Tổng quan luận án
Luận án tiến sĩ khoa học giáo dục của nghiên cứu sinh Phạm Thị Út với đề tài "Đổi mới sử dụng tư liệu trong dạy học lịch sử Việt Nam từ thế kỉ X đến giữa thế kỉ XIX ở trường trung học phổ thông (Qua thực nghiệm sư phạm ở thành phố Hải Phòng)" được thực hiện tại Trường Đại học Sư phạm Hà Nội, thuộc chuyên ngành Lí luận và phương pháp dạy học lịch sử (Mã số đào tạo trình độ tiến sĩ). Công trình được hoàn thành năm 2024 dưới sự hướng dẫn khoa học của TS. Hoàng Thanh Tú và TS. Nguyễn Văn Ninh.
Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu
Bối cảnh đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo theo Nghị quyết số 29-NQ/TW của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XI, Nghị quyết số 88/2014/QH13 của Quốc hội và Quyết định số 404/QĐ-TTg ngày 27/3/2015 của Thủ tướng Chính phủ đặt ra yêu cầu chuyển dịch mục tiêu giáo dục từ truyền thụ kiến thức thuần túy sang phát triển toàn diện phẩm chất và năng lực người học, được cụ thể hóa trong Chương trình Giáo dục phổ thông (CTGDPT) 2018 và CTGDPT môn Lịch sử ban hành năm 2022. Thực tế dạy học lịch sử ở trường trung học phổ thông (THPT) cho thấy nhiều học sinh chưa yêu thích môn học, tiếp thu thụ động và học đối phó; nguyên nhân xuất phát từ nội dung mang nặng tính hàn lâm và phương pháp dạy học của giáo viên chậm đổi mới, lệ thuộc vào sách giáo khoa (SGK).
Giai đoạn lịch sử Việt Nam từ thế kỉ X đến giữa thế kỉ XIX ghi nhận quá trình hình thành, phát triển và suy thoái của các triều đại phong kiến độc lập với nguồn tư liệu lịch sử phong phú (tư liệu thành văn, hiện vật, di tích, hình ảnh). Tuy nhiên, việc khai thác và sử dụng các nguồn tư liệu này trong nhà trường còn hạn chế, chưa có công trình nào giải quyết một cách có hệ thống, toàn diện từ cơ sở lí luận, tuyển chọn danh mục tư liệu đến đề xuất các biện pháp sư phạm cụ thể trong dạy học lịch sử Việt Nam giai đoạn này ở cấp THPT theo định hướng phát triển phẩm chất, năng lực.
Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu
- Mục tiêu nghiên cứu: Trên cơ sở khẳng định vai trò, ý nghĩa của việc đổi mới sử dụng tư liệu trong dạy học lịch sử, luận án xác định nội dung lịch sử và hệ thống tư liệu cần sử dụng trong dạy học lịch sử Việt Nam từ thế kỉ X đến giữa thế kỉ XIX; từ đó đề xuất các biện pháp sư phạm đổi mới việc sử dụng tư liệu trong dạy học lịch sử Việt Nam ở trường THPT.
- Nhiệm vụ nghiên cứu:
- Nghiên cứu lí luận về vấn đề sử dụng tư liệu trong dạy học nói chung và trong dạy học lịch sử nói riêng.
- Khảo sát, điều tra, đánh giá thực trạng tại một số trường THPT trên cả nước về việc đổi mới sử dụng tư liệu trong dạy học lịch sử Việt Nam từ thế kỉ X đến giữa thế kỉ XIX.
- Tìm hiểu chương trình, SGK Lịch sử 2006 và chương trình, SGK Lịch sử 2022 để xác định các loại tư liệu cần khai thác, sử dụng trong dạy học lịch sử Việt Nam từ thế kỉ X đến giữa thế kỉ XIX.
- Đề xuất các biện pháp sư phạm đổi mới việc sử dụng tư liệu trong dạy học lịch sử Việt Nam từ thế kỉ X đến giữa thế kỉ XIX và tiến hành thực nghiệm sư phạm để rút ra các kết luận khoa học có liên quan đến đề tài.
