Động Cơ Nghiên Cứu Khoa Học Của Cán Bộ, Giảng Viên Tại Đại Học Khoa Học Tự Nhiên - ĐHQGHN

Luận văn thạc sĩ nghiên cứu động cơ khoa học của giảng viên tại trường Đại học Khoa học Tự nhiên ĐHQGHN, phân tích và đánh giá hiệu quả.

Trường đại học

Đại học Quốc gia Hà Nội

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận văn thạc sĩ

2009

97
5
0

Phí lưu trữ

35 Point

Tóm tắt

I. Tổng Quan Động Cơ Nghiên Cứu Khoa Học Giảng Viên KHTN

Luận văn này tập trung nghiên cứu động cơ nghiên cứu khoa học của cán bộ, giảng viên tại Trường Đại học Khoa học Tự nhiên (ĐH KHTN) thuộc Đại học Quốc gia Hà Nội (ĐHQGHN). Nghiên cứu này được thực hiện trong bối cảnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước dựa vào khoa học và công nghệ (KH-CN), cũng như tiến trình cải cách hành chính nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động quản lý KH-CN và chất lượng hoạt động nghiên cứu khoa học (NCKH) trong nhà trường. Mục tiêu là tìm hiểu đời sống tâm lý, tư tưởng, hướng giá trị của đội ngũ các nhà khoa học, từ đó đưa ra những đề xuất nhằm thúc đẩy các hoạt động nghiên cứu và nâng cao hiệu quả công tác NCKH dưới góc độ quản lý. Vấn đề phân tích động cơ NCKH được coi là vấn đề trung tâm của toàn bộ nghiên cứu này.

1.1. Tầm quan trọng của NCKH trong trường đại học

Hoạt động NCKH trong trường đại học là một nhiệm vụ quan trọng của hoạt động R&D và là một trong những mục tiêu cơ bản bên cạnh hoạt động đào tạo và phục vụ xã hội. Hiện nay, các công trình NCKH của trường đại học chưa đáp ứng được yêu cầu của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, nhất là trong xu thế hội nhập kinh tế quốc tế và sự phát triển của kinh tế tri thức trên thế giới. Cần tạo sự gắn kết giữa nhu cầu và hoạt động của các ngành kinh tế, xã hội, đẩy nhanh việc đưa vào ứng dụng những kết quả đã nghiên cứu được, nâng cao năng lực tạo ra và chuyển giao công nghệ mới.

1.2. Thực trạng động lực nghiên cứu của giảng viên hiện nay

Về phía nhà nghiên cứu (bao gồm các CB-GV trong nhà trường), nhiều người chưa thật sự dành hết nhiệt tâm cho NCKH và qua đó chất lượng các đề tài, các công trình NCKH chưa cao, chưa đáp ứng được yêu cầu của thực tiễn. Nhà quản lý cần tiếp cận được hai vấn đề: Tại sao các CB-GV cần phải có động cơ NCKH? Họ được tạo động cơ và động viên như thế nào? Luận văn này cố gắng phân tích và làm rõ hơn yếu tố động cơ NCKH của CB-GV nhà trường như một hướng tiếp cận mới làm cơ sở cho việc nâng cao hiệu quả hoạt động quản lý KH-CN của Nhà trường trong tình hình mới.

II. Phân Tích Các Yếu Tố Ảnh Hưởng Động Cơ NCKH Giảng Viên

Các nghiên cứu về động cơ trong tâm lý học phương Tây và Mác-Xít đã chỉ ra nhiều yếu tố ảnh hưởng đến động cơ NCKH. Các nhà tâm lý học hành vi giải quyết vấn đề động cơ nghiên cứu trên nguyên tắc điều kiện hóa và luật hiệu quả, cho rằng động cơ NCKH là cái kích thích bên ngoài và các yếu tố bên trong (nhu cầu tự nhiên của cơ thể). Các nghiên cứu của R. Woodworth phủ nhận việc coi động cơ xuất phát từ nhu cầu cơ thể, cho rằng con người có hứng thú đặc biệt, xuất phát không phải từ nhu cầu mang tính bản năng mà từ tính chất của hoạt động và sự thành công trong nghiên cứu tạo nên khát vọng nhận thức, khát vọng sáng tạo.

