chương 1 1. Người Tà Ôi an cư lập nghiệp đã trải qua nhiều thế hệ trên đất Lào. Dựa vào ngữ hệ, sinh hoạt văn hóa, và quan trọng nhất là ý thức tự giác tộc người các nhà khoa học khẳng định người Tà Ôi ở Lào có bản sắc văn hóa và có mối liên hệ mật thiết với người Tà Ôi ở Việt Nam. Địa bàn cư trú của người Tà Ôi tập trung chủ yếu ở miền Nam Lào tại tỉnh Salavan.
Các huyện Tum Lan, Tà Ôi và Sa Muội là nơi có khí hậu nóng ẩm, mưa nhiều; Địa hình nhỏ nhưng đa dạng có sông, có núi, có rừng phù hợp với các hình thái kinh tế như khai thác các nguồn lợi từ tự nhiên; canh tác nương rẫy… của người Tà Ôi nên đây là địa bàn người Tà Ôi định cư đông nhất.Cũng giống như các cộng đồng tộc người khác, có khá nhiều nhân tố tác động đến quá trình hoạt động kinh tế, sinh hoạt văn hóa của người Tà Ôi trong cuộc sống hiện đại đang đổi thay từng ngày. Sẽ có những thay đổi về hình thức khi thác kinh tế; Sự thay đổi về quyền sở hữu…kéo theo đó là sự phân tầng rõ nét trong cộng đồng tộc người Tà Ôi. Những yếu tố văn hóa truyền thống sẽ bị mai một dần trong quá trình tiếp xúc, giao thoa văn hóa… Sự biến đổi đó cần có sự thích nghi của một cộng đồng tộc người trong quá trình phát triển. Tìm hiểu về kinh tế, văn hóa của dân tộc Tà Ôi định cư ở tỉnh Salavan cần nghiên cứu kĩ về văn hóa tộc người; về chính sách của chính phủ Lào, của tỉnh Salavan dành cho quá trình phát triển của dân tộc thiểu số.
Đây chính là cơ sở để tôi tiếp cận, nghiên cứu sâu và giải thích được những hoạt động kinh tế và văn hóa của người Tà Ôi ở Lào. Trước hết, tôi đã khảo sát thực tế trên địa bàn ba huyện Tum La, Sa Muội và Tà Ôi. 16 c Chương 2 ĐỜI SỐNG KINH TẾ CỦA NGƯỜI TÀ ÔI Ở TỈNH SALAVAN, NƯỚC CỘNG HÒA DÂN CHỦ NHÂN DÂN LÀO GIAI ĐOẠN 1986 - 2016 2. Kinh tế nông nghiệp Người Tà Ôi tại tỉnh Salavan Lào trồng trọt theo mùa vụ.
Thời tiết ở Lào có hai mùa: Mùa mưa và mùa khô, mùa mưa bắt đầu từ tháng 4 đến tháng 10, đối khí kéo dai đến tháng 11, mùa khô bắt đầu từ tháng 12 đến tháng 3. Từ sau năm 1986 cho đến nay, kinh tế của người Tà Ôi về cơ bản vẫn là kinh tế nông nghiệp. Trồng trọt vẫn là ngành sản xuất chính của người Tà Ôi tỉnh Salavan nói riêng. Các hoạt động kinh tế khác như: Chăn nuôi, nghề thủ công, trao đổi hàng hóa, khai thác nguồn lợi tự nhiên (chủ yếu là sắn bắn, hái lượm) vẫn có vai trò nhất định trong đời sống hàng ngày của đồng bào Tà Ôi.
Do điều kiện tự nhiên của tỉnh Salavan nằm ở vùng bình nguyên trên cao Tà Ôi nối liền cao nguyên Bolaven nên có nhiều thuận lợi và khó khăn cho sản xuất nông nghiệp, đó cũng là cơ sở để hoạt động sản xuất nông nghiệp của người Tà Ôi ở vùng này có những đặc trưng riêng biệt so với hoạt động sản xuất nông nghiệp của các dân tộc khác. Nương rẫy Kinh tế nương rẫy đóng vai trò chủ đạo trong mọi hoạt động và đời sống của người Tà Ôi. Cây trồng trên nương là lúa nương các cây lương thực khác (đỗ, đậu, lạc, sắn…). Dựa trên điều kiện đất đai và khí hậu, trong quá trình canh tác lâu năm trên địa hình dốc, người Tà Ôi có nhiều kinh nghiệm trong trồng trọt thông qua chu kì về nông lịch về mùa vụ.1: Lịch mùa vụ của người Tà Ôi Thời Thời tiết Nội dung các công việc Thành phần gian thực hiện Tháng 12 Mùa mưa Lễ mừng lúa mới: Lễ Ada Cá thành viên Sau Lễ Ada, công việc tìm trong cộng đất, phát nương để trồng lúa, đồng ngô, khoai sắn Tháng 1 Mưa ít Tìm đất đai, chuẩn bị làm rẫy Nam giới Săn bắn thú rừng Tháng 2 Lượng mưa ít Phát nương, đốt cỏ.
