạch, mang lại nguồn lợi kinh tế đáng kể cho các hộ gia đình. Lợi nhuận từ khai thác gỗ rừng trồng không chỉ giúp người dân cải thiện kinh tế mà còn tạo ra nguồn nguyên liệu ổn định cho các nhà máy chế biến gỗ tại địa phương, thúc đẩy chuỗi giá trị ngành lâm nghiệp. Sự thành công của các mô hình này đã khẳng định hướng đi đúng đắn của dự án trong việc kết hợp mục tiêu môi trường và kinh tế, chứng minh rằng phát triển lâm nghiệp bền vững hoàn toàn có thể mang lại lợi ích kép.

V. Đánh giá tác động của dự án 5 triệu ha rừng đến môi trường

Bên cạnh những thành tựu về kinh tế và xã hội, tác động tích cực về môi trường của Dự án 5 triệu ha rừng Bình Định là không thể phủ nhận. Việc gia tăng nhanh chóng độ che phủ rừng đã cải thiện đáng kể hệ sinh thái của tỉnh, góp phần vào nỗ lực chung về bảo vệ môi trường và ứng phó với biến đổi khí hậu. Những cánh rừng mới được hình thành và các khu rừng tự nhiên được phục hồi đã tạo ra một "lá phổi xanh", giúp điều hòa khí hậu, không khí trong lành hơn. Quan trọng hơn, thảm thực vật rừng có vai trò then chốt trong việc bảo vệ đất và nước. Rừng giúp giữ nước, điều tiết dòng chảy, hạn chế lũ lụt vào mùa mưa và giảm khô hạn vào mùa khô. Đồng thời, hệ thống rễ cây chằng chịt giúp cố định đất, giảm thiểu hiện tượng xói mòn, sạt lở, đặc biệt tại các vùng đồi núi dốc. Theo đánh giá của các hộ dân trong vùng dự án (Bảng 4.10), nhận thức về tác động tích cực của rừng đến môi trường là rất cao, cho thấy sự thành công của dự án trong việc mang lại các giá trị môi trường thiết thực.

5.1. Cải thiện đa dạng sinh học và bảo vệ nguồn nước lưu vực

Việc phục hồi các hệ sinh thái rừng đã tạo ra môi trường sống thuận lợi cho nhiều loài động, thực vật. Điều này góp phần làm giàu thêm đa dạng sinh học của khu vực, bảo tồn các nguồn gen quý. Các khu rừng phòng hộ đầu nguồn đóng vai trò đặc biệt quan trọng trong việc bảo vệ nguồn nước. Theo kết quả đánh giá (Bảng 4.14), chất lượng và trữ lượng nguồn nước sử dụng của người dân đã được cải thiện sau khi có rừng. Rừng giúp lọc nước, duy trì dòng chảy ổn định cho các con sông, suối và các hồ chứa thủy lợi, đảm bảo nguồn nước sinh hoạt và sản xuất cho các vùng hạ du. Đây là một trong những lợi ích môi trường gián tiếp nhưng có giá trị to lớn mà dự án mang lại.

5.2. Vai trò phòng chống thiên tai và chống xói mòn sạt lở đất

Đối với một tỉnh thường xuyên đối mặt với bão lũ như Bình Định, vai trò phòng chống thiên tai của rừng là vô cùng quan trọng. Các diện tích trồng rừng phòng hộ đã phát huy tác dụng như những tấm lá chắn tự nhiên, làm giảm sức tàn phá của gió bão và ngăn chặn lũ quét. Hơn nữa, rừng có khả năng chống xói mòn, sạt lở đất hiệu quả. Bảng 4.13 trong tài liệu nghiên cứu cho thấy các chỉ tiêu về độ phì của đất ở khu vực có rừng tốt hơn hẳn so với đất trống. Lớp thảm mục và hệ rễ cây giúp giữ lại lớp đất mặt màu mỡ, ngăn chặn quá trình rửa trôi, sa mạc hóa, qua đó bảo vệ đất sản xuất và cơ sở hạ tầng, giảm thiểu thiệt hại do thiên tai gây ra.