2.1. Tiếp cận tâm lý học hành vi về động cơ nghiên cứu

Tâm lý học hành vi chỉ quan tâm nghiên cứu những sự kiện có thể trực tiếp quan sát được. Theo thuyết hành vi, hành vi của con người chỉ là các cử chỉ của cơ thể dùng để thích nghi với môi trường, hoàn toàn không cần thiết giữa kích thích và phản ứng có gì, không công nhận có tâm lý, có ý thức trong việc con người thích nghi với môi trường. Các nhà tâm lý học hành vi mới đã cố gắng cải tạo thuyết hành vi bằng cách bổ sung thêm một biến cố trung gian. Ông coi hành vi là tổng thể các yếu tố trung gian, là ý định, nhận thức nhằm đạt tới các khách thể có lợi cho cơ thể, tránh các khách thể có hại.

2.2. Phân tâm học và vai trò của vô thức trong động cơ

Người sáng lập ra thuyết phân tâm là Freud. Học thuyết phân tâm của ông xây dựng trên khái niệm “vô thức”. Freud quan niệm tất cả các hiện tượng tinh thần của con người về bản chất là các hiện tượng vô thức, ông khẳng định: Cái sâu xa nhất làm cho động lực cả thế giới tinh thần, thế giới tâm lý của con người nằm trong thế giới vô thức. Theo phân tâm học, những bản năng vô thức chính là cội nguồn thúc đẩy hành vi con người, trong đó bản năng tình dục là nguồn năng lượng quan trọng nhất làm thành xung lực mạnh nhất chi phối, thúc đẩy định hướng hành động.

2.3. Tâm lý học Mác Xit và động cơ xã hội lịch sử

Đối với các nhà tâm lý học Mac-Xit, động cơ nghiên cứu không tách rời với ý thức; động cơ được nghiên cứu với tư cách là một hiện tượng tâm lý trong các mối quan hệ hiện thực, mang bản chất xã hội - lịch sử. Uzanade giải quyết vấn đề động cơ và động cơ hoá hành vi trên cơ sở thuyết tâm thế. Leonchiev nghiên cứu động cơ trên cơ sở phương pháp luận tiếp cận khoa học. Trong lý luận của mình ông nghiên cứu mối quan hệ giữa động cơ và cảm xúc, động cơ và nhu cầu, động cơ và nhân cách và phân tích kỹ thứ bậc của động cơ.

III. Thực Trạng Hoạt Động Nghiên Cứu và Động Lực tại KHTN

Phần này tập trung vào thực trạng hoạt động NCKHđộng cơ NCKH của cán bộ, giảng viên tại Trường Đại học Khoa học Tự nhiên (ĐH KHTN), Đại học Quốc gia Hà Nội (ĐHQG HN). Đánh giá cơ sở vật chất, tinh thần làm việc, và khái quát thực trạng động cơ NCKH của CB-GV nhà trường. Phân tích cả khía cạnh nội dung và khía cạnh lực của động cơ NCKH, bao gồm động cơ hoàn thiện tri thức, động cơ nghề nghiệp, động cơ quan hệ xã hội, động cơ tự khẳng định và động cơ nặng về lợi ích cá nhân.

3.1. Cơ sở vật chất và tinh thần ảnh hưởng tới động cơ

Một yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến động cơ NCKH là cơ sở vật chất và tinh thần làm việc. Cán bộ, giảng viên cần được trang bị đầy đủ các thiết bị, phòng thí nghiệm hiện đại, cũng như môi trường làm việc thoải mái, sáng tạo để có thể tập trung vào nghiên cứu. Bên cạnh đó, sự hỗ trợ về mặt tinh thần từ nhà trường, đồng nghiệp cũng đóng vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy động lực nghiên cứu.

3.2. Đánh giá về các loại động cơ nghiên cứu khác nhau

Nghiên cứu đánh giá nhận thức của CB-GV về nội dung của các loại động cơ khác nhau, bao gồm động cơ hoàn thiện tri thức, động cơ nghề nghiệp, động cơ quan hệ xã hội, động cơ tự khẳng định và động cơ nặng về lợi ích cá nhân. Việc hiểu rõ các loại động cơ này giúp nhà quản lý đưa ra các chính sách phù hợp để khuyến khích và phát huy tối đa năng lực nghiên cứu của cán bộ, giảng viên.