Nam giới nhất trong năm Săn bắn thú rừng Tháng 3 Lượng mưa ít Phát nương, đốt cỏ. Trỉa lúa, Nam và nữ giới nhất trong năm ngô, hoa mầu Tháng 4 Lượng mưa ít Phát nương, đốt cỏ. Trỉa lúa, Nam và nữ giới nhất trong năm ngô, hoa mầu Tháng 5 Mùa mưa Làm cỏ. Nam và nữ giới Tháng 6 Mùa mưa Làm cỏ.
Nam và nữ giới Tháng 7 Mùa mưa Làm cỏ lúa nương; Thu hoạch ngô Nam và nữ giới Tháng 8 Mùa mưa Chuẩn bị kho đựng lúa, ngô Nam và nữ giới sau thu hoạch. Kho được làm gần nhà ở. Khai thác măng rừng. Tháng 9 Mùa mưa Phát cây, dọn đường nhỏ lên Nam giới nương, thuận cho vận chuyển khi thu hoạch lúa, ngô.
Tháng 10 Lượng mưa Tiếp tục công việc chuẩn bị Nam giới nhiều nhất cho thu hoạch mùa vụ. trong năm Tháng 11 Lượng mưa Thu hoạch mùa vụ Nam và nữ giới nhiều nhất trong năm Nguồn: Tác giả điền dã, thống kê 18 c Có thể nhận thấy, nông lịch của người Tà Ôi chia làm 12 tháng, mỗi tháng 30 ngày. Nội dung công việc sản xuất cho thấy, đồng bào Tà Ôi khi đưa ra nông lịch chủ yếu dựa vào chu kỳ canh tác nương rẫy, các hoạt động kinh tế phụ trợ như săn bắn hái lượm đánh cá, cho đến lễ hội được phân bố theo. Cách tính nông lịch của người Tà Ôi vừa đảm bảo các giai đoạn cần thiết trong một chu kỳ sản xuất, vừa phù hợp với sự biến đổi của khí hậu trong vùng theo từng tháng từng vụ, trong đó thời tiết khí hậu đóng vai trò quan trọng.
Cơ sở hình thành nông lịch - cách tính một mùa rẫy (1 năm - 1 chu kỳ sản xuất) của người Tà Ôi là kết hợp việc xem xét sự biến đổi của trăng và các hiện tượng xảy ra trong tự nhiên. Theo kinh nghiệm những ngày trăng sáng (15,16 âm lịch) là giai đoạn cây có khả năng sinh trưởng tốt nhất. Chu kỳ canh tác Tìm hiểu về chu kì canh tác nương rẫy của người Tà Ôi, tôi thấy quá trình canh tác trải qua 5 bước: Thứ nhất là khâu chọn đất. Đây là khâu quan trọng có tính quyết định nhất đến năng suất sản lượng mùa vụ.
Công việc chọn đất sẽ được bắt đầu sau Tết cơm mới. Theo kinh nghiệm, đồng bào thường chọn đất ở rừng già, cây cối um tùm, hoặc nơi có nhiều cây giang, cây mây, đất có màu đen, nhiều tổ giun ùn đống. nới có nhiều lớp lá mục tích tụ quanh năm, khi đốt sẽ cho nhiều phân tro, đây chính là nguồn dinh dưỡng cho cây trồng. Loại đất này có độ ẩm cao, khả năng giữ nước tốt (đất thịt, đất sét, không có đá to), nên tốt cho tất cả các loại cây trồng, nhất là lúa.