Giả thuyết khoa học
Hiện nay, việc sử dụng tư liệu trong dạy học lịch sử Việt Nam ở trường THPT còn nhiều bất cập. Nếu xác định được nội dung lịch sử cần sử dụng tư liệu, hệ thống tư liệu cần khai thác sử dụng và đề xuất được các biện pháp đổi mới sử dụng tư liệu trong dạy học lịch sử Việt Nam từ thế kỉ X đến giữa thế kỉ XIX phù hợp thì sẽ góp phần nâng cao chất lượng dạy học bộ môn.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Quá trình sử dụng tư liệu trong dạy học lịch sử Việt Nam từ thế kỉ X đến giữa thế kỉ XIX ở trường THPT, tập trung vào các biện pháp sư phạm đổi mới sử dụng tư liệu trong dạy học lịch sử.
- Phạm vi lý luận và nội dung: Luận án tập trung vào việc sử dụng tư liệu trong dạy học lịch sử để xác định hệ thống tư liệu và đề xuất các biện pháp đổi mới; nội dung kiến thức lịch sử Việt Nam từ thế kỉ X đến giữa thế kỉ XIX theo chương trình hiện hành 2006 và chương trình 2022.
- Phạm vi không gian khảo sát và thực nghiệm: Khảo sát thực trạng tại các trường THPT trên phạm vi toàn quốc theo 4 vùng miền (thành phố, nông thôn, miền núi, miền biển); tiến hành thực nghiệm sư phạm từng phần và toàn phần (bài học nội khóa và hoạt động ngoại khóa) tại các trường THPT trên địa bàn thành phố Hải Phòng.
- Phạm vi thời gian: Giai đoạn lịch sử nghiên cứu từ thế kỉ X đến giữa thế kỉ XIX; công trình luận án hoàn thành và bảo vệ năm 2024.
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Luận án đã tổng quan các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước theo hai hướng tiếp cận chính:
CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU TỔNG QUAN
Tư liệu trong dạy học chung Tư liệu trong dạy học lịch sử
(Thế giới & Trong nước: Giáo dục học, (Thế giới & Trong nước: Lí luận PPDH Lịch sử,
Tâm lý học, Phương pháp trực quan) Sử liệu học, Nghiên cứu chuyên đề, Luận án)
Các hướng nghiên cứu trước đây
- Nghiên cứu về tư liệu trong dạy học nói chung:
- Trên thế giới: J.Pextalôzi (1970) và J.A.Komenxki (1996) nhấn mạnh nguyên tắc trực quan và việc tác động đa giác quan trong nhận thức; J.J.Rousseau (1970) đề cao tài liệu tham khảo giúp phát huy tính tự giác; B.P.Exipôp (1971) và T.A.Ilinna (1973) phân tích vai trò của sách giáo khoa kết hợp tài liệu bổ trợ; A.G.Côvaliáp (1974) nghiên cứu tác động của tư liệu vật chất đến tâm lý học sinh; N.G.Onhisuc (1976), I.I.Lerner (1977), E.I.Primacôpxki (1978), I.F.Kharlamôp (1978), N.A.Rubakin (1982), N.V.Savin (1983), N.M.Iakovlev (1983) và H.Sruitman (1984) nghiên cứu phương pháp đọc sách, tự học, nêu vấn đề và xử lí tư liệu ngoài SGK; T.S.Makiguchi (1994), J.Piaget, B.Inhelder (2000), S.O’Hara (2005), J.H.Stronge (2013) và Y.Ahmad (2006) bàn về kĩ năng tự học, năng lực khai thác tài liệu và bảo tồn di sản phục vụ giáo dục.
