Chương 1: Sự ra đời của tổ chức ASEAN và quá trình Việt Nam gia nhập ASEAN. Chương 2: Đóng góp của Việt Nam về ba trụ cột: An ninh - Chính trị, kinh tế, văn hóa - xã hội sau khi gia nhập tổ chức ASEAN Chương 3: Một số đóng góp của Việt Nam vào quá trình xây dựng cộng đồng ASEAN Kết luận 9 CHƢƠNG 1 SỰ RA ĐỜI CỦA TỔ CHỨC ASEAN VÀ QUÁ TRÌNH VIỆT NAM GIA NHẬP ASEAN 1, Sự ra đời của tổ chức ASEAN Trước khi Hiệp hội các nước Đông Nam Á được thành lập, ở Đông Nam Á đã có một vài cố gắng của các nước khu vực nhằm liên kết một số quốc gia Đông Nam Á trong một tổ chức chung. Tiền thân của tổ chức ASEAN là Hiệp hội Đông Nam Á( Association of Southeast Asia – ASA), thành phần bao gồm Malaixia, Thái Lan và Philippin, được thành lập vào năm 1961. Ý tưởng về một hiệp ước hữu nghị và hợp tác kinh tế cho Đông Nam Á được cựu Thủ tướng Malaixia Tuncu Abdul Rakhman đưa ra vào tháng 1 năm 1959 sau các buổi hội đàm của ông với tổng thống Philippin M.
Carlos Garcia, theo đó dự kiến ngoài Malaixia và Philippin sẽ tham gia ký kết còn có cả Miến Điện, Campuchia, Inđônêxia, Lào, Thái Lan và Việt Nam Cộng hòa ( tức chính quyền thân Mỹ trước đây ở miền Nam Việt Nam). Nhưng các nước trung lập ở Đông Nam Á tỏ ra thận trọng đối với việc thành lập hiệp hội này. Miến Điện, Campuchia, Lào và Inđônêxia đã từ chối gia nhập tổ chức trên. Thể chế của ASA được xác định tại hội nghị ở Bangkok tháng 6 năm 1961.
Tuyên bố Bangkok (được thông qua tại hội nghị) nêu những mục tiêu của tổ chức là: phát triển hợp tác kinh tế, văn hóa và khoa học giữa các nước hội viên. Nhưng những mâu thuẫn trong tổ chức đã xuất hiện ngay sau đó. Năm 1962, giữa Malaixia và Philippin đã bùng nổ tranh chấp về chủ quyền đối với Xabah 10 (ở bắc Borneo) và Liên bang Malaixia thành lập tháng 9 năm 1963 đã bị Philippin và Inđônêxia từ chối công nhận ngay. ASA lâm vào tình trạng khủng hoảng và tê liệt.
Đối với khu vực, tổ chức ASA cũng ít có tác dụng vì số lượng hội viên hạn chế. Đầu những năm 1960, kế hoạch thành lập nhóm nước gồm Malaixia, Philippin và Inđônêxia gọi MAPHILINDO cũng đã không thành công. MAPHILINDO sớm chết yểu phần vì Inđônêxia thi hành chính sách đối đầu với Liên bang Malaixia vì coi Liên bang Malaixia là sản phẩm của chủ nghĩa đế quốc thực dân, phần vì cơ sở dân tộc hạn chế của tổ chức – dựa trên các quốc gia chủng tộc Mã Lai. ASA, MAPHILINDO không thành công, nhưng nhu cầu về một tổ chức hợp tác khu vực rộng lớn hơn đã trở nên bức xúc ở Đông Nam Á.
