Luận văn những loại người đồng phạm trong luật hình sự Việt Nam

Luận văn thạc sĩ nghiên cứu lý luận và thực tiễn về các loại người đồng phạm trong luật hình sự Việt Nam, phân tích trách nhiệm hình sự và áp dụng pháp luật.

Trường đại học

Đại học Quốc gia Hà Nội

Chuyên ngành

Luật hình sự

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận văn thạc sĩ luật học

2012

75
0
0

Phí lưu trữ

30 Point

Tóm tắt

I. Khái niệm đồng phạm trong luật hình sự Việt Nam là gì

Đồng phạm là hiện tượng pháp lý hình sự xảy ra khi có từ hai người trở lên cùng tham gia thực hiện một tội phạm với sự phối hợp, hỗ trợ hoặc xúi giục lẫn nhau. Theo Điều 17 Bộ luật Hình sự Việt Nam năm 2015 (sửa đổi, bổ sung 2017), đồng phạm được xác định dựa trên yếu tố chủ quan (thỏa thuận, ý chí chung) và yếu tố khách quan (hành vi liên kết). Đây là một trong những chế định quan trọng, phản ánh tính phức tạp của hành vi phạm tội trong thực tiễn xã hội. Khái niệm đồng phạm trong luật hình sự Việt Nam không chỉ mang tính lý luận mà còn có ý nghĩa thực tiễn sâu sắc trong việc xác định trách nhiệm hình sự của từng cá nhân tham gia. Theo luận văn của Mai Lan Ngọc (2012), đồng phạm là “hình thức phạm tội đặc biệt”, đòi hỏi sự phân biệt rõ ràng giữa các loại người đồng phạm để đảm bảo nguyên tắc công bằng và chính xác trong xét xử. Việc hiểu đúng bản chất pháp lý của đồng phạm giúp cơ quan tiến hành tố tụng tránh nhầm lẫn giữa người phạm tội đơn lẻ và người tham gia đồng phạm, từ đó áp dụng đúng quy định pháp luật.

1.1. Định nghĩa pháp lý về đồng phạm theo BLHS Việt Nam

Theo Điều 17 BLHS 2015, đồng phạm là trường hợp có hai người trở lên cố ý cùng thực hiện một tội phạm. Yếu tố “cố ý” và “cùng thực hiện” là cốt lõi để cấu thành đồng phạm. Điều này loại trừ các trường hợp vô ý hoặc hành vi riêng lẻ không có sự liên kết. Cơ sở pháp lý này giúp phân biệt rõ ràng giữa đồng phạm và các hình thức tham gia khác như giúp sức vô tình hay không có ý chí chung.

1.2. Đặc điểm cơ bản của hiện tượng đồng phạm

Đồng phạm mang ba đặc điểm nổi bật: (1) có từ hai chủ thể trở lên; (2) các chủ thể đều có năng lực trách nhiệm hình sự và đủ tuổi chịu trách nhiệm; (3) tồn tại mối liên hệ chủ quan và khách quan giữa các hành vi. Đặc biệt, mối liên hệ mật thiết giữa các hành vi là yếu tố then chốt để xác định tính chất đồng phạm, khác biệt với hành vi phạm tội đơn độc.

II. Các hình thức đồng phạm theo luật hình sự Việt Nam hiện hành

Pháp luật hình sự Việt Nam phân loại đồng phạm thành bốn loại người đồng phạm cụ thể: người thực hành, người tổ chức, người xúi giục và người giúp sức. Mỗi loại giữ vai trò và mức độ tham gia khác nhau trong quá trình thực hiện tội phạm. Theo Mai Lan Ngọc (2012), việc phân loại này không chỉ mang tính kỹ thuật mà còn phản ánh mức độ nguy hiểm cho xã hội của từng chủ thể. Người tổ chức thường bị coi là nguy hiểm nhất do chủ động lên kế hoạch, trong khi người giúp sức có thể chỉ tham gia gián tiếp. Tuy nhiên, tất cả đều phải chịu trách nhiệm hình sự nếu hành vi của họ đáp ứng đầy đủ cấu thành tội phạm. Việc xác định chính xác hình thức đồng phạm là điều kiện tiên quyết để áp dụng đúng khung hình phạt, tránh oan sai hoặc bỏ lọt tội phạm. Thực tiễn xét xử cho thấy nhiều vụ án phức tạp, như buôn bán ma túy hay giết người có tổ chức, thường xuất hiện đầy đủ cả bốn loại người này.