IV. Giải Pháp Thúc Đẩy Động Cơ Nghiên Cứu Khoa Học Giảng Viên KHTN

Để thúc đẩy động cơ NCKH của cán bộ và giảng viên, cần đảm bảo quyền lợi và thu nhập cho nhà khoa học, đáp ứng và thỏa mãn các nhu cầu nhằm tạo động cơ NCKH cho cán bộ NCKH. Làm phong phú công việc, mở rộng công việc. Tăng cường sự tham gia của các nhà khoa học. Ghi nhận thành tích. Biểu dương, khen thưởng, tôn vinh các nhà khoa học. Nâng cao trách nhiệm. Thăng chức, thăng tiến. Hỗ trợ môi trường làm việc.

4.1. Đảm bảo quyền lợi và thu nhập cho nhà khoa học

Một trong những yếu tố quan trọng nhất để thúc đẩy động cơ NCKH là đảm bảo quyền lợi và thu nhập cho nhà khoa học. Nhà khoa học cần được trả lương xứng đáng với công sức và chất lượng công việc của họ. Bên cạnh đó, cần có các chính sách hỗ trợ về kinh phí, điều kiện làm việc để nhà khoa học có thể tập trung vào nghiên cứu mà không phải lo lắng về các vấn đề tài chính.

4.2. Tạo môi trường làm việc thuận lợi và hỗ trợ

Môi trường làm việc đóng vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy động cơ NCKH. Cần tạo ra một môi trường làm việc cởi mở, sáng tạo, nơi các nhà khoa học có thể tự do trao đổi ý tưởng, hợp tác với nhau. Nhà trường cũng cần hỗ trợ các nhà khoa học về mặt thủ tục hành chính, thông tin, cũng như tạo điều kiện để họ tham gia các hội thảo, khóa đào tạo nâng cao trình độ chuyên môn.

4.3. Ghi nhận và tôn vinh các thành tích NCKH

Việc ghi nhận và tôn vinh các thành tích NCKH là một cách hiệu quả để khuyến khích và thúc đẩy động cơ của các nhà khoa học. Nhà trường cần có các hình thức khen thưởng phù hợp, như trao giải thưởng, bằng khen, hoặc công bố thành tích trên các phương tiện truyền thông. Điều này không chỉ giúp các nhà khoa học cảm thấy được ghi nhận mà còn tạo động lực cho họ tiếp tục phấn đấu trong hoạt động NCKH.

V. Phân Tích Nguyên Nhân Cản Trở Động Cơ Nghiên Cứu Của Giảng Viên

Luận văn phân tích các nguyên nhân cản trở động cơ nghiên cứu của giảng viên, bao gồm cơ chế tiền lương chưa phù hợp, điều kiện và môi trường làm việc chưa tốt, và tính đố kỵ cản trở động cơ NCKH. Cơ chế tiền lương cho CB-GV đại học còn nhiều bất cập, chưa khuyến khích được các hoạt động nghiên cứu. Điều kiện và môi trường làm việc còn thiếu thốn, chưa đáp ứng được yêu cầu của NCKH. Tính đố kỵ trong môi trường làm việc cũng là một yếu tố cản trở động cơ NCKH.

5.1. Bất cập trong cơ chế tiền lương và đãi ngộ

Cơ chế tiền lương hiện tại chưa thực sự khuyến khích hoạt động NCKH. Giảng viên thường tập trung vào giảng dạy để tăng thu nhập, ít có thời gian và động lực để nghiên cứu. Cần có những thay đổi trong cơ chế tiền lương để đảm bảo thu nhập của giảng viên, đồng thời khuyến khích họ tham gia NCKH.

5.2. Thiếu thốn về điều kiện và môi trường làm việc

Điều kiện và môi trường làm việc đóng vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy động cơ NCKH. Tuy nhiên, nhiều trường đại học hiện nay vẫn còn thiếu thốn về cơ sở vật chất, trang thiết bị, phòng thí nghiệm. Môi trường làm việc cũng chưa thực sự cởi mở, sáng tạo, khiến giảng viên cảm thấy khó khăn trong việc nghiên cứu.