04/10/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Trên thế giới Đánh giá là khâu then chốt trong một chu trình dự án và là hoạt động thường xuyên nhằm đưa ra những nhận xét về kết quả thực hiện các hoạt động dự án trên cơ sở so sánh kết quả thực hiện với các chỉ tiêu đã lập trước. Nói cách khác, đánh giá là một quá trình xem xét một cách hệ thống, khách quan nhằm cố gắng xác định tính phù hợp, hiệu quả và tác động của các hoạt động ứng với mục tiêu đã đặt ra. Trong giai đoạn trước thập kỷ 90 của thế kỷ trước, thuật ngữ “đánh giá dự án” mới chỉ giới hạn ở đánh giá hiệu quả bao gồm hiệu lực thực thi (efficiency) và hiệu quả (effectiveness).

Nhưng cho đến những năm 90 thì các hoạt động đánh giá còn thêm việc đánh giá tác động (impact), tức là xem xét các hoạt động của dự án đó có bền vững sau khi dự án kết thúc không (John và cộng sự, 2000). Việc đánh giá tác động được coi như bắt buộc đối với tất cả các hoạt động đánh giá hiện nay [29]. Vào đầu năm 1980, Cục Nông nghiệp Mỹ đã xây dựng được một chương trình máy tính tương đối hoàn chỉnh có tên là EVALUE nhằm đánh giá hiệu quả đầu tư cho các dự án rừng trồng (Peter J.Jnce và cộng sự; 1980). Chương trình máy tính này chỉ dừng lại ở mức đánh giá hiệu quả tài chính.

Theo kết luận của các chuyên gia vào thời điểm đó thì hiệu quả đầu tư vào trồng rừng là không cao, thể hiện ở các chỉ số như NPV thấp, IRR cao không đáng kể so với lãi suất ngân hàng, đó là chưa kể đến mức độ rủi ro cao thường xuyên xảy ra trong sản xuất lâm nghiệp. Đến năm 1996 trong báo cáo đánh giá của Winconsin Woodland do Micheal Luedeke và Jeff Martin (1996) cũng có kết luận tương tự. Tuy nhiên, các tác giả cũng khuyến nghị thêm rằng hoạt 4 động đánh giá tài chính đơn thuần chỉ nên sử dụng cho các công ty kinh doanh mà lợi nhuận kinh tế là yếu tố hàng đầu, còn đối với các dự án đầu tư lâm nghiệp mang nhiều yếu tố xã hội thì nên cân nhắc cả việc đánh giá hiệu quả xã hội và môi trường trích dẫn từ Hoàng Liên Sơn và cộng sự , 2008) [18]. Tuy nhiên, đánh giá dự án là một hoạt động rất quan trọng nhưng cũng rất nhạy cảm, đặc biệt trong lĩnh vực lâm nghiệp lại càng nhạy cảm và phức tạp vì nó không dừng lại ở mức độ hiệu quả tài chính mà còn bao hàm cả những khía cạnh về hiệu quả xã hội và môi trường.

Đồng quan điểm với các tác giả trên, Renard R. (2004) đặc biệt phê phán việc sử dụng đánh giá hiệu quả tài chính trong các dự án lâm nghiệp vì theo ông nó hoàn toàn vô nghĩa. Việc đánh giá hiệu quả tài chính luôn bỏ qua yếu tố lạm phát, chi phí cơ hội và rủi ro, trong khi những yếu tố này là rất lớn trong lâm nghiệp vì thời gian kinh doanh dài. Vì vậy, theo ông thì nên “quên hoàn toàn” việc đánh giá hiệu quả tài chính trong lâm nghiệp vì chắc chắn rằng hiệu quả tài chính trong lâm nghiệp là không cao.