- Trong nước: Các công trình giáo dục học và tâm lý học của Hà Thế Ngữ, Đặng Vũ Hoạt (1987), Thái Duy Tuyên (1999), Phạm Viết Vượng (2000), Nguyễn Quang Uẩn (2004), Nguyễn Hữu Châu (2005), Trần Tuyết Oanh (2006), Trần Bá Hoành (2006), Đặng Vũ Hoạt, Hà Thị Đức (2008) đã định hình việc sử dụng tài liệu nhằm chuyển đổi vị trí người học từ thụ động sang chủ động khám phá tri thức.
- Nghiên cứu về sử dụng tư liệu trong dạy học lịch sử:
- Trên thế giới: A.A.Vaghin (1972), N.G.Đairi (1973), V.A.Matiusin (1980), E.Bernheim (1989), V.Adoumie, A.Bacrot (2000) và M.T.Stuđennhikin (2007) đã phân tích bản chất của sử liệu trong dạy học bộ môn, xây dựng mô hình khai thác tài liệu, dạy học theo chủ đề và ứng dụng công nghệ thông tin. Các bài báo của V.Cumanep (1986), I.Kovaltchenko (1985), S.Schmidt (1985), M.T.Cuceanu (2015) và kỷ yếu hội thảo quốc tế tại Đại học Negeri Malang (Indonesia, 2016) làm rõ giá trị thông tin khách quan của tư liệu lịch sử.
- Trong nước:
- Giáo trình và chuyên khảo: Phan Ngọc Liên, Trần Văn Trị (1976, 1981, 1992); Phan Ngọc Liên, Nguyễn Thị Côi, Trịnh Đình Tùng (1998, 2002, 2005); Lê Văn Sáu, Trương Hữu Quýnh, Phan Ngọc Liên (1987); Nguyễn Thị Côi (1995, 2006); Phan Ngọc Liên (2003); Nguyễn Cảnh Minh, Đỗ Hồng Thái, Hoàng Thanh Hải, Nguyễn Văn Đằng (2006); Nghiêm Đình Vỳ (2006); Đinh Ngọc Bảo (2012); Nguyễn Thị Thế Bình (2014); Nguyễn Văn Ninh (2018, 2019); Nguyễn Thế Anh (2018); Phạm Xuân Hằng, Đinh Thị Thùy Hiên (2020); Nguyễn Thị Minh Phương, Phạm Thị Thúy, Lê Viết Chung (2022).
- Bài viết học thuật và hội thảo: Nguyễn Văn Thâm, Phan Đại Doãn (1985); Dương Trung Quốc (1999); Hà Văn Tấn (2007); Vương Đình Quyền (2007); Đại Thắng (2013); Nguyễn Thị Thế Bình, Nguyễn Thị Trang (2016); Nguyễn Văn Ninh, Bùi Thị Oanh (2016); các hội thảo quốc tế và quốc gia về Tư liệu ảnh EFEO (2021), Châu bản triều Nguyễn (2021), Lê Văn Hưu và Đại Việt sử ký (2022).
- Các luận án tiến sĩ liên quan: Nguyễn Văn Hùng (1996), Nguyễn Thừa Hỷ (1982), Đỗ Hồng Thái (2004), Nguyễn Thành Nhân (2007), Phạm Thị Thanh Huyền (2020), Trần Thị Hải Lê (2021) đã nghiên cứu từng loại hình tư liệu cụ thể (văn kiện, di vật, di tích, lịch sử địa phương).
Khoảng trống luận án lựa chọn giải quyết
Các công trình đã công bố chủ yếu dừng lại ở việc khẳng định vai trò chung của tư liệu, phân loại sử liệu học hoặc ứng dụng tư liệu cho từng bài học, giai đoạn lịch sử ngắn hoặc một dạng tư liệu đơn lẻ. Luận án lựa chọn giải quyết khoảng trống: xây dựng cơ sở lí luận và thực tiễn đồng bộ về đổi mới sử dụng tư liệu trong dạy học lịch sử; phân loại và tuyển chọn hệ thống tư liệu chuẩn xác cho toàn bộ tiến trình lịch sử Việt Nam từ thế kỉ X đến giữa thế kỉ XIX ở cấp THPT; thiết kế quy trình và các biện pháp sư phạm ứng dụng vào bài học nội khóa và hoạt động ngoại khóa nhằm đáp ứng mục tiêu phát triển phẩm chất, năng lực học sinh theo CTGDPT 2018 (2022).