Sau cuộc đảo chính không thành ở Inđônêxia tháng 9 năm 1965, chính quyền quân sự của tướng Xuháctô lên nắm quyền đã có những thay đổi về chính sách đối ngoại, chú trọng nhiều hơn đến quan hệ với các nước láng giềng Đông Nam Á và do vậy đã thổi luồng sinh khí mới vào xu hướng liên kết khu vực ở đây. Ban lãnh đạo mới ở Inđônêxia đã thi hành đường lối đối ngoại thân phương Tây, tiến tới bình thường hóa quan hệ với các nước có cùng chế độ chính trị trong khu vực. Một trong những bước đi đầu tiên của chính quyền mới ở Inđônêxia là chấm dứt tình trạng đối đầu với Malaixia và điều đó đã đạt được nhờ sự trung gian hòa giải của Bộ trưởng Ngoại giao Thái Lan lúc đó là Thanat Khoman. Sự đối đầu giữa Malaixia và Inđônêxia trên thực tế đã chấm dứt vào tháng 6 năm 1966 và đến tháng 8 năm đó hai nước đã ký hiệp định giảng hòa.
11 Cùng thời gian đó, mối quan hệ ngoại giao giữa Inđônêxia và Philippin cũng đã được khôi phục lại. Trong những điều kiện đã thay đổi thuận lợi như vậy, một số cố gắng để khôi phục lại hoạt động của ASA lại được đưa ra. Tháng 3 năm 1966, tại Bangkok đã diễn ra hội nghị của ủy ban thường trực ASA và sau đó vào tháng 8 là hội nghị các Bộ trưởng ngoại giao để bàn về các dự án hợp tác kinh tế. Việc chấm dứt tình trạng đối đầu giữa Inđônêxia và Malaixia, xu hướng mở rộng quan hệ với các nước khu vực và phương tây của ban lãnh đạo mới của Inđônêxia đã tạo điều kiện cho việc tăng cường và củng cố ASA.
Nhưng Inđônêxia vẫn từ chối không tham gia ASA. Các nước khu vực, nhất là Thái Lan, cố gắng lôi kéo Inđônêxia, một nước lớn và đông dân nhất Đông Nam Á vào việc hợp tác khu vực cùng với họ. Bên cạnh đó, ban lãnh đạo mới của Inđônêxia cũng có nguyện vọng đưa đất nước ra khỏi tình trạng khó khăn do việc theo đuổi chính sách đối đầu với Malaixia và hạn chế quan hệ với các nước khu vực và phương tây trước đây. Do vậy, Inđônêxia đã tỏ ra sẵn sàng tham gia vào hợp tác khu vực ở Đông Nam Á hơn.
Như vậy có thể nói rằng, sự thất bại của ASA, MAPHILINDO và sự thay đổi thể chế ở Inđônêxia sau cuộc đảo chính quân sự năm 1965 là những nhân tố quan trọng dẫn đến sự ra đời của ASEAN. Tuy nhiên, sự ra đời của tổ chức hợp tác khu vực này còn do một số yếu tố bên ngoài cũng như tính toán riêng của từng nước hội viên. Giữa các nước hội viên có điểm chung là họ đều chống lại tất cả các hình thức của chủ nghĩa đế quốc và nhấn mạnh đến chính sách đối ngoại độc lập. Sự 12 chống đối mạnh mẽ các cường quốc lớn tăng cường ảnh hưởng trong khu vực xuất phát từ thực tế lịch sử là hầu hết các nước Đông Nam Á ( trừ Thái Lan) đều từng là thuộc địa của các cường quốc lớn và chỉ mới giành độc lập sau Chiến tranh thế giới thứ hai.
Sau đó là thời kỳ các nước này xây dựng quốc gia – dân tộc, củng cố nền độc lập, đồng thời tập trung phát triển kinh tế. Trước sự leo thang của Mỹ trong chiến tranh ở Đông Dương trong những năm 1960, các nước ASEAN lo ngại rằng điều này có thể dẫn đến sự thống trị hoặc đụng đầu giữa một số nước lớn ở khu vực Đông Nam Á. Vì vậy, các thành viên sáng lập ASEAN tin rằng cách tốt nhất để tránh sự thống trị của các cường quốc bên ngoài là đoàn kết các nước gần gũi về địa lý vào trong một tổ chức khu vực, nhấn mạnh đến hợp tác, tăng cường phát triển kinh tế và theo đuổi chính sách đối ngoại độc lập. Đồng thời, cũng cần thấy các trào lưu hình thành của chủ nghĩa khu vực trên thế giới sau Chiến tranh thế giới thứ hai như sự ra đời của Cộng đồng kinh tế châu Âu ( EEC); Khu vực thương mại tự do Mỹ La Tinh ( LAFTA); Thị trường chung Trung Mỹ ( CACM).