Ông khuyến nghị việc đánh giá hiệu quả kinh tế nên kết hợp đồng thời với hiệu quả xã hội, hiệu quả môi trường trong đánh giá các dự án lâm nghiệp (trích dẫn từ Hoàng Liên Sơn và cộng sự , 2008) [18]. FAO (1990, 1997) cũng nhấn mạnh việc đánh giá hiệu quả xã hội và môi trường khi đưa ra các báo cáo tham luận về lâm nghiệp xã hội, lâm nghiệp cộng đồng. Cũng theo FAO, một dự án đầu tư trong lâm nghiệp dù có đạt hiệu quả tài chính cao (NPV, IRR, B/C.) nhưng chưa đạt được hiệu quả xã hội (giải quyết việc làm tạo thêm thu nhập cho cộng đồng.) và hiệu quả môi trường (không gây ô nhiễm, xói mòn đất.) thì không được coi là một dự án bền vững [27]. 5 Tại hội nghị quốc tế về môi trường năm 1992, ở Rio de Janeiro (Braxin) đã đi đến tiếng nói chung là “Phải kết hợp hài hoà giữa bảo vệ môi trường và phát triển kinh tế xã hội, hướng tới một sự phát triển bền vững trong phạm vi từng nước trên thế giới”.

Tiếp theo đó sự ra đời của Nghị định thư Kyoto cũng như việc thành lập Quỹ môi trường toàn cầu (GEF) càng đề cao vai trò của việc đánh giá hiệu quả xã hội và hiệu quả môi trường. Theo khuyến nghị của rất nhiều chuyên gia thì cần phải có hoạt động đánh giá môi trường riêng rẽ bao gồm tất cả các chỉ tiêu phản ánh ảnh hưởng tích cực hay tiêu cực của dự án đó đến môi trường như mức độ bào mòn đất, khả năng ngăn ngừa thiên tai, độ che phủ rừng, mức độ CO2 tăng giảm. Năm 1994, Walfredo Raqual Rola đã đưa ra một mô phỏng về tác động của các phương thức canh tác (trích dẫn từ Đoàn Hoài Nam, 1996) [13]. Theo mô phỏng này, hiệu quả của một phương thức canh tác được đánh giá theo quan điểm tổng hợp trên cả ba mặt kinh tế, xã hội và môi trường sinh thái.

Tất cả các tác động đó đều nhằm mục tiêu cuối cùng là phát triển toàn diện kinh tế - xã hội và bảo vệ môi trường sinh thái. Các lý thuyết và hướng dẫn đánh giá dự án đầu tư lâm nghiệp được đề cập trong các công trình nghiên cứu của nhiều tác giả khác nhau trên thế giới như: L. Therse Barker (1995) [44] thực hiện nghiên cứu xã hội học, WHO, Jim Woodhill, Gittinger, Dixon & Hufschmidt,. Nhìn chung kết quả của những nghiên cứu này đề cập việc đánh giá liên quan đến việc đo lường hay đưa ra nhận định.

Đây là một quá trình nhằm đánh giá mức độ đạt được những mục tiêu chung và mục tiêu cụ thể đã đề ra, tương ứng với chúng là kết quả của các hoạt động, các nguồn lực đã được triển khai và sử dụng như thế nào. Đối với một dự án, đánh giá là xem xét dự án một cách có hệ thống để xác định tính hiệu quả, 6 mức độ thành công của dự án, tác động xã hội cũng như các tác động kinh tế môi trường đối với cộng đồng thụ hưởng. Nhiều tác giả đề nghị rằng, điều quan trọng không phải là tiến hành đánh giá có sự tham gia của các bên liên quan mà quan trọng nhất là có sự tham gia của những người hưởng lợi từ dự án. Mặt khác, khi triển khai dự án phải có hệ thống thường xuyên thu nhận các phản hồi để kiểm tra xem dự án có đi đúng hướng không.

