MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Nước ta là một nước nông nghiệp có truyền thống là trồng cây lúa nước. Với diện tích ¾ là đồi núi, dân cư sinh sống tập trung ở các khu đô thị, các thành phố lớn, trung tâm các huyện, thị trấn và sinh sống thưa thớt ở các khu vực nông thôn trong phạm vi cấp làng, xã, ấp, bản. Đến nay, tuy quá trình đô thị hóa diễn ra mạnh mẽ nhưng vẫn còn khoảng 66,94% dân số và 70,2% lực lượng lao động nước ta tập trung ở khu vực nông thôn.
Trải qua các thời kì dựng nước, giữ nước và cho đến nay thì Đảng và Nhà Nước ta luôn quan tâm, chăm lo đến việc phát triển kinh tế xã hội ở nông thôn. Sự quan tâm đó được thể hiện ở trong lĩnh vực nông nghiệp ở nông thôn và nó được biểu hiện bằng cách: Đảng ta đưa ra các chủ trương, chính sách, các dự án, các chương trình, các bộ luật qua các thời kì để hạn chế những điểm yếu kém, khắc phục các khuyết điểm, sai lầm đang tồn tại trong quá trình sản xuất và tổ chức sản xuất nhằm tìm ra những giải pháp đẩy mạnh phát triển nền nông nghiệp ở nông thôn của thời kì sau. Sau Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI (tháng 12/1986), đất nước ta bước vào công cuộc đổi mới, nền kinh tế được vận hành theo cơ chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và ngày càng hội nhập sâu hơn với kinh tế thế giới. Nền kinh thế thị trường và hội nhập có nhiều ưu điểm như giải phóng lực lượng sản xuất, thúc đẩy tăng trưởng, tạo điều kiện để nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân.
Tuy vậy, bên cạnh những ưu điểm thì nền kinh tế thị trường đã bộc lộ nhiều khuyết điểm. Do việc phân bổ nguồn lực kinh tế tuân theo quy luật vận động của hệ thống thị trường, cho nên, những vùng, địa phương khó khăn, ít tài nguyên khoáng sản và không có n 2 vị trí địa lý thuận lợi vẫn phát triển chậm, đời sống của nhân dân vẫn còn nhiều khó khăn, phân cực giàu nghèo ngày càng sâu sắc, nhất là ở nông thôn vùng sâu, vùng xa. Một thực tế đang diễn ra là do nông thôn chậm phát triển nên áp lực di dân từ nông thôn ra thành thị ngày càng lớn làm ảnh hưởng đến quá trình ổn định và phát triển của các đô thị. Trước thực trạng nêu trên, Đảng và Nhà nước ta đã có nhiều chủ trương, giải pháp để hạn chế những tác động tiêu cực của kinh tế thị trường và hội nhập như triển khai thực hiện chương trình đầu tư cho các xã đặc biệt khó khăn (Chương trình 135) và đầu tư cho các huyện nghèo theo Nghị quyết 30a/2008/NQ-CP, ngày 27/12/2008 của Chính phủ.
Từ năm 2001- 2006, cả nước đã triển khai Đề án thí điểm “Xây dựng mô hình Nông thôn mới cấp xã theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa, dân chủ hóa” do Ban kinh tế Trung ương và Bộ Nông nghiệp & PTNT chỉ đạo ở trên 200 xã điểm ở cả nước. Nông thôn mới đã làm thay đổi một cách căn bản diện mạo nông thôn, nếp sống, nếp nghĩ. Các địa phương cũng đã có nhiều cố gắng để xây dựng Nông thôn mới nhưng nông thôn nước ta có phạm vi rất rộng lớn, kinh tế của nông thôn chủ yếu là sản xuất nông nghiệp nên nhìn chung nông thôn nước ta còn vẫn nghèo. Cùng với đặc điểm địa hình phức tạp, nhiều sông suối chia cắt và cách lập làng theo tập quán có từ lâu đời nên nông thôn ta phát triển còn lộn xộn, mỗi nơi làm theo một cách, chưa theo một chuẩn mực thống nhất nào.
Mục tiêu nghiên cứu 1. Mục tiêu chung Đề tài tập trung nghiên cứu vai trò của người dân và cộng đồng trong quá trình thực hiện các tiêu chí cơ sở hạ tầng theo bộ tiêu chí xây dựng nông thôn mới tại xã Yên Đổ – huyện Phú Lương – tỉnh Thái Nguyên để từ đó đề xuất ra một số giải pháp chủ yếu đẩy mạnh quá trình xây dựng mô hình nông thôn mới ở địa phương thời gian tới. Mục tiêu cụ thể - Tìm hiểu được điều kiện tự nhiên, tình hình kinh tế, xã hội của xã. - Tìm hiểu và đánh giá được thực trạng xây dựng CSHT tại địa phương.
- Đánh giá được sự tham gia và vai trò của người dân trong quá trình thực hiện. - Đưa ra được những khó khăn, thuận lợi trong khi thực hiện xây dựng nông thôn mới tại địa bàn nghiên cứu. - Đề xuất được định hướng và các giải pháp chủ yếu đẩy mạnh quá trình xây dựng CSHT mới cho địa bàn xã Yên Đổ - huyện Phú Lương - tỉnh Thái Nguyên trong thời gian tới. Ý nghĩa của đề tài 1.