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Cơ sở lý thuyết và khung phân tích
Luận án dựa trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và đường lối giáo dục của Đảng, Nhà nước về giảng dạy lịch sử. Tác giả vận dụng các khái niệm và khung lý thuyết:
- Tư liệu lịch sử: Là toàn bộ những di tích, dấu vết của quá khứ phản ánh trực tiếp hoặc gián tiếp hoạt động của con người, mang thông tin về quá khứ để nhà sử học và người học khai thác, khôi phục lại hiện thực lịch sử (kế thừa quan niệm của Phan Ngọc Liên, Phan Huy Lê, Sigurd Schmidt, Ivan Kovaltchenko).
- Tư liệu gốc: Là tư liệu mang thông tin trực tiếp về sự kiện, hiện tượng lịch sử, ra đời cùng không gian, thời gian diễn ra sự kiện; là nguồn tư liệu nguyên chất, chuẩn xác và có độ tin cậy cao nhất (kế thừa Hội Giáo dục Lịch sử 1996, Đỗ Hồng Thái 2004, Nguyễn Văn Ninh 2018).
- Đổi mới sử dụng tư liệu trong dạy học lịch sử: Là sự chuyển đổi căn bản cách thức tổ chức dạy học: từ việc xem tư liệu là công cụ trực quan minh họa thụ động sang coi tư liệu là nguồn kiến thức xuất phát để tổ chức cho học sinh tự lực tìm tòi, khám phá, xử lí thông tin, qua đó hình thành phẩm chất và năng lực bộ môn.
- Đặc điểm tư liệu: Tính khách quan, tính cụ thể, tính toàn diện về mặt nội dung và tính thực tiễn.
- Phân loại tư liệu trong dạy học lịch sử: Gồm 4 nhóm chính: (1) Tư liệu vật chất; (2) Tư liệu thành văn (chữ viết); (3) Tư liệu hình ảnh, hình vẽ; (4) Tư liệu ghi âm, ghi hình; kết hợp các nguồn tư liệu dân gian.
HỆ THỐNG PHÂN LOẠI TƯ LIỆU TRONG LUẬN ÁN
Tư liệu vật chất Tư liệu thành văn Tư liệu hình ảnh Tư liệu ghi âm, ghi hình
(Thành quách, di (Chính sử, văn bia, (Tranh vẽ, ảnh chụp, (Phim tài liệu, băng ghi
tích, hiện vật) sắc phong, châu bản) tranh biếm họa) âm, tư liệu nghe - nhìn)
- Khung năng lực môn Lịch sử:
- Năng lực chung: Tự chủ và tự học; Giao tiếp và hợp tác; Giải quyết vấn đề và sáng tạo.
- Năng lực đặc thù lịch sử: Năng lực tìm hiểu lịch sử; Năng lực nhận thức và tư duy lịch sử; Năng lực vận dụng kiến thức, kĩ năng đã học vào thực tiễn.
Phương pháp nghiên cứu thực tế
Luận án kết hợp phương pháp nghiên cứu định tính và định lượng:
- Nhóm phương pháp nghiên cứu lý thuyết: Phân tích, tổng hợp văn bản quy phạm pháp luật, chương trình, SGK Lịch sử 2006 và 2022; các công trình tâm lí học, giáo dục học, lí luận dạy học và các nguồn sử liệu.
- Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn:
- Phương pháp quan sát: Dự giờ, quan sát hoạt động dạy học của giáo viên và học sinh ở trường THPT.
- Phương pháp điều tra xã hội học: Thiết kế phiếu khảo sát (bảng hỏi) và phỏng vấn trực tiếp giáo viên, học sinh tại các trường THPT trên phạm vi toàn quốc thuộc 4 vùng miền (thành phố, nông thôn, miền núi, vùng biển).