2.1. Phân biệt bốn loại người đồng phạm theo BLHS

Người thực hành trực tiếp thực hiện hành vi khách quan của tội phạm. Người tổ chức chủ mưu, chỉ huy hoặc tạo điều kiện cho tội phạm xảy ra. Người xúi giục dùng lời nói, hành động để kích động người khác phạm tội. Người giúp sức hỗ trợ về vật chất hoặc tinh thần. Mỗi vai trò này có ý nghĩa pháp lý riêng trong việc định tội và lượng hình.

2.2. Mối quan hệ giữa các hình thức đồng phạm

Các hình thức đồng phạm không tồn tại độc lập mà thường đan xen. Ví dụ, người tổ chức có thể đồng thời là người thực hành. Tuy nhiên, pháp luật yêu cầu phải xác định rõ vai trò chính để làm căn cứ xử lý. Nguyên tắc xác định trách nhiệm hình sự đối với đồng phạm dựa trên mức độ tham gia và hậu quả gây ra, không áp dụng “liên đới hình sự” một cách máy móc.

III. Cách xác định trách nhiệm hình sự đối với đồng phạm

Xác định trách nhiệm hình sự trong trường hợp đồng phạm là một trong những vấn đề phức tạp nhất trong thực tiễn áp dụng luật hình sự. Nguyên tắc cơ bản là “ai làm người ấy chịu”, nghĩa là mỗi người chỉ chịu trách nhiệm về hành vi và hậu quả do mình gây ra hoặc có liên quan trực tiếp. Tuy nhiên, BLHS Việt Nam cũng quy định nguyên tắc “liên đới có giới hạn”: nếu hành vi của một người đồng phạm vượt quá sự thỏa thuận chung, những người còn lại không phải chịu trách nhiệm về phần vượt quá đó. Theo nghiên cứu của Mai Lan Ngọc (2012), nhiều sai sót trong xét xử xuất phát từ việc áp dụng sai nguyên tắc này, dẫn đến xử lý hình sự không công bằng. Đặc biệt, trong các vụ án đồng phạm chưa hoàn thành hoặc có trường hợp tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội, việc xác định trách nhiệm càng đòi hỏi sự tinh tế và am hiểu sâu sắc về lý luận hình sự.

3.1. Nguyên tắc xử lý đồng phạm hoàn thành và chưa hoàn thành

Đối với đồng phạm hoàn thành, tất cả người tham gia đều chịu trách nhiệm hình sự. Nhưng với đồng phạm chưa hoàn thành, chỉ những người có hành vi chuẩn bị hoặc thực hiện dở dang mới bị truy cứu. Người giúp sức hoặc xúi giục nếu không biết tội phạm không thực hiện được thì có thể không bị xử lý, tùy trường hợp cụ thể.

3.2. Xử lý trường hợp tự ý chấm dứt phạm tội giữa chừng

Khi một người tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội, họ có thể được miễn trách nhiệm hình sự nếu hành động của họ ngăn chặn được hậu quả. Tuy nhiên, điều này chỉ áp dụng nếu việc chấm dứt là hoàn toàn tự nguyện và dứt khoát. Các loại người đồng phạm còn lại vẫn phải chịu trách nhiệm theo mức độ tham gia của mình.

IV. Vấn đề lý luận nổi bật về đồng phạm trong BLHS Việt Nam

Một số vấn đề lý luận về đồng phạm trong luật hình sự Việt Nam vẫn còn gây tranh cãi trong giới học thuật và thực tiễn. Thứ nhất, ranh giới giữa người giúp sức và người không liên quan thường mờ nhạt, đặc biệt khi hành vi hỗ trợ mang tính thụ động. Thứ hai, việc xác định “ý chí chung” trong đồng phạm đôi khi dựa trên suy luận chủ quan, thiếu bằng chứng khách quan. Thứ ba, BLHS chưa quy định rõ về đồng phạm trong tội phạm do vô ý – một khoảng trống pháp lý cần được lấp đầy. Theo luận văn của Mai Lan Ngọc, những bất cập này làm giảm hiệu quả áp dụng pháp luật, nhất là trong các vụ án kinh tế hoặc công nghệ cao. Hoàn thiện pháp luật về đồng phạm không chỉ là yêu cầu lý luận mà còn là đòi hỏi cấp thiết từ thực tiễn đấu tranh phòng, chống tội phạm.