VI. Kết Luận và Khuyến Nghị về Động Cơ NCKH Giảng Viên

Luận văn đưa ra kết luận và khuyến nghị đối với CB-GV nhà trường và đối với nhà trường. Đối với CB-GV nhà trường, cần nâng cao ý thức về vai trò và tầm quan trọng của NCKH, tích cực tham gia các hoạt động NCKH. Đối với nhà trường, cần tạo điều kiện thuận lợi cho CB-GV tham gia NCKH, có chính sách khen thưởng phù hợp, và xây dựng môi trường làm việc cởi mở, sáng tạo.

6.1. Khuyến nghị cho cán bộ giảng viên KHTN

Để nâng cao động cơ NCKH, CB-GV cần chủ động tìm kiếm các cơ hội nghiên cứu, tham gia các dự án, đề tài NCKH, và không ngừng học hỏi, nâng cao trình độ chuyên môn. Ngoài ra, cần xây dựng tinh thần hợp tác, chia sẻ kinh nghiệm với đồng nghiệp để cùng nhau phát triển trong hoạt động NCKH.

6.2. Khuyến nghị cho Trường Đại học Khoa học Tự nhiên

Nhà trường cần xây dựng chính sách hỗ trợ và khuyến khích NCKH một cách hiệu quả, đảm bảo các nguồn lực cần thiết cho NCKH, và tạo điều kiện để CB-GV có thể tham gia các hoạt động NCKH một cách thuận lợi. Bên cạnh đó, cần xây dựng môi trường làm việc cởi mở, sáng tạo, nơi CB-GV có thể tự do trao đổi ý tưởng, hợp tác với nhau.

28/05/2025
Luận văn thạc sĩ động cơ nghiên cứu khoa học của cán bộ giảng viên các trường đại học nghiên cứu trường hợp trường đại học khoa học tự nhiên đqghn

Trích đoạn nội dung tài liệu

phần mở đầu gồm ( lời nói đầu, giới thiệu chung vấn đề nghiên cứu, tổng quan lịch sử nghiên cứu, mục tiêu, phạm vi và phƣơng pháp nghiên cứu đã đƣợc thực hiện), kết luận và khuyến nghị, tài liệu tham khảo, phụ lục, nội dung luận văn gồm 3 chƣơng : Chƣơng 1. Cơ sở lý luận Chƣơng 2. Thực trạng hoạt động NCKH và động cơ NCKH của cán bộ giảng viên trƣờng ĐH KHTN – ĐHQG HN Chƣơng 3. Giải pháp thúc đẩy động cơ NCKH của CB-GV nhà trƣờng Kết luận và Khuyến nghị.DQGHN) 16 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.DQGHN) Chƣơng 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN 1.

MỘT SỐ KHÁI NIỆM CƠ BẢN 1. Quản lý KH-CN Quản lý là hoạt động có chủ đích, đƣợc tiến hành bởi một chủ thể quản lý nhằm tác động lên khách thể quản lý để thực hiện các mục tiêu xác định của công tác quản lý [16, tr. Theo đó, quản lý KH-CN là quản lý các hoạt động KH-CN, nó bao gồm nội dung rộng và đa dạng hơn nhiều so với quản lý R-D với nghĩa hẹp. Theo Unesco, hoạt động KH-CN bao gồm tất cả các hoạt động liên quan tới sản xuất, nâng cao, truyền bá và ứng dụng các kiến thức KH-CN trong thực tiễn và đời sống.

