Tổng quan nghiên cứu

Trong giai đoạn 2001–2006, Trường Đại học Khoa học Tự nhiên thuộc Đại học Quốc gia Hà Nội đã triển khai tổng cộng 2.954 đề tài khoa học các cấp, đồng thời nguồn kinh phí đầu tư cho hoạt động nghiên cứu tăng trưởng ấn tượng từ 1.400 triệu đồng lên 6.900 triệu đồng. Tuy nhiên, hiệu quả ứng dụng thực tiễn và số lượng công trình mũi nhọn vẫn chưa tương xứng với tiềm năng của đội ngũ gần 700 cán bộ, trong đó có gần 450 cán bộ giảng dạy trực tiếp. Vấn đề đặt ra là dù nghiên cứu khoa học được xác định là nhiệm vụ trọng tâm song hành cùng đào tạo, nhiều giảng viên vẫn chưa thực sự dành trọn vẹn nhiệt tâm cho công tác này do rào cản về cơ chế tài chính và áp lực công việc.

Luận văn thạc sĩ chuyên ngành Quản lý Khoa học và Công nghệ của tác giả Nguyễn Đức Nhã tập trung phân tích thực trạng động cơ nghiên cứu khoa học của cán bộ, giảng viên dưới lăng kính quản lý hiện đại. Mục tiêu nghiên cứu cụ thể là làm sáng tỏ mối quan hệ biện chứng giữa khía cạnh nội dung và khía cạnh lực của động cơ, phân tích các rào cản ảnh hưởng đến nhiệt huyết học thuật, từ đó đề xuất hệ thống giải pháp quản lý đồng bộ. Phạm vi nghiên cứu được thực hiện tại Trường Đại học Khoa học Tự nhiên với chuỗi dữ liệu thực tiễn từ năm 2001 đến năm 2009. Công trình mang ý nghĩa thực tiễn to lớn trong việc cung cấp cơ sở khoa học để tối ưu hóa nguồn lực chất lượng cao, thúc đẩy tỷ lệ công bố quốc tế vốn đạt 87 bài báo vào năm 2008 và gia tăng các giải pháp chuyển giao công nghệ cho xã hội.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Luận văn vận dụng nền tảng lý luận của tâm lý học hoạt động Mác-xít, tiêu biểu là quan điểm của Vygotsky, Leontiev và Rubinstein. Theo lý thuyết này, động cơ không phải là yếu tố trừu tượng có sẵn mà mang bản chất xã hội - lịch sử, được hình thành và biến đổi thông qua hoạt động thực tiễn. Động cơ chính là sự phản ánh chủ quan về đối tượng có khả năng thỏa mãn nhu cầu của chủ thể. Cấu trúc vi mô của động cơ được định hình bởi hai thành tố hữu cơ: khía cạnh nội dung phản ánh mục tiêu, giá trị mà chủ thể hướng tới; và khía cạnh lực phản ánh độ mạnh, độ bền vững thúc đẩy hành động thực tế.

Bên cạnh đó, tác giả tiếp cận có chọn lọc các lý thuyết tâm lý học phương Tây như Thuyết hành vi mới của Tolman, Thuyết trường tâm lý của Kurt Lewin về tác động qua lại giữa nhân cách và môi trường sống, cùng quan điểm của Woodworth về hứng thú nội tại trong hoạt động sáng tạo. Khung phân tích khái niệm được xây dựng dựa trên định nghĩa quản lý khoa học công nghệ theo Luật Khoa học và Công nghệ cùng hướng dẫn của UNESCO, kết hợp mô hình phân loại 5 nhóm động cơ nghiên cứu khoa học gồm: động cơ hoàn thiện tri thức, động cơ nghề nghiệp, động cơ tự khẳng định, động cơ quan hệ xã hội và động cơ lợi ích cá nhân.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu sử dụng phương pháp điều tra xã hội học bằng bảng hỏi trên cỡ mẫu khảo sát gồm 100 cán bộ giảng viên đang trực tiếp công tác tại 8 khoa chuyên môn của Trường Đại học Khoa học Tự nhiên. Phương pháp chọn mẫu phân tầng kết hợp ngẫu nhiên thuận tiện được lựa chọn nhằm đảm bảo tính đại diện cao cho toàn bộ cơ cấu học hàm, học vị của nhà trường, bao gồm đại diện từ 25 Giáo sư, 99 Phó Giáo sư, 216 Tiến sĩ và 145 Thạc sĩ. Lý do lựa chọn phương pháp này là nhằm lượng hóa chính xác các mức độ nhận thức và đo lường cường độ thúc đẩy của từng nhóm động cơ.