4.1. Những bất cập trong quy định pháp lý hiện hành

BLHS 2015 vẫn kế thừa nhiều quy định từ BLHS 1999 mà chưa giải quyết triệt để các mâu thuẫn lý luận. Ví dụ, chưa có hướng dẫn cụ thể về việc xử lý đồng phạm khi một người phạm tội nghiêm trọng hơn so với dự kiến ban đầu. Điều này gây khó khăn cho thẩm phánviện kiểm sát trong quá trình tố tụng.

4.2. So sánh với quy định về đồng phạm ở một số nước

Các nước như Liên bang Nga, Đức hay Nhật Bản có hệ thống quy định chi tiết hơn về đồng phạm, đặc biệt trong việc phân biệt mức độ tham gia và miễn trách nhiệm. Việc tham khảo kinh nghiệm quốc tế có thể giúp Việt Nam hoàn thiện pháp luật hình sự, đảm bảo tính minh bạch và công bằng.

V. Ứng dụng thực tiễn của lý luận đồng phạm trong xét xử

Thực tiễn xét xử tại các Tòa án nhân dân cho thấy, hơn 60% các vụ án hình sự nghiêm trọng có yếu tố đồng phạm. Theo số liệu thống kê của TAND TP. Hà Nội (2005–2009), các nhóm tội như giết người, cướp tài sản, buôn bán ma túy thường có đầy đủ cả bốn loại người đồng phạm. Tuy nhiên, việc xác định vai trò của từng người đôi khi còn lúng túng, dẫn đến bản án không đồng đều. Một số bản án có đồng phạm bị kháng nghị do xác định sai vai trò người tổ chức hoặc người giúp sức. Điều này cho thấy nhu cầu cấp thiết phải nâng cao năng lực chuyên môn cho đội ngũ thẩm phánkiểm sát viên. Đồng thời, cần tăng cường giải thích pháp luật và ban hành văn bản hướng dẫn áp dụng thống nhất trên toàn quốc.

5.1. Thống kê thực tiễn xét xử các vụ đồng phạm

Số liệu từ TAND TP. Hà Nội cho thấy, trong 5 năm (2005–2009), có tới 74% vụ án hình sự sơ thẩm liên quan đến đồng phạm. Trong đó, nhóm tội xâm phạm tính mạng, sức khỏe chiếm tỷ lệ cao nhất. Điều này phản ánh tính phổ biến và phức tạp của hiện tượng đồng phạm trong đời sống xã hội.

5.2. Khó khăn trong áp dụng lý luận đồng phạm tại tòa án

Nhiều bản án có đồng phạm bị hủy hoặc sửa do xác định không đúng vai trò của từng bị cáo. Nguyên nhân chính là do thiếu hướng dẫn cụ thể và năng lực phân tích lý luận hình sự chưa đồng đều giữa các địa phương. Điều này ảnh hưởng nghiêm trọng đến niềm tin của công chúng vào hệ thống tư pháp.

VI. Hướng hoàn thiện pháp luật về đồng phạm trong tương lai

Để nâng cao hiệu quả đấu tranh phòng, chống tội phạm, pháp luật hình sự Việt Nam cần tiếp tục hoàn thiện quy định về đồng phạm. Trước hết, nên bổ sung định nghĩa rõ ràng hơn về “ý chí chung” và “hành vi liên kết”. Thứ hai, cần quy định cụ thể về đồng phạm trong tội phạm vô ý – dù hiếm gặp nhưng vẫn có thể xảy ra trong thực tiễn. Thứ ba, nên ban hành văn bản hướng dẫn áp dụng thống nhất cho các loại người đồng phạm, đặc biệt trong các tình huống đặc biệt như tự ý chấm dứt phạm tội hoặc vượt quá sự thỏa thuận ban đầu. Theo khuyến nghị trong luận văn của Mai Lan Ngọc (2012), việc nâng cao năng lực chuyên môn cho đội ngũ thẩm phán, kiểm sát viên và luật sư cũng là giải pháp then chốt. Chỉ khi lý luận và thực tiễn song hành, chế định đồng phạm trong luật hình sự Việt Nam mới thực sự phát huy hiệu lực, hiệu quả.

6.1. Đề xuất sửa đổi BLHS về đồng phạm

Cần sửa đổi Điều 17 BLHS theo hướng chi tiết hóa các yếu tố cấu thành đồng phạm, bổ sung quy định về miễn trách nhiệm trong trường hợp chấm dứt phạm tội và làm rõ giới hạn liên đới hình sự. Điều này sẽ giúp giảm tranh cãi và thống nhất áp dụng pháp luật.