- Phương pháp thực nghiệm sư phạm: Tổ chức dạy học thực nghiệm (từng phần và toàn phần) các bài học nội khóa và hoạt động ngoại khóa tại các trường THPT ở Hải Phòng; bố trí lớp thực nghiệm (TN) và lớp đối chứng (ĐC) tương đương về trình độ.
- Phương pháp toán thống kê: Sử dụng thống kê mô tả (bảng phân phối tần số, tỉ lệ phần trăm, điểm trung bình, phương sai) và thống kê suy luận (kiểm định tham số $t$-Student so sánh với giá trị tới hạn $t_\alpha$) để kiểm chứng giả thuyết khoa học và tính khả thi của các biện pháp đề xuất.
Nguồn tư liệu và dữ liệu
- Tư liệu sử học: Các bộ chính sử (Đại Việt sử ký, Đại Việt sử ký toàn thư, Khâm định Việt sử thông giám cương mục, Đại Nam thực lục, Phủ biên tạp lục, Việt sử cương mục, Việt Nam thế chí); văn kiện, chiếu chỉ (Chiếu dời đô, Hịch tướng sĩ, Bình Ngô đại cáo); Châu bản triều Nguyễn, hệ thống văn bia (Bia tiến sĩ Văn Miếu, bia chùa), sắc phong, hương ước; hiện vật, di tích lịch sử (thành Cổ Loa, thành nhà Hồ, di tích Cố đô Huế...).
- Dữ liệu khảo sát và thực nghiệm: Phiếu điều tra cán bộ quản lý, giáo viên, học sinh; kết quả bài kiểm tra đánh giá, phiếu quan sát thái độ và mức độ hứng thú của học sinh lớp TN và ĐC.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Tổng quan các công trình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận án
Chương này tổng kết có hệ thống các công trình trong và ngoài nước về tư liệu và sử dụng tư liệu trong dạy học lịch sử. Luận án đúc kết 4 vấn đề kế thừa:
- Khẳng định tư liệu là nguồn nhận thức quan trọng giúp học sinh kết nối tri thức SGK với hiện thực lịch sử khách quan.
- Xác định việc sử dụng tư liệu là biện pháp cốt lõi để rèn luyện năng lực tự học, tự nghiên cứu và tư duy độc lập.
- Kế thừa các nguồn tư liệu và hướng dẫn phương pháp khai thác từ các nghiên cứu trước.
- Nhận diện các rào cản, khó khăn của giáo viên khi triển khai sử dụng tư liệu trong thực tế.
Đồng thời, chương 1 xác lập 5 nhiệm vụ luận án tiếp tục giải quyết: xây dựng hệ thống cơ sở lí luận; khảo sát thực trạng toàn diện; tuyển chọn hệ thống tư liệu lịch sử Việt Nam thế kỉ X – giữa thế kỉ XIX; đề xuất các biện pháp đổi mới sử dụng tư liệu nội khóa và ngoại khóa; tiến hành thực nghiệm sư phạm kiểm chứng.
Chương 2: Vấn đề đổi mới sử dụng tư liệu trong dạy học lịch sử ở trường Trung học phổ thông. Lí luận và thực tiễn
Chương 2 hoàn thiện khung lí luận và đánh giá thực trạng dạy học:
- Về lí luận: Phân tích bản chất của tư liệu, tư liệu gốc, quan niệm đổi mới sử dụng tư liệu trong DHLS; làm rõ 4 đặc điểm, 4 nhóm phân loại tư liệu; luận giải 5 cơ sở xuất phát (mục tiêu giáo dục phát triển năng lực, yêu cầu đổi mới PPDH, phát huy tính tích cực, giá trị nguồn tư liệu, đặc điểm tri thức lịch sử) và vai trò, ý nghĩa của đổi mới sử dụng tư liệu đối với kiến thức, phẩm chất, năng lực học sinh.