Người Tà Ôi thường tránh xa những nơi có cây đa, cây đào. nhất là cây đa bị mục, tảng đá to. theo quan niệm đó là nơi trú ngụ của thần linh, nếu quấy rối sẽ bị ma rừng phạt. Người Tà Ôi cũng biết rằng trong khâu chọn đất, nơi có đất lẫn đá trồng ngô; Đất thịt, đất sét trồng lúa; Đất bồi quanh sông suối thường nên trồng các loại hoa màu (ngô, đậu, vừng, khoai, thuốc lá.
Mỗi loại đất sẽ phù hợp với từng loại cây trồng khác nhau, đất phù hợp sẽ cho năng suất cao. 19 c Ngoài những kinh nghiệm hiểu biết về đất (địa thế, tính chất, màu sắc, hệ thực vật .), người Tà Ôi còn dựa vào sự mách bảo của thần linh, thông qua giấc mơ của chủ rẫy để tìm được mảnh rẫy tốt. Tập quán này xuất phát từ quan niệm mọi vật đều có linh hồn (tự nhiên thần). Theo người Tà Ôi, đất đai không phải là vô chủ mà luôn có các vị thần cai quản, ma quỷ ngự trị.
Vì vậy, khi muốn làm rẫy đồng bào phải cầu xin thần núi, thần đất. Nếu đêm về nằm mơ thấy gà chết, thấy cuộn tóc, người có râu đuổi, bị thú đuổi dữ đuổi. đám rẫy đó sẽ bỏ,vì thần không đồng ý cho, đất đó không tốt. Ngược lại, nếu mơ thấy được ăn cơm cá, gặp một cây cam sai quả, một gùi đất ở rẫy, mơ thấy mồ mả nhiều, một dòng suối trong.
và nhất là một đám ớt chín đỏ là dấu hiệu tốt, thần báo mộng đã đồng ý. Vì theo đồng bào, thấy mồ mả đó chính là hình ảnh của những đống lúa, thấy cát trắng trong lòng suối trong đồng nghĩa với gạo trắng, thấy ớt đỏ là dấu hiệu được mùa. Trong trường hợp không mơ thấy gì, đổng bào xin thần bằng cách thả hai miếng tre chẻ đôi xuống đám đất: Nếu úp tức là thần không đồng ý, nếu ngửa tức là thần đồng ý. Những quan niệm này mang tính duy tâm, thiếu cơ sở khoa học, gây ảnh hưởng xấu đến thời vụ gieo trồng làm lu mờ những kiến thức, những tiêu chuẩn chọn đất.
Nhưng, xét theo lối tư duy cảm tính, sự kém hiểu biết đã dẫn họ đến ý nghĩ về sự tồn tại một thế lực siêu nhiên với sức mạnh huyền bí mà họ không thể giải thích nổi. Trong quá trình nhận thức thế giới, họ không đủ cơ sở để tin tưởng vào khả năng của mình mà nhờ đến sự mách bảo, phó thác cho thần linh. Đây chính là điều hạn chế trong kho tàng tri thức kinh nghiệm của người Tà Ôi. Nhiều khi gặp được đất tốt cũng phải bỏ vì mơ xấu, ngược lại đất không phải là tốt nhưng mơ không xấu lại được đưa vào sử dụng, nên năng suất cây trổng thấp.
Một rẫy hoặc khu rẫy sau khi đã lựa chọn thường được sử dụng sản xuất trong ba vụ. Sau ba năm đồng bào bỏ rẫy và đi tìm rẫy khác. Sau 5 đến 7 năm, họ quay lại và có quyền xác lập quyền chiếm hữu, nếu chưa có ai chiếm hữu hoặc sử dụng. Trong thời gian bỏ hóa, đất đó thuộc quyền quản lý của chủ làng, 20 c không thuộc sở hữu của một cá nhân nào nên ai cũng có quyền khai phá chiếm hữu.
Điều này phản ánh thời kỳ đất rộng người thưa, cũng như phản ánh tính cộng đồng cao trong xã hội người Tà Ôi. Ngày nay, trên thực tế sau thời kỳ bỏ hóa, rẫy có thể được sử dụng bởi một cá nhân nào bất kỳ nhưng phải báo với chủ rẫy cũ. Điều này chỉ mang tính hình thức nhiều hơn là bắt buộc. Thứ hai, khâu phát cốt, đốt rẫy.
Sau khi đã chọn được đám rẫy vừa ý dựa trên quan sát và sự mách bảo của thần linh, với một diện tích phù hợp với khả năng lao động của gia đình, đồng bào tiến hành phát, cốt.