6.2. Giải pháp nâng cao hiệu quả áp dụng pháp luật

Các giải pháp bao gồm: (1) tổ chức đào tạo chuyên sâu về lý luận đồng phạm cho cán bộ tư pháp; (2) ban hành án lệ hướng dẫn; (3) tăng cường kiểm sát việc áp dụng pháp luật hình sự liên quan đến đồng phạm. Đây là những bước đi thiết thực để đảm bảo công lý và quyền con người.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI. Nếu bạn thấy nội dung không chính xác hoặc có vấn đề, vui lòng Báo lỗi nội dung.

14/03/2026
Luận văn một số vấn đề lý luận và thực tiễn về những loại người đồng phạm trong luật hình sự việt nam

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1: MOT 86 VAN ĐÈ CHUNG VẺ NHỮNG LOẠI NGƯỜI DONG PHAM TRONG LUAT HINH SY VIET NAM 11 Khái niệm đồng phạm vả các hình thức đồng nhạm Khái niệm đẳng phạm 1.2 Các hình thức đồng phạm 9 1.2 Những loại người đồng phạm 12 121 Người thực hành 13 1.22 Người tô chức 19 Người xúi g1ục 28 Người giúp sức 31 “trách nhiệm hình sự đổi với những loại người dẳng phạm Nguyên tắc xác định trách nhiệm hinh sự đối với những 33 người đồng phạm trang trường hợp dỗng phạm hoàn thành Trách nhiệm hình sự của những người đồng phạm trong 35 trường hợp dễng phạm chưa hoàn thành 3. Trách nhiệm hình sự của người thực hành trong các giai 36 doạn thực hiện tội phạm 3. Trách nhiệm hình sự đối với người tổ chức trong các giai 37 đoạn thực hiện tội phạm Trich nhiệm hình sự đối với người xúi giục trung các giải đoạn thực hiện tội phạm 31. Trach nhiém hinh sự dối với người giúp sức trong các giai 38 đoạn thực hiện tội phạm ‘Trach nhiệm hình sự của những loại người déng phạm trong, trường hợp tự ý nửa chừng chấm đứt việc phạm lội 3.

“Tưý nửa chừng chấm dứt việc pham tôi của người thực hành 40 3. Tự ý nửa chừng chấm đứt việc phạm tội của người tổ chức 40 TTự ý nửa chứng chấm đứt việc phạm lội của người xúi giụu 41 iy H5 w 3. 'Tự ý nữa chùng chấm dút việc phạm tội của người giúp sức 4I Chương 2: CÁC QUY BỊNH CỦA PHÁP LUẬT HÌNH SỰ VIỆT 42 NAM VA MOT sO NUGC TREN THE GIGI Vi NHỮNG LOẠI NGƯỜI ĐỒNG PHẠM. 21 Các quy định của pháp luật hình sự Việt Nam về những loại 42 người dỗng phạm D6 Iuat hinh sw nim 1999 vé những loại người đồng phạm.31 'Tăng cường giải thích pháp luật, hướng dẫn áp dụng pháp luật 96 3.2 Nâng cao năng lực, trình độ chuyên môn nghiệp vụ, ý thức 97 pháp luật vả trách nhiệm.

nghề nghiệp của đôi ngũ thấm phán Tòa án các cấp Tăng cường kiểm sát việc áp dụng pháp luật hình sự liên 99 we w quan đến những loại người đồng phạm của Viện kiểm sát nhân đân KET LUAN 102 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO. 105 DANII MUC CAC BANG Số hiệu ‘Tén bảng Trang bảng 3.1 Số liệu thống kề của Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội 74 về tống kết công tác xét xử các vụ án hình sự sơ thẩm qua các nấm 2005 - 2009 3⁄2 Mat số nhóm tội, loại tội trong sẽ I96 bản án có đồng — 74 phạm mả tác giả đã nghiên cứu MỞ BẦU 1. Tá do chon dé tai Tội phạm dược quy định trong Bộ luật hình sự (BI.HS) là do có tính chất nguy hiểm đáng kế cho xã hội. Linh nguy hiểm cho xã hội của tội phạm.