Nguồn dữ liệu thứ cấp được tổng hợp toàn diện từ các báo cáo hoạt động giai đoạn 2001–2009, bao gồm số liệu thực hiện 36 nhiệm vụ cấp Nhà nước, 921 nhiệm vụ cấp Bộ và 196 đề tài cấp cơ sở. Tác giả kết hợp phương pháp phỏng vấn sâu các chuyên gia quản lý khoa học và phương pháp thống kê toán học để xử lý điểm trung bình, xếp hạng thứ bậc, qua đó kiểm định giả thuyết khoa học về sự chênh lệch giữa nhận thức nội dung và lực thúc đẩy hành động trong giai đoạn nghiên cứu từ năm 2006 đến năm 2009.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Kết quả điều tra thực tiễn mang lại những phát hiện quan trọng về hệ thống động cơ nghiên cứu khoa học của đội ngũ giảng viên:

Thứ nhất, nhận thức ban đầu về lý do tham gia nghiên cứu khoa học còn mang nặng tính nghĩa vụ hành chính. Có tới 70% cán bộ giảng viên khẳng định tham gia nghiên cứu khoa học đơn thuần vì đó là nhiệm vụ bắt buộc của chức danh giảng viên, trong khi chỉ có 30% xuất phát từ ý thức tự thân muốn khẳng định vị thế xứng đáng của một nhà khoa học tại trường đại học lớn.

Thứ hai, trật tự thứ bậc của các nhóm động cơ được xác lập rõ nét qua điểm trung bình đánh giá. Động cơ hoàn thiện tri thức dẫn đầu với điểm trung bình đạt 3.50 điểm; đứng thứ hai là Động cơ nghề nghiệp với 3.36 điểm; Động cơ tự khẳng định đạt vị trí thứ ba với 2.98 điểm; Động cơ quan hệ xã hội xếp thứ tư với 2.72 điểm; và cuối cùng là Động cơ nặng về lợi ích cá nhân đạt 2.17 điểm.

Thứ ba, tồn tại khoảng cách lớn giữa khía cạnh nội dung và khía cạnh lực của động cơ. Mặc dù 100% cán bộ ý thức sâu sắc giá trị cao quý của tri thức khoa học, nhưng lực thúc đẩy thực tế lại bị triệt tiêu đáng kể trước những khó khăn ngoại cảnh, khiến động cơ phần lớn chỉ tồn tại ở dạng tiềm tàng.

Thứ tư, có sự chênh lệch sâu sắc về cơ hội nghiên cứu theo độ tuổi. Trong giai đoạn 2006–2009, nhóm giảng viên trên 45 tuổi chủ trì tới 34 trong tổng số 36 nhiệm vụ cấp Nhà nước (chiếm tỷ lệ áp đảo 94,4%), trong khi giảng viên trẻ dưới 30 tuổi chủ yếu chỉ tham gia hỗ trợ với 72 lượt người mà không có đề tài chủ trì độc lập ở cấp này.

Thảo luận kết quả

Thực trạng lực động cơ bị suy giảm xuất phát từ những nguyên nhân mang tính hệ thống. Áp lực giảng dạy quá tải ở nhiều hệ đào tạo khác nhau đã biến một bộ phận giảng viên thành những người thợ dạy, thiếu thời gian tối thiểu để làm việc tại các phòng thí nghiệm. Về mặt kinh tế, cơ chế tiền lương hành chính cùng mức thù lao nghiên cứu chưa tương xứng khiến thu nhập từ đề tài khó khăn hơn nhiều so với thu nhập dạy thêm giờ.

Hơn nữa, cơ sở vật chất dù được đầu tư với các gói kinh phí trên 3.000 triệu đồng cho một số phòng thí nghiệm nhưng vẫn phân tán, thiếu đồng bộ. Tâm lý đố kị và sự thiếu vắng các nhóm nghiên cứu mạnh liên ngành khiến các nhà khoa học làm việc đơn lẻ, cản trở việc tạo ra các sản phẩm công bố quốc tế đỉnh cao. Dữ liệu khảo sát có thể được mô hình hóa trực quan thông qua biểu đồ cột thể hiện điểm trung bình 5 nhóm động cơ và bảng tổng hợp phân tầng độ tuổi chủ trì 921 nhiệm vụ cấp Bộ để minh chứng rõ nét cho hiện tượng phân hóa này.