đã tác động đến việc hình thành ASEAN. Từ kinh nghiệm của EEC, các nước ASEAN cũng như các nước trong các tổ chức khu vực trên đều thấy rằng việc hình thành các tổ chức khu vực sẽ giúp thúc đẩy sự tăng trưởng kinh tế thông qua tăng cường hợp tác kinh tế, buôn bán và phân công lao động. Về mặt chính trị, các tổ chức khu vực giúp củng cố tình đoàn kết khu vực và giúp các nước vừa và nhỏ có tiếng nói mạnh mẽ hơn trong các vấn đề quốc tế. Còn về mặt xã hội, chủ nghĩa khu vực có thể đưa ra các phương hướng hợp tác để giải quyết có hiệu quả các vấn đề xã hội đặt ra cho các nước 13 thành viên.
Ngoài những yếu tố trên ra, một nguyên nhân không kém phần quan trọng dẫn đến sự thành lập ASEAN là các nước này đều phải lo đối phó với các phong trào chống đối trong nước và đều có chung mục tiêu là mong muốn ổn định để phát triển kinh tế, văn hóa. Cuối năm 1966, Thanat Khoman, bộ trưởng ngoại giao Thái Lan bắt đầu chuyển đến bộ trưởng ngoại giao một số nước Đông Nam Á đề án lập “một tổ chức Đông Nam Á về hợp tác khu vực”. Nhưng đàm phán giữa các nước phải kéo dài, vì có nhiều bất đồng. Cuối cùng, các nước cũng đã chấp nhận một số quan điểm của Inđônêxia nhằm tiến tới thành lập tổ chức ASEAN.
Sau nhiều cuộc thảo luận, bộ trưởng ngoại giao năm nước Thái Lan, Inđônêxia, Malaixia, Philippin, Xingapo đã họp ở Bangkok vào ngày 8 tháng 8 năm 1967 và ra Tuyên bố Bangkok về việc thành lập Hiệp hội các nước Đông Nam Á (ASEAN). Nhưng vấn đề hay gây bàn cãi và nghi ngờ về tính chất và mục đích của ASEAN trong những năm đó là: trong năm nước thành viên sáng lập ASEAN có Thái Lan và Philippin là hội viên của Tổ chức Hiệp ước Đông Nam Á (Southeast Asia Treaty Organization – SEATO) – một tổ chức quân sự chống cộng và đều ký với Mỹ hiệp ước phòng thủ chung; vai trò của hai nước này trong cuộc chiến tranh mà Mỹ tiến hành chống nhân dân các nước Đông Dương và bốn trong năm nước nói trên đều có căn cứ quân sự nước ngoài trên lãnh thổ của mình. Đánh giá về sự thành lập ASEAN, giới học giả các nước ASEAN đã viết :“Nhân tố quan trọng ban đầu đưa đến sự thành lập ASEAN không phải là nhân tố kinh tế, mà là những tính toán về chính trị và an ninh”.14] 14 Ngoài những điểm tương đồng cơ bản giữa các quốc gia tư sản Đông Nam Á, nhân tố thường trực đã đưa đến việc thành lập ASEAN là các nước này đều phải lo đối phó với các phong trào chống đối trong nước và đều có chung một mục tiêu là mong ổn định để phát triển kinh tế, văn hoá. Trước các khó khăn và thách thức mới của tình hình quốc tế và khu vực thì tổ chức ASEAN với tôn chỉ hòa hợp, đoàn kết rộng rãi như thể hiện quan Tuyên bố Bangkok là một yêu cầu cần thiết xuất phát từ nguyện vọng của các nước khu vực hợp tác trên cơ sở bình đẳng và cùng có lợi.
Nó thúc đẩy quan hệ hữu nghị, giải quyết ổn thỏa hoặc ít nhất là giảm nhẹ các mâu thuẫn và tranh chấp giữa các hội viên, để có thể tập trung sức đối phó với các thách thức đối nội, đối ngoại và giải quyết các nhiệm vụ kinh tế, xã hội trong từng nước.