không những là một đặc điểm (dấu hiệu) cơ bản, mã cỏn là thuộc tính khách quan, tất yếu và thể hiện bản chất xã hội - pháp lý của lừng hành vì phạm tội cụ thể. Tôi phạm có tính chất nguy hiểm cho xã hội, bởi vì tôi phạm gây ra hoặc đe dọa gây ra những thiệt hại đáng kế cho các quan hệ xã hội được luật hình sự bảo vệ, do người có năng lực trách nhiệm hình sự (TNH8) và dũ tuổi chiu TNH§ thực hiện với hình thức lỗi cố ý và vô ý. Tôi phạm cỏ thể do một người thực hiện, cũng có thể do nhiều người thực hiện. Khi tôi pham được thực hiện bởi nhiều người và trong hành đông của họ có sự liên hệ mật thiết, tác đông lẫn nhau thì được gọi là đồng phạm Đẳng phạm là bình thức phạm tôi “đặc biệt", dôi hói những diều kiện riêng, khác với những trường hợp phạm tội riêng lẻ về số lượng người tham gia phạm tội, mối liên hệ giữa các đổi tượng trong củng vụ án cũng như tội phạm ma ci nhém hưởng tới thực hiện.

Trong đồng phạm, mỗi người khi thực hiện tội phạm giữ vai trỏ khác nhau. Sự liên kết, hỗ trợ lẫn nhau giữa những người G g tham gia thực hiện tội phạm cảng củng cỗ quyết tâm phạm tội đến củng của cả nhóm, thể hiện tỉnh chất và mức độ nguy hiểm đáng kế của những tội phạm cỏ đồng pham. So với tôi pham do một người thực hiện, đồng phạm thường nguy hiểm hơn, vì khi một nhóm người cùng cố ý tham gia thực hiển hành vỉ phạm tội, tính nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội sẽ tắng lên dáng kể, nhất là khi có sự câu kết chặt chế về tổ chức và cách thức thực hiện, phát triển thành "phạm tội có tế chức". Ở nước ta, hiện nay xuất hiện nhiều bãng nhóm tội phạm có tổ chức và hoạt động công khai, có hành ví hết sức nguy hiểm như dùng ô tô chở MỞ BẦU 1.

Tá do chon dé tai Tội phạm dược quy định trong Bộ luật hình sự (BI.HS) là do có tính chất nguy hiểm đáng kế cho xã hội. Linh nguy hiểm cho xã hội của tội phạm. không những là một đặc điểm (dấu hiệu) cơ bản, mã cỏn là thuộc tính khách quan, tất yếu và thể hiện bản chất xã hội - pháp lý của lừng hành vì phạm tội cụ thể. Tôi phạm có tính chất nguy hiểm cho xã hội, bởi vì tôi phạm gây ra hoặc đe dọa gây ra những thiệt hại đáng kế cho các quan hệ xã hội được luật hình sự bảo vệ, do người có năng lực trách nhiệm hình sự (TNH8) và dũ tuổi chiu TNH§ thực hiện với hình thức lỗi cố ý và vô ý.

Tôi phạm cỏ thể do một người thực hiện, cũng có thể do nhiều người thực hiện. Khi tôi pham được thực hiện bởi nhiều người và trong hành đông của họ có sự liên hệ mật thiết, tác đông lẫn nhau thì được gọi là đồng phạm Đẳng phạm là bình thức phạm tôi “đặc biệt", dôi hói những diều kiện riêng, khác với những trường hợp phạm tội riêng lẻ về số lượng người tham gia phạm tội, mối liên hệ giữa các đổi tượng trong củng vụ án cũng như tội phạm ma ci nhém hưởng tới thực hiện. Trong đồng phạm, mỗi người khi thực hiện tội phạm giữ vai trỏ khác nhau. Sự liên kết, hỗ trợ lẫn nhau giữa những người G g tham gia thực hiện tội phạm cảng củng cỗ quyết tâm phạm tội đến củng của cả nhóm, thể hiện tỉnh chất và mức độ nguy hiểm đáng kế của những tội phạm cỏ đồng pham.