Theo Luật KH-CN, hoạt động KH-CN bao gồm: NCKH, nghiên cứu và phát triển công nghệ, dịch vụ KH-CN, hoạt động phát huy sáng kiến, cải tiến kỹ thuật, hợp lý hoá sản xuất và các hoạt động khác nhằm phát triển KH-CN [23]. Cũng theo Luật KH-CN, mục tiêu của hoạt động KH-CN của nƣớc ta là : xây dựng nền KH-CN tiên tiến, hiện đại để phát triển lực lƣợng sản xuất, nâng cao trình độ quản lý; sử dụng hợp lý tài nguyên thiên nhiên, bảo vệ môi trƣờng; đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá; xây dựng nền văn hoá tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc; xây dựng con ngƣời mới Việt Nam; góp phần phát triển nhanh, bền vững kinh tế - xã hội, nâng cao chất lƣợng cuộc sống của nhân dân, đảm bảo quốc phòng an ninh. Quản lý KH-CN bao gồm : Hoạch định chiến lƣợc phát triển KH-CN; lập kế hoạch và quy hoạch dài hạn; cải cách thể chế hoạt động KH-CN; ban hành các văn bản pháp luật KH-CN; sắp xếp, tổ chức mạng lƣới cơ quan khoa học; thực hiện các chƣơng trình NCKH; quản lý và áp dụng rộng rãi các thành quả thu đƣợc; chuyển giao công nghệ, quản lý kinh phí cho KH-CN; quản lý nhân lực KH-CN; quản lý vật tƣ phục vụ NCKH; thông tin KH-CN; thanh tra KH-CN và nhiều nội dung khác nữa [16, tr.DQGHN) 17 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.DQGHN) Do tính không chắc chắn của công cuộc tìm tòi, khám phá cái mới, không giống các hoạt động ổn định, lặp đi lặp lại trong sản xuất thông thƣờng nên quản lý KH-CN cũng là một lĩnh vực quản lý đặc thù. Đó chính là tính linh hoạt, tính mềm, hay tính cơ động của quản lý [16, tr.

Nhƣ vậy quản lý KH-CN là một hoạt động đặc thù. Đó cũng chính là một nghề nghiệp riêng, có những tiêu chí và chuẩn mực hành động đặc thù so với nhiều lĩnh vực hoạt động khác trong xã hội [17]. Quản lý KH-CN là một nghề, thì những ngƣời làm quản lý trong lĩnh vực này cũng phải đƣợc đào tạo bồi dƣỡng thƣờng xuyên để đáp ứng đƣợc yêu cầu ngày càng cao của công việc quản lý. Nghiên cứu khoa học Nghiên cứu Khoa học là quá trình nghiên cứu nhằm khám phá ra những kiến thức mới về tự nhiên và xã hội.

Những kiến thức hay học thuyết này tốt hơn có thể thay thế dần những cái cũ, không còn phù hợp. Nhƣ vậy, khoa học bao gồm một hệ thống tri thức về quy luật của vật chất và sự vận động của vật chất, những quy luật của tự nhiên, xã hội và tƣ duy. Hệ thống tri thức này hình thành trong lịch sử và không ngừng phát triển trên cơ sở thực tiễn xã hội. Phân biệt ra 2 hệ thống tri thức: Tri thức kinh nghiệm và Tri thức khoa học.

- Tri thức kinh nghiệm: là những hiểu biết đƣợc tích luỹ qua hoạt động sống hàng ngày trong mối quan hệ giữa con ngƣời với con ngƣời và giữa con ngƣời với thiên nhiên. Quá trình này giúp con ngƣời hiểu biết về sự vật, về cách quản lý thiên nhiên và hình thành mối quan hệ giữa con ngƣời trong xã hội. Tri thức kinh nghiệm đƣợc con ngƣời không ngừng sử dụng và phát triển trong hoạt động thực tế. Tuy nhiên tri thức kinh nghiệm chƣa thật sự đi sâu vào bản chất, chƣa thấy hết đƣợc các thuộc tính của sự vật và mối quan hệ bên trong giữa sự vật và con ngƣời.

Vì vậy, tri thức kinh nghiệm chỉ phát triển đến một hiểu biết giới hạn nhất định, nhƣng tri thức kinh nghiệm là cơ sở cho sự hình thành tri thức khoa học.DQGHN) 18 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.DQGHN) - Tri thức khoa học: là những hiểu biết đƣợc tích luỹ một cách có hệ thống nhờ hoạt động NCKH, các hoạt động này có mục tiêu xác định và sử dụng phƣơng pháp khoa học. Không giống nhƣ tri thức kinh nghiệm, tri thức khoa học dựa trên kết quả quan sát, thu thập đƣợc qua những thí nghiệm và qua các sự kiện xảy ra ngẫu nhiên trong hoạt động xã hội, trong tự nhiên. Tri thức khoa học đƣợc tổ chửc trong khuôn khổ các ngành và bộ môn khoa học (disclipline) nhƣ: triết học, sử học, kinh tế học, toán học, sinh học, tâm lý học. Vậy NCKH là gì ? NCKH là hoạt động tìm kiếm, xem xét, điều tra hoặc thử nghiệm.

