Chương 1: Cơ sở l luận về động lực làm việc của công chức các cơ quan chuyên môn thuộc UBND cấp huyện Chương 2: Thực trạng động lực làm việc của công chức các cơ quan chuyên môn thuộc U N thị xã Quảng ên, tỉnh Quảng Ninh Chương 3: Phương hướng, giải pháp nâng cao động lực làm việc của công chức các cơ quan chuyên môn thuộc U N thị xã Quảng ên, tỉnh Quảng Ninh 8 Luan van CHƢƠNG 1 CƠ SỞ U N VỀ ĐỘNG ỰC ÀM VIỆC CỦA CÔNG CHỨC CÁC CƠ QUAN CHUYÊN MÔN THUỘC ỦY BAN NHÂN DÂN CẤP HUYỆN 1. Một số khái niệm 1. ộng lực ộng lực làm vi c Theo các nhà nghiên cứu, có rất nhiều cách tiếp cận và hiểu khác nhau về động lực. và các cộng sự thì “động lực là l do để thực hiện hành vi” [19, tr.
Theo cách hiểu của Broussard và các cộng sự “động lực là cái thúc đẩy con người làm hoặc không làm một điều gì đ ” [20, tr. Một số tác giả khác như Green erg và aron quan niệm động lực là một quá trình phản ứng tâm lý tạo ra sự mong muốn, định hướng và duy trì một hành vi nhằm hướng đến đạt một mục tiêu nào đ Theo cách hiểu này, có ba yếu tố chính trong động lực, bao gồm: thứ nhất là mong muốn, đây là cơ sở để thúc đẩy hành vi; thứ hai là định hướng, tức là loại hành vi nào được lựa chọn và phù hợp với yêu cầu và mục tiêu của tổ chức; thứ ba là duy trì, tức là làm thế nào để hành vi này tiếp tục lặp lại [21]. Trong tác phẩm “Động lực: các lý thuyết mới, nghiên cứu và thực tiễn” viết năm 1982, itchell khẳng định động lực làm việc có thể hiểu là những lực đẩy bên trong và bên ngoài ảnh hưởng đến sự lựa chọn và mong muốn thực hiện một hành vi và một hành động nào đ o đ , nghiên cứu về động lực sẽ giúp chúng ta phân tích, dự đoán và l giải được cái gì thực sự thúc đẩy con người lựa chọn hành vi này, hành động này chứ không phải hành vi khác, hành động khác [22]. Trong các tài liệu được xuất bản tại Việt Nam, động lực cũng được tiếp cận từ nhiều g c độ.
Từ g c độ tâm lý học, động lực được hiểu là cái thúc đẩy 9 Luan van hành động, gắn liền với việc thỏa mãn các nhu cầu của chủ thể, là toàn bộ những điều kiện bên trong và bên ngoài có khả năng khơi dậy tính tích cực của chủ thể và xác định tính xu hướng của nó [8, tr4].TS Bùi Anh Tuấn viết trong cuốn Hành vi tổ chức (2004) “động lực là những nhân tố bên trong kích thích con người nỗ lực làm việc trong điều kiện cho phép tạo ra năng suất, hiệu quả cao”.85] Theo giáo trình Quản trị nhân lực (2007) của Ths Nguyễn Vân Điềm – PGS.TS Nguyễn Ngọc Quân “động lực là sự khao khát và tự nguyện của người lao động để tăng cường nổ lực nhằm hướng tới việc đạt được các mục tiêu của tổ chức” [9, tr. Từ g c độ quản lý nguồn nhân lực, động lực làm việc chính là sự khao khát và tự nguyện của cá nhân nhằm phát huy và hướng các nỗ lực của bản thân để đạt được các mục tiêu cá nhân và mục tiêu của tổ chức [9, tr. Như vậy, mặc dù có nhiều cách tiếp cận và quan niệm về động lực khác nhau nhưng khi nghiên cứu về động lực ta có thể rút ra một số đặc điểm chung như sau: - Động lực không phải là đặc điểm, tính cách cá nhân. Điều đ có nghĩa là không có người có động lực và người không có động lực.
- Động lực là một hiện tượng các nhân. Mỗi cá nhân là một cá thể riêng biệt có nhu cầu, mong đợi, giá trị, lịch sử, thái độ, mục tiêu khác nhau. Chính vì vậy nhà quản lý không nên cho rằng cái gì thực sự thúc đẩy mình làm việc thì cũng sẽ thúc đẩy nhân viên của mình làm việc. - Động lực làm việc không phải là hiệu quả công việc.
Động lực làm việc chỉ là một yếu tố trong nhiều yếu tố khác quyết định đến hiệu quả công việc. Nói cách khác, hiệu quả công việc không chỉ phụ thuộc vào động lực làm việc, nó còn phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố khác nữa. - Động lực làm việc không đồng nghĩa với sự hài lòng về công việc. Một cá nhân có thể hài lòng với công việc của mình (ví dụ hài lòng về điều kiện làm việc, công việc ổn định) nhưng vẫn có rất ít động lực để làm việc.