So với tôi pham do một người thực hiện, đồng phạm thường nguy hiểm hơn, vì khi một nhóm người cùng cố ý tham gia thực hiển hành vỉ phạm tội, tính nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội sẽ tắng lên dáng kể, nhất là khi có sự câu kết chặt chế về tổ chức và cách thức thực hiện, phát triển thành "phạm tội có tế chức". Ở nước ta, hiện nay xuất hiện nhiều bãng nhóm tội phạm có tổ chức và hoạt động công khai, có hành ví hết sức nguy hiểm như dùng ô tô chở các đối tượng dàn trận đánh nhau, dùng "hảng nóng" đuổi bắn nhau trên đường phố hoặc thanh toán nhau mang mau sắc "xã hội đen". Điển hình là vụ dung sing hoa cải bắn chết Irần Thanh Long (Long Tuyp) tại thánh phố Hải Phòng năm 2009, vụ hai băng nhóm dùng súng AK cưa báng và súng K$9 bắn nhau khiến một người chốt và một người bị thương tại phố Đoàn Thị Điểm, thành phổ Hà Nội năm 2009, vụ hai băng nhóm dùng dao, mã tâu chém nhau làm một người chết tại Trắng Bom, tinh Déng Nai nim 2010, v. Một đặc điểm mới so với trước đây là nhiều đối tượng phạm tội nguy hiểm đã chuyển hướng hoạt động theo kiểu "núp bóng" như thành lập ra các doanh nghiệp, công ty thương mại, du lịch, dịch vụ, làm bình phong cho các hành v1 phạm tội như đòi nợ thuê, cá độ bóng đá, đâm thuê chém mướn; v.

Chính vì vậy, việc dầu tranh phòng, chống tội phạm nói chung và tôi pham dưới hình thức đồng pham nói riêng là việc làm thưởng xuyên, cắp bách luôn được Đẳng và Nhà nước ta quan tâm, chú trọng. Do đó, việc nghiên cứu về những loại người đồng phạm trong khoa học và việc áp dụng nó trong thực tiễn để trên cơ sử đó đưa ra những kiến giải lập pháp hoàn thiện để phục vụ yêu cầu dấu tranh phỏng, chống tôi phạm vả ngăn chặn, hạn chế tới mức thấp nhất hậu quả của tội phạm gây ra có ý nghĩa lý luận và thực tiễn quan trọng. Tây chính là lý do chúng tôi lựa chọn để nghiên cứu đê tài "Một số rắn để lý luận và thực dẫn về những loại người đồng phạm trong luật bình sự Việt Mưm" làm luận văn thạc sỹ luật học của mình. Tình hình nghiên cứu đề tài "trong khoa học luật hình sự Việt Nam, vẫn dễ những loại người dễng phạm nằm trong chế định đồng phạm đã được đề cập trong một số giáo trình, sách tham khảo do các tác giá khác nhau biển soạn như: 1) TS.

Trịnh Quốc 'Toân, Chương XIHI - Đồng phạm. 'Irong sách: Giáo trình Luật hình sự Việt Nam ("hẳn chung). Tập thể tác giả do G5.TSKII Lê Cảm chủ biển, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội, Hà Nội, 2001 (tái bắn năm 2003), 2) Cương X - Đẳng phạm, Trong sách: Ciáo tình Luật hình sự Việt Nam, Tập L Tập thể tác giả do GS. Nguyễn Ngọc Hỏa chủ biên, Nxb Công an nhân dân, Hà Nội, 2007; 3) Chương AIH - Đông phạm, Irong sách: Giáo trình Luật hình sự Việt Nam, Tập thể tác gid do GS.

V8 Khanh Vinh chủ biển, kxb Công an nhân dân, Hả Nội, 2005, 4) A⁄„ơ VT - Chế định đằng phạm, Trong sách: Các nghiên cứu chuyên khảo về phần chủng luật hình sự, tập 1U, của GS.TSKH Lễ Cảm, Nxh Công an nhân dân, Hà Nội, 2002; v. Một số nhà khoa học - luật gia hinh sự Việt Nam cũng đã quan tâm nghiền cứu về để tài này. Tuy nhiên, đó mới chỉ là một số các vông trình nghiên cứu về chế định déng phạm nói chung như: 1) Ïmận án tiến sỹ của tác giả lrần Quang liệp về '2ổng phạm trong luật hình sự Liệt Nam", trường Đại học Luật Ja Nội, 2000; 2) G§.TSKIL Lê Văn Câm, Ä#ục 1⁄7 - Chế định động phạm, Chương thứ tư, Trong Những vẫn đề cơ bắn trong khoa học luật hình sự (Phần chưng), (Sách chuyên khảo Sau dai hoc), Nxb Dai hoc Quốc gia 005; 3) GS.TSKIL Lê Văn Cảm, Về chế định đồng phạm trơng Luật hình sự Uiệt Nam - Một số vần đề tý luận và thực tiễn, Tập san Tòa án nhần đân, số 2/1988, 4) G5. Lê Văn Câm, Chế định dồng phạm và mô hình ]# luận của nó trong Luật hình sự Uiệt Nam, Tạp chỉ Dân chủ và pháp luật 8/2003, 5) TS.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