Dựa trên những số liệu, tài liệu, kiến thức, kết quả thí nghiệm… để phát hiện ra những cái mới về bản chất sự vật, về thế giới tự nhiên và xã hội, và để sáng tạo phƣơng pháp và phƣơng tiện kỹ thuật mới cao hơn, giá trị hơn. Con ngƣời muốn NCKH phải có kiến thức nhất định về lĩnh vực nghiên cứu và cái chính phải rèn luyện cách làm việc tự lực, có phƣơng pháp từ lúc ngồi trên ghế nhà trƣờng. Định nghĩa động cơ Nhiều nhà tâm lý học định nghĩa động cơ theo nghĩa rộng nhƣ, P.Young coi “động cơ là cái quy định hành vi nói chung”; J.Guiford định nghĩa “Động cơ là một trạng thái bất kì nào đó quy định, điều khiển và duy trì tính tích cực”; L.Bozovic coi động cơ là “nguyên nhân tâm lý của hoạt động [25, tr. Với cách hiểu nhƣ vậy sẽ gặp khó khăn đó là quy tất cả mọi yếu tố thúc đẩy quy định hành vi vào lĩnh vực động cơ, động cơ không có sự phân biệt rõ ràng với các yếu tố tâm lý khác.

Một số nhà tâm lý học lại thu hẹp khái niệm động cơ, ví dụ nhƣ S.Frued coi động cơ nhƣ bản năng sống, chết, ham muốn khoái lạc nhục dục.Adler cho rằng : động cơ là ham muốn dành vị trí thống trị và địa vị siêu đẳng.Lewin cho rằng : động cơ là mối tƣơng quan giữa trƣờng lực bên ngoài và nội (LUAN.DQGHN) 19 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.DQGHN) lực tâm lý bên trong. Medofin coi động cơ là sự thay đổi hoocmon và khoái cảm, đƣợc kích thích bằng dòng điện…với các định nghĩa nhƣ vậy đã quy động cơ vào những yếu tố sinh vật, bản năng và hiểu máy móc động cơ con ngƣời: J.Piegie cho rằng tính định hƣớng tích cực có chọn lọc của hành vi tạo thành bản chất của hiện tƣợng đƣợc xác định là động cơ; Rubinstein coi “Động cơ là sự quy định về mặt chủ quan hành vi con ngƣời bởi thế giới, sự quy định này thể hiện gián tiếp bằng quá trình phản ánh động, thông qua động cơ của mình, con ngƣời liên hệ với bối cảnh hiện thực: [25, tr.Smith định nghĩa động cơ nhƣ một quá trình bên trong có ảnh hƣởng đến hƣớng, tính bền vững và sức mạnh của hành vi có mục đích [12, tr.Leonchiev khẳng định “động cơ chính là đối tƣợng có khả năng đáp ứng nhu cầu đã đƣợc chủ thể tri giác, biểu tƣợng, tƣ duy…đó là sự phản ánh chủ quan về đối tƣợng thoả mãn nhu cầu. Động cơ có chức năng thúc đẩy và định hƣớng hoạt động nhằm thoả mãn nhu cầu. Qua các định nghĩa trên có thể hiểu một cách chung nhất động cơ là một hiện tƣợng tâm lý thúc đẩy quy định sự lựa chọn và hƣớng của hành vi.

Bản chất xã hội của hiện tượng động cơ Động cơ con ngƣời mang bản chất xã hội. Các động cơ nhằm thoả mãn nhu cầu tinh thần, nhận thức, tình cảm, giao lƣu…là đặc trƣng nổi bật của con ngƣời. Động cơ của con ngƣời đƣợc đặc trƣng hình thành bởi các mối quan hệ xã hội, trong quá trình hoạt động của chủ thể mà nó tham gia vào chứ không thể có sẵn từ lúc đứa bé mới sinh ra. Hệ thống động cơ của con ngƣời đƣợc hình thành trên cơ sở hoạt động giao tiếp của chủ thể trong hệ thống các quan hệ xã hội, các nhóm xã hội nhất định mà ở đó chủ thể thực hiện vai trò, vị thế của mình.