Đánh giá quan trọng ở chỗ, nó giúp chúng ta có được những cơ sở quan trọng và cần thiết để đi đến những quyết định chính xác do trong quá trình thực hiện phải điều chỉnh để phù hợp với tình huống khách quan với những thay đổi đột ngột hoặc bất thường của điều kiện thực thi. Hoạt động đánh giá phải trả lời hai câu hỏi “đã đạt được cái gì” nghĩa là xác định kết quả đạt được của dự án và “đã tiêu tốn bao nhiêu nhân lực, tài lực và vật lực để có được kết quả đó” nghĩa là nó phải được xem xét các chi phí về thời gian, nhân lực, tiền của cho các hoạt động của dự án. Nếu như việc đánh giá dự án là giai đoạn cuối cùng của dự án, được tiến hành sau khi thực hiện dự án, nhằm đưa ra những kết quả, làm rõ những thành công hay thất bại và rút ra những bài học kinh nghiệm để quản lý các dự án khác nhau hay chu kỳ tiếp theo của dự án trong tương lai thì đánh giá tác động dự án, đặc biệt là dự án đầu tư lâm nghiệp được hình thành từ yêu cầu khách quan về sự phát triển bền vững của rừng – môi trường – con người. Ngoài hiệu quả về kinh tế - xã hội – môi trường của quá trình đầu tư, thông qua đánh giá tác động dự án giúp chúng ta định lượng được những tổn thất, những tái tạo về rừng và môi trường do tác động của dự án đem lại, từ đó làm cơ sở cho việc tính toán mức chi phí cần thiết cho bảo vệ rừng, điều chỉnh các hoạt động thực tiễn phù hợp đảm bảo có lợi cho môi trường từ bảo vệ và phát triển rừng mang lại.

7 Trên thế giới việc đánh giá hiệu quả và tác động dự án đã có lịch sử hàng trăm năm. Đánh giá tác động dự án không chỉ xem xét tác động của dự án về mặt kinh tế mà còn cả mặt xã hội và môi trường sinh thái. Tùy theo tính chất và thể loại dự án việc đánh giá dự án đầu tư lâm nghiệp có những điểm khác nhau. Một số dự án mang tính chất kinh doanh hay còn gọi là các dự án trồng rừng sản xuất thì đánh giá thường tập trung vào khía cạnh phân tích hiệu quả kinh tế.

Ngược lại, những dự án hỗ trợ phát triển lâm nghiệp lại đặt trọng tâm ở khía cạnh xã hội hoặc dự án bảo tồn lại chú ý nhiều đến khía cạnh môi trường. Thời điểm và mục tiêu đánh giá khác nhau thì yêu cầu và nội dung đánh giá cũng khác nhau. Đánh giá giữa kỳ hay đánh giá tiến độ thường chỉ tập trung xem xét về tiến độ thực hiện các hoạt động dự án nhằm xem xét mức độ hoàn thành, xác định những khó khăn trở ngại và đưa ra những biện pháp điều chỉnh kịp thời. Trong khi đó việc đánh giá kết thúc lại phân tích một cách toàn diện về tất cả các mặt, đồng thời phải đưa ra một chiến lược tiếp theo.

Trong trường hợp đối với những dự án có quy mô lớn và triển khai đồng thời nhiều mảng hoạt động có tính chất tách biệt hay dự án với nhiều hợp phần khác nhau thì công tác đánh giá thường tách riêng theo từng mảng hoạt động hay còn gọi là đánh giá theo chuyên đề. Theo FAO (1987) [28], Hướng dẫn đánh giá kinh tế các dự án quản lý lưu vực sông, thì đánh giá về mặt kinh tế thường được dùng để phân tích các lợi ích và chi phí của xã hội, nên các lợi ích và chi phí đó phải được tính cho suốt thời gian mà chúng còn có tác dụng, nhất là đối với dự án trồng rừng, phải sau khoảng thời gian dài thì chúng mới tạo nên một đầu ra nhất định, đồng thời lại có những tác động về mặt môi trường có thể còn tiếp tục tới nhiều chục năm sau khi dự án kết thúc. Vậy cần vận dụng khoảng thời gian nào để đánh giá thì thích hợp?

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