- Về thực tiễn: Luận án tiến hành điều tra, khảo sát thực trạng sử dụng tư liệu tại các trường THPT đại diện cho 4 vùng miền trên cả nước. Kết quả cho thấy:
- Hầu hết GV và HS nhận thức được tầm quan trọng của tư liệu, song mức độ sử dụng thường xuyên còn thấp.
- Tư liệu chủ yếu được GV sử dụng để minh họa kiến thức có sẵn trong SGK, chưa tổ chức cho HS tự khai thác, khám phá.
- Khó khăn chủ yếu của GV gồm: thiếu thời gian chuẩn bị bài giảng, thiếu nguồn tư liệu chuẩn xác đã được thẩm định, điều kiện cơ sở vật chất - thiết bị dạy học chưa đồng bộ, kĩ năng thiết kế hoạt động học với tư liệu còn hạn chế.
- HS còn thụ động, quen với lối học truyền thống ghi nhớ máy móc.
| Nội dung khảo sát thực trạng | Thực trạng ghi nhận từ khảo sát | Định hướng đổi mới của luận án |
|---|---|---|
| Nhận thức về tư liệu | Đa số GV và HS đánh giá tư liệu có vai trò quan trọng | Chuyển nhận thức từ "minh họa kiến thức" sang "nguồn kiến thức xuất phát" |
| Tần suất & hình thức sử dụng | Thỉnh thoảng sử dụng; chủ yếu GV đọc/trình chiếu cho HS xem | Thiết kế hoạt động học tập đa dạng, giao nhiệm vụ cho HS tự xử lí tư liệu |
| Nguồn tư liệu sử dụng | Phụ thuộc vào kênh hình SGK, tư liệu tìm kiếm tự do trên mạng | Xây dựng danh mục tư liệu chọn lọc, khoa học, phân loại theo chủ đề |
| Hoạt động ngoại khóa | Ít tổ chức; tham quan di tích mang tính hình thức | Tổ chức trải nghiệm di tích có bài tập nghiên cứu và tổ chức dạ hội lịch sử |
Chương 3: Xác định hệ thống tư liệu trong dạy học lịch sử Việt Nam từ thế kỉ X đến giữa thế kỉ XIX ở trường Trung học phổ thông
Chương 3 xác định cấu trúc nội dung và tuyển chọn hệ thống tư liệu phục vụ dạy học:
- Vị trí, mục tiêu, nội dung cơ bản: Phân tích chương trình lịch sử Việt Nam từ thế kỉ X đến giữa thế kỉ XIX qua các thời kì: Ngô - Đinh - Tiền Lê; thời Lý, Trần, Hồ; thời Lê sơ, thời kì chia cắt Đàng Trong - Đàng Ngoài; thời Tây Sơn và thời Nguyễn; bao quát các lĩnh vực chính trị, quân sự, kinh tế, văn hóa, giáo dục và kháng chiến chống ngoại xâm.
- Yêu cầu khi lựa chọn tư liệu: Đảm bảo tính khoa học, chuẩn xác; tính giáo dục tư tưởng; tính vừa sức, phù hợp với tâm sinh lý lứa tuổi và tính thẩm mỹ, trực quan.
- Danh mục hệ thống tư liệu được phân loại chi tiết theo chủ đề:
- Tư liệu thành văn (chữ viết): Trích đoạn Chiếu dời đô (Lý Công Uẩn), Hịch tướng sĩ (Trần Quốc Tuấn), Bình Ngô đại cáo (Nguyễn Trãi), Bạch Đằng giang phú (Trương Hán Siêu), các sắc chỉ, chiếu biểu, các điều luật trong Quốc triều hình luật (Luật Hồng Đức), Hoàng Việt luật lệ (Luật Gia Long), các đoạn trích trong Đại Việt sử ký toàn thư, Khâm định Việt sử thông giám cương mục, Đại Nam thực lục, Châu bản triều Nguyễn.