Kể cả những động cơ đáp ứng những nhu cầu tự nhiên, bản năng thì ở con ngƣời, những động cơ ấy cũng có bản chất lịch sử, xã hội. Sở dĩ nhƣ vậy là vì kể cả những nhu cầu tự nhiên của con ngƣời cũng có nội dung và (LUAN.DQGHN) 20 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.DQGHN) phƣơng thức thoả mãn đều là sản phẩm phát triển của xã hội do con ngƣời sáng tạo ra, phụ thuộc vào điều kiện sống, đặc biệt là lối sống – văn hoá đặc trƣng cho mỗi nhóm nguời, mỗi một dân tộc, phụ thuộc vào trình độ phát triển, kinh tế xã hội của thời đại mà họ đang sống và đồng thời phụ thuộc vào quá trình giáo dục mà họ đang đƣợc thụ hƣởng. Bộ mặt tâm lý xã hội của cá nhân đều đƣợc thể hiện tập trung trong động cơ. Tất cả các thành tố nhân cách đều có quan hệ chặt chẽ với động cơ chung của cuộc sống, cũng nhƣ động cơ cụ thẻ của từng hành động.

Đặc điểm của động cơ - Đặc trưng của động cơ là tính ý thức. Ý thức là sự phản ánh tâm lý cao nhất mà chỉ riêng con ngƣời mới có, phản ánh bằng ngôn ngữ, là khả năng con ngƣời hiểu đƣợc các tri thức mà con ngƣời tiếp thu đƣợc. Để một nhu cầu trở thành động cơ thúc đẩy hoạt động thì trƣớc hết nó phải đƣợc đối tƣợng hoá (tức là đối tƣợng của nhu cầu phải đƣợc chủ thể ý thức một cách đầy đủ), nghĩa là chủ thể phải hình dung ra đối tƣợng nào có thể có khả năng thoả mãn nhu cầu của bản thân mình. Chủ thể cần xây dựng đƣợc một biểu tƣợng cụ thể về nó.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Tài liệu "Động Cơ Nghiên Cứu Khoa Học Của Giảng Viên Đại Học Khoa Học Tự Nhiên" khám phá những yếu tố thúc đẩy giảng viên trong việc nghiên cứu khoa học, từ đó nâng cao chất lượng giáo dục và thương hiệu của trường. Tài liệu này không chỉ cung cấp cái nhìn sâu sắc về động lực nghiên cứu mà còn chỉ ra những lợi ích mà giảng viên và sinh viên có thể đạt được từ việc tham gia vào các hoạt động nghiên cứu. Độc giả sẽ tìm thấy những thông tin hữu ích giúp họ hiểu rõ hơn về vai trò của nghiên cứu khoa học trong môi trường học thuật.

Để mở rộng kiến thức của bạn về chủ đề này, bạn có thể tham khảo thêm tài liệu Luận án mối quan hệ giữa năng lực kết quả nghiên cứu khoa học của giảng viên và thương hiệu trường đại học trường hợp khảo sát ở thành phố hồ chí minh, nơi phân tích mối liên hệ giữa năng lực nghiên cứu và thương hiệu trường đại học. Ngoài ra, tài liệu Luận án tiến sĩ mối quan hệ giữa năng lực kết quả nghiên cứu khoa học của giảng viên và thương hiệu trường đại học trường hợp khảo sát tại thành phố hồ chí minh cũng cung cấp cái nhìn sâu sắc hơn về vấn đề này. Cuối cùng, bạn có thể tham khảo Quản lý hoạt động nghiên cứu khoa học của giảng viên trường đại học quốc tế hồng bàng để hiểu rõ hơn về cách thức quản lý và phát triển hoạt động nghiên cứu trong các cơ sở giáo dục. Những tài liệu này sẽ giúp bạn có cái nhìn toàn diện hơn về động lực nghiên cứu khoa học trong giáo dục đại học.