Đề xuất và khuyến nghị

Nhằm chuyển hóa động cơ tiềm tàng thành lực thúc đẩy hành động mạnh mẽ, tác giả đề xuất 4 nhóm giải pháp chiến lược:

Thứ nhất, cải cách cơ chế tài chính và đảm bảo thu nhập thỏa đáng cho nhà khoa học. Ban Giám hiệu cùng Phòng Kế hoạch - Tài chính cần xây dựng quy chế phân bổ kinh phí minh bạch, nâng tỷ lệ chi trả thù lao trực tiếp cho người nghiên cứu đạt mức 30% đến 40% tổng kinh phí đề tài, hoàn thành triển khai trong giai đoạn 2010–2012.

Thứ hai, tái cấu trúc định mức lao động và giảm trừ giờ giảng dạy. Phòng Đào tạo phối hợp cùng Phòng Tổ chức Cán bộ áp dụng cơ chế quy đổi giờ nghiên cứu khoa học linh hoạt, giảm từ 20% đến 30% số tiết giảng dạy bắt buộc đối với các cán bộ đang chủ trì các nhiệm vụ khoa học trọng điểm từ năm học tiếp theo.

Thứ ba, xây dựng mô hình nhóm nghiên cứu mạnh và đầu tư hạ tầng đồng bộ. Phòng Quản lý Khoa học và Công nghệ cần chủ trì thành lập từ 5 đến 8 nhóm nghiên cứu mũi nhọn tại 8 khoa chuyên ngành, đồng thời tối ưu hóa công suất vận hành của 11 trung tâm nghiên cứu và nâng cấp các phòng thí nghiệm trọng điểm với định mức đầu tư trên 3.000 triệu đồng mỗi đơn vị trong vòng 2 năm.

Thứ tư, đổi mới chính sách thi đua, khen thưởng và tôn vinh học thuật. Hội đồng Thi đua Khen thưởng nhà trường cần ban hành chính sách thưởng nóng tương đương 100% mức lương cơ sở cho mỗi bài báo công bố trên các tạp chí khoa học quốc tế uy tín, nhằm gia tăng quy mô công bố vượt qua mốc 87 bài báo quốc tế của năm 2008, ban hành quy chế trong vòng 6 tháng.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Luận văn là tài liệu tham khảo giá trị cho 4 nhóm đối tượng chính với các ứng dụng thực tế:

Thứ nhất, các nhà quản lý giáo dục và ban giám hiệu các trường đại học: Ứng dụng mô hình phân tích khía cạnh nội dung và lực để hoàn thiện chiến lược quản trị nhân lực khoa học cho hơn 450 giảng viên.

Thứ tư, cán bộ giảng viên trẻ và nghiên cứu sinh: Tự nhận diện cấu trúc động cơ cá nhân, xây dựng kế hoạch cân bằng giữa hoạt động giảng dạy và mục tiêu hoàn thiện tri thức khoa học dài hạn.

Thứ ba, chuyên viên phòng quản lý khoa học công nghệ: Tham khảo khung đánh giá thực trạng và quy trình phân bổ đề tài nhằm thiết kế các gói tài trợ nội bộ phù hợp với đặc thù 8 khoa khoa học cơ bản.

Thứ hai, học viên cao học và nhà nghiên cứu chuyên ngành Quản lý KH&CN, Tâm lý học: Sử dụng hệ thống lý luận hoạt động - nhân cách và bộ công cụ đo lường 5 bậc động cơ làm cơ sở mở rộng nghiên cứu sang các khối trường kỹ thuật và xã hội.

Câu hỏi thường gặp

Nhóm động cơ nghiên cứu khoa học nào chiếm vị trí ưu thế nhất ở cán bộ giảng viên? Khảo sát 100 cán bộ giảng viên cho thấy Động cơ hoàn thiện tri thức đạt điểm trung bình cao nhất là 3.50 điểm, tiếp đến là Động cơ nghề nghiệp với 3.36 điểm. Điều này khẳng định giảng viên luôn coi trọng việc nâng cao trình độ chuyên môn và làm giàu tri thức, vượt trội so với động cơ lợi ích cá nhân chỉ đạt 2.17 điểm.