10 Luan van Chính vì vậy khi nghiên cứu về động lực làm việc cần phải lưu ý để tìm ra những yếu tố thực sự thúc đẩy người lao động làm việc. Từ những phân tích trên có thể hiểu một cách chung nhất động lực làm việc là sự thúc đẩy khiến con người nỗ lực làm việc trong điều kiện cho phép để tạo ra năng suất, hiệu quả cao [11, tr. C y ô ộc Ủy ban nhân dân c p huy n Theo quy định Hiến pháp 2013 và Luật Tổ chức chính quyền địa phương 2015 thì các cơ quan HCNN được thành lập tại các cấp hành chính theo quy định của pháp luật Đối với cấp huyện, để thực hiện chức năng tham mưu, giúp UBND huyện thực hiện chức năng quản l nhà nước đối với ngành, lĩnh vực, đảm bảo sự thống nhất từ Trung ương đến địa phương, pháp luật quy định việc thành lập các cơ quan chuyên môn Các cơ quan chuyên môn được thành lập theo quy định của Nghị định số 37/2014/NĐ-CP, ngày 05/5/2014 của Chính phủ về quy định tổ chức các cơ quan chuyên môn thuộc UBND huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh [4]. Cơ quan chuyên môn thuộc UBND cấp huyện là cơ quan c nhiệm vụ thực hiện chức năng tham mưu, giúp UBND cấp huyện quản l nhà nước về ngành, lĩnh vực ở địa phương và thực hiện một số nhiệm vụ, quyền hạn theo sự ủy quyền của UBND cấp huyện và theo quy định của pháp luật; góp phần bảo đảm sự thống nhất quản lý của ngành hoặc lĩnh vực công tác ở địa phương [4].
Cơ quan chuyên môn thuộc UBND cấp huyện chịu sự chỉ đạo, quản lý về tổ chức, vị trí việc làm, biên chế công chức, cơ cấu ngạch công chức và công tác của UBND cấp huyện, đồng thời chịu sự chỉ đạo, kiểm tra, hướng dẫn về chuyên môn nghiệp vụ của cơ quan chuyên môn thuộc UBND cấp tỉnh. Các cơ quan chuyên môn thuộc UBND huyện được tổ chức thống nhất gồm 10 cơ quan sau: Phòng Nội vụ, h ng Tư pháp, h ng Tài chính – Kế hoạch, h ng Tài nguyên và ôi trường, h ng Lao động Thương inh và 11 Luan van Xã hội, h ng Văn h a và Thông tin, h ng Giáo dục và Đào tạo, Phòng Y tế, Thanh tra huyện và Văn ph ng Hội đồng nhân dân (HĐND) và UBND. Ngoài 10 cơ quan chuyên môn được tổ chức thực hiện thống nhất ở tất cả các quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh quy định như trên, tổ chức một số cơ quan chuyên môn để phù hợp với từng loại hình đơn vị hành chính cấp huyện như ở quận có Phòng Kinh tế, Phòng Quản l đô thị; ở các thị xã, thành phố thuộc tỉnh có Phòng Kinh tế, Phòng Quản l đô thị; ở huyện có Phòng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Phòng Kinh tế và hạ tầng; huyện có nhiều đồng bào dân tộc thiểu số cùng sinh sống đan xen với nhau, có trình độ phát triển kinh tế không đồng đều thì có thêm Phòng Dân tộc giúp cho UBND huyện thực hiện công tác quản l nhà nước về công tác dân tộc. Công ch y ô ộc Ủy ban nhân dân c p huy n Công chức là thuật ngữ được sử dụng phổ biến ở các nền công vụ trên thế giới.
Tuy nhiên thuật ngữ “công chức” được quy định không giống nhau ở các quốc gia và ngay trong một quốc gia ở những thời điểm khác nhau tùy thuộc vào điều kiện lịch sử, văn h a truyền thống, thể chế chính trị, cách thức tổ chức bộ máy nhà nước… Ở nước ta, khái niệm công chức chính thức ra đời từ năm 1950 và trải qua các giai đoạn lịch sử có các cách hiểu không đồng nhất với nhau. Theo quy định tại Điều 1 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật cán bộ công chức và Luật viên chức 2019 quy định: Công chức là công dân Việt Nam, được tuyển dụng, bổ nhiệm vào ngạch, chức vụ, chức danh tương ứng với vị trí việc làm trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội ở trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện; trong cơ quan, đơn vị thuộc Quân đội nhân dân mà không phải là sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân quốc ph ng; trong cơ quan, đơn vị thuộc Công an nhân dân mà không phải là sĩ quan, hạ sĩ quan phục vụ theo chế độ chuyên 12 Luan van nghiệp, công nhân công an, trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước [15]. Trên cơ sở quy định trên đây và các quy định hiện hành có liên quan, có thể hiểu công chức các cơ quan chuyên môn thuộc UBND cấp huyện là công dân Việt Nam, được tuyển dụng, bổ nhiệm vào ngạch, chức vụ, chức danh tương ứng với v trí việc làm trong các cơ quan chuyên môn thuộc UBND cấp huyện, trong biên chế và hư ng lương từ ngân sách nhà nước.4 ộng lực làm vi c của công ch y ô thuộc Ủy ban nhân dân c p huy n Như đã phân tích ở trên, động lực làm việc của người lao động nói chung chính là sự thúc đẩy khiến bản thân con người nỗ lực làm việc trong điều kiện cho phép để tạo ra năng suất, hiệu quả cao. Động lực làm việc không phải là một thuộc tính của tính cách, động lực làm việc cũng không đồng nghĩa với hiệu quả công việc, hay động lực làm việc ở mỗi con người cụ thể cũng rất khác nhau, tùy thuộc vào nhu cầu, thái độ, mục tiêu v.
Có thể hiểu động lực làm việc của công chức các cơ quan chuyên môn thuộc UBND cấp huyện là sự thúc đẩy khiến các công chức nỗ lực thực thi công vụ trong điều kiện cho phép để tạo ra năng suất, hiệu quả cao.