Ý nghĩa trong học tập và nghiên cứu Nghiên cứu tìm hiểu điều kiện tự nhiên - kinh tế - xã hội của xã Yên Đổ là cơ hội cho sinh viên khảo sát thực tế, áp dụng cơ sở lý thuyết vào thực tiễn, học hỏi kinh nghiệm truyền thống của địa phương. Là hình thức tập luyện trước khi ra trường. - Nâng cao kiến thức đã được học và rút ra kinh nghiệm thực tế phục vụ cho công tác sau này. - Vận dụng và phát huy được các kiến thức đã học tập và nghiên cứu.
- Nâng cao khả năng tiếp cận, thu thập và xử lý thông tin của bản thân trong quá trình nghiên cứu. Ý nghĩa trong thực tiễn - Đề tài có thể làm tài liệu tham khảo cho các đề tài, đề án về xây dựng nông thôn mới tại địa phương hoặc nơi khác. - Cho thấy những thuận lợi, khó khăn, những điều chưa làm được và cần phải làm ở địa phương để có thể đưa ra giải pháp phù hợp với bộ tiêu chí. n 4 PHẦN 2 TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 2.
Khái niệm nông dân Nông dân là những người lao động cư trú ở nông thôn, tham gia sản xuất nông nghiệp. Nông dân sống chủ yếu bằng ruộng vườn, sau đó đến các ngành nghề mà tư liệu sản xuất chính là đất đai. Tùy từng quốc gia, từng thời kì lịch sử, người nông dân có quyền sở hữu khác nhau về ruộng đất. Họ hình thành nên giai cấp nông dân, có vị trí, vai trò nhất định trong xã hội.[3] Nông thôn là vùng sinh sống của tập hợp cư dân, trong đó có nhiều nông dân.
Tập hợp dân cư này tham gia vào các hoạt động kinh tế, văn hoá, xã hội và môi trường trong một thể chế chính trị nhất định và chịu ảnh hưởng của các tổ chức khác. Các tổ chức xã hội Khái niệm tổ chức xã hội được dùng với nhiều nghĩa khác nhau trong các ngành khoa học khác nhau và trong tư duy đời thường. Tổ chức xã hội có thể được hiểu hoặc là một thành tố của cơ cấu xã hội, hoặc là một dạng hoạt động, hay là mức độ trật tự nội tại, sự hài hòa giữa các thành phần của một chỉnh thể. Khái niệm tổ chức xã hội được xem như là một thành tố của cơ cấu xã hội; với ý nghĩa này, tổ chức xã hội chính là một hệ thống các quan hệ, tập hợp liên kết cá nhân nào đó để đạt được một mục đích nhất định.
Như vậy, định nghĩa này nhấn mạnh đến hệ thống các quan hệ liên kết cá nhân chứ không phải chính tập hợp cá nhân trong các tổ chức và các quan hệ ở đây là các quan hệ xã hội. Nếu như giữa tập hợp các cá nhân không có những quan hệ xã hội thì họ chưa thể được coi là thành viên của một tổ chức xã hội nào đó. Những quan hệ này sẽ liên kết các cá nhân vào một nhóm để họ cùng thực hiện một hoạt động chung nào đó nhằm đạt được những lợi ích nhất định. n 5 Tóm lại, có thể hiểu tổ chức xã hội là một nhóm người có mối quan hệ với nhau, giúp đỡ lẫn nhau, và hoạt động cùng mục tiêu và cùng lợi ích như nhau.
Các tổ chức ở xã như: hội nông dân, hội phụ nữ, hội cựu chiến binh,… 2. Khái niệm phát triển nông thôn Nông thôn là vùng khác với đô thị là ở đó có một cộng đồng chủ yếu là nông dân, làm nghề chính là nông nghiệp; có mật độ dân cư thấp hơn; có kết cấu hạ tầng kém phát triển hơn; Có mức độ phúc lợi xã hội thua kém hơn; có trình độ dân trí, trình độ tiếp cận thị trường và sản xuất hàng hoá thấp hơn. Phát triển nông thôn là một phạm trù rộng được nhận thức với rất nhiều quan điểm khác nhau. Theo Ngân hàng thế giới (1975): “Phát triển nông thôn là một chiến lược nhằm cải thiện các điều kiện sống về kinh tế và xã hội của một nhóm người cụ thể - người nghèo ở vùng nông thôn.
Nó giúp những người nghèo nhất trong những người dân sống ở các vùng nông thôn được hưởng lợi ích từ sự phát triển”. [2] Phát triển nông thôn có tác động theo nhiều chiều khác nhau. Đây là một quá trình thu hút mọi người dân tham gia vào các chương trình phát triển, nhằm mục tiêu cải thiện chất lượng cuộc sống của các cư dân nông thôn, đồng thời phát triển nông thôn là quá trình thực hiện hiện đại hóa nền văn hóa nông thôn nhưng vẫn bảo tồn được những giá trị truyền thống thông qua việc ứng dụng khoa học và công nghệ. PTNT là sự phát triển tổng hợp của tất cả các hoạt động có mối liên hệ tác động qua lại lẫn nhau giữa các yếu tố vật chất, kinh tế, công nghệ, văn hóa, xã hội, thể chế và môi trường.
Nó không thể tiến hành một cách độc lập mà phải được đặt trong khuôn khổ của một chiến lược, chương trình phát triển quốc gia. Sự phát triển của các vùng nông thôn sẽ đóng góp tích cực vào sự nghiệp phát triển kinh tế nói riêng và sự phát triển chung của đất nước [2] n 6 2. Khái niệm cơ sở hạ tầng - Cơ sở hạ tầng: là tổng thể các điều kiện cơ sở vật chất, kỹ thuật và kiến trúc đóng vai trò nền tảng cơ bản cho các hoạt động kinh tế, xã hội được diễn ra một cách bình thường.