Tại sao giảng viên có nhận thức đúng đắn nhưng lực thúc đẩy nghiên cứu thực tế lại yếu? Nguyên nhân là do áp lực giảng dạy quá tải khiến giảng viên trở thành thợ dạy, thiếu thời gian nghiên cứu tại phòng thí nghiệm. Đồng thời, thu nhập từ đề tài chưa tương xứng và điều kiện trang thiết bị còn thiếu đồng bộ khiến động cơ nghiên cứu chỉ dừng lại ở mức độ nhận thức tiềm năng mà chưa chuyển thành hành động thường xuyên.

Cơ cấu độ tuổi ảnh hưởng như thế nào đến việc chủ trì các nhiệm vụ nghiên cứu? Giai đoạn 2006–2009 ghi nhận sự chênh lệch lớn khi giảng viên trên 45 tuổi chủ trì tới 34 trong số 36 nhiệm vụ cấp Nhà nước, chiếm 94,4%. Ngược lại, nhóm dưới 30 tuổi chỉ chủ trì 108 nhiệm vụ cấp cơ sở quy mô nhỏ và chưa có cơ hội chủ trì đề tài cấp Nhà nước, đòi hỏi cần có chính sách ưu tiên phát triển cán bộ trẻ.

Trường Đại học Khoa học Tự nhiên đã đạt được kết quả công bố khoa học tiêu biểu nào? Theo báo cáo năm 2008 của ĐHQGHN, nhà trường dẫn đầu toàn hệ thống với 87 bài báo quốc tế, 167 bài kỷ yếu hội thảo quốc tế, 48 bài báo trong nước và 148 báo cáo kỷ yếu hội nghị trong nước. Thành tích này phản ánh tiềm năng nghiên cứu xuất sắc của đội ngũ 25 Giáo sư và 99 Phó Giáo sư.

Làm thế nào để xây dựng văn hóa hợp tác và hạn chế tính đố kị trong nghiên cứu? Nhà trường cần xóa bỏ hình thức nghiên cứu đơn lẻ một thầy một trò bằng cách thành lập các nhóm nghiên cứu mạnh liên ngành. Việc công khai minh bạch quyền lợi, chia sẻ dữ liệu chung tại các phòng thí nghiệm và gắn kết quả của nhóm với đánh giá thi đua sẽ giúp xây dựng môi trường học thuật đoàn kết, cởi mở.

Kết luận

  • Hệ thống hóa toàn diện cơ sở lý luận về động cơ nghiên cứu khoa học dựa trên tiếp cận hoạt động - nhân cách và tâm lý học quản lý.
  • Khảo sát thực chứng trên mẫu 100 cán bộ giảng dạy, làm rõ thực trạng hoạt động nghiên cứu của gần 700 cán bộ tại Trường Đại học Khoa học Tự nhiên.
  • Xác lập thứ bậc 5 nhóm động cơ với động cơ hoàn thiện tri thức (3.50 điểm) và nghề nghiệp (3.36 điểm) giữ vai trò chủ đạo.
  • Phát hiện khoảng cách lớn giữa khía cạnh nội dung nhận thức và khía cạnh lực thúc đẩy do rào cản tài chính và quá tải giờ giảng.
  • Đề xuất hệ thống 4 nhóm giải pháp khả thi gắn liền với định mức kinh phí, giảm tải giảng dạy và xây dựng nhóm nghiên cứu mạnh.

Đóng góp cốt lõi của luận văn là cung cấp luận cứ khoa học xác thực giúp các cơ sở giáo dục đại học đổi mới công tác quản lý khoa học công nghệ, khơi dậy tiềm năng sáng tạo của đội ngũ trí thức. Lộ trình thực thi cần tập trung thí điểm cải cách tài chính trong 12 tháng tới và hoàn thiện quy chế nhóm nghiên cứu mạnh giai đoạn 2010–2015. Các nhà quản lý và cán bộ nghiên cứu hãy khai thác ngay những phát hiện của công trình để nâng cao chất lượng nghiên cứu khoa học trong thời kỳ hội nhập.