- Tư liệu văn bia: Văn bia Văn Miếu - Quốc Tử Giám (bia Tiến sĩ), văn bia chùa Sùng Thiện Diên Linh, văn bia tháp Phổ Minh...
- Tư liệu vật chất (di tích, hiện vật): Thành Cổ Loa, Hoàng thành Thăng Long, Thành nhà Hồ, Lam Kinh, Cố đô Huế, phòng tuyến Như Nguyệt, bãi cọc Bạch Đằng; vũ khí thời Trần (súng thần cơ Hồ Nguyên Trừng), thạp gốm hoa nâu, ấn tín hoàng gia, tiền cổ qua các triều đại.
- Tư liệu hình ảnh, sơ đồ: Sơ đồ tổ chức bộ máy nhà nước thời Lý - Trần, thời Lê sơ và thời Nguyễn; lược đồ các trận đánh lớn (Bạch Đằng 938, 1288; Như Nguyệt 1077; Chi Lăng - Xương Giang 1427; Rạch Gầm - Xoài Mút 1785; Ngọc Hồi - Đống Đa 1789); tranh vẽ chân dung danh nhân lịch sử.
Chương 4: Các biện pháp đổi mới sử dụng tư liệu trong dạy học lịch sử Việt Nam từ thế kỉ X đến giữa thế kỉ XIX ở trường Trung học phổ thông. Thực nghiệm sư phạm
Chương 4 đề xuất hệ thống biện pháp sư phạm và trình bày kết quả thực nghiệm:
CÁC BIỆN PHÁP ĐỔI MỚI SỬ DỤNG TƯ LIỆU CỦA LUẬN ÁN
Biện pháp trong bài học nội khóa Biện pháp qua hoạt động ngoại khóa
1. Tạo động cơ học tập (Khởi động) 1. Trải nghiệm di tích lịch sử (Tham quan)
2. Khám phá, chiếm lĩnh kiến thức mới 2. Tổ chức dạ hội lịch sử
3. Củng cố, luyện tập
4. Giờ học thực hành lịch sử
5. Đổi mới kiểm tra, đánh giá
- Hệ thống biện pháp trong bài học nội khóa:
- Sử dụng tư liệu để tạo động cơ học tập cho học sinh: Dùng tư liệu tranh ảnh, hiện vật, câu đố từ trích đoạn sử liệu tại hoạt động khởi động nhằm kích thích trí tò mò, tạo mâu thuẫn nhận thức.
- Hướng dẫn học sinh sử dụng tư liệu để khám phá, chiếm lĩnh kiến thức mới: Chuyển giao nhiệm vụ học tập gắn với phiếu học tập chứa đoạn tư liệu thành văn hoặc hình ảnh; hướng dẫn HS đọc hiểu, phân tích, so sánh, đối chiếu và rút ra nhận xét.
- Sử dụng tư liệu để củng cố, luyện tập: Thiết kế bài tập tình huống, bài tập trắc nghiệm khách quan dựa trên tư liệu, yêu cầu HS giải thích, chứng minh các nhận định lịch sử.
- Sử dụng tư liệu trong giờ học thực hành lịch sử: Hướng dẫn HS đóng vai, khai thác tập tư liệu để phục dựng sự kiện, lập bảng so sánh hoặc vẽ sơ đồ tư duy.
- Sử dụng tư liệu để đổi mới kiểm tra, đánh giá: Xây dựng ma trận và câu hỏi kiểm tra đánh giá định kì/thường xuyên dựa trên ngữ liệu mới ngoài SGK, đánh giá năng lực tư duy, xử lí thông tin lịch sử thay vì yêu cầu tái hiện sự kiện.
- Hệ thống biện pháp trong hoạt động ngoại khóa:
- Tổ chức cho học sinh trải nghiệm di tích lịch sử thông qua hoạt động tham quan ngoại khóa: Thiết kế quy trình trải nghiệm 3 bước (chuẩn bị - thực địa - báo cáo thu hoạch); giao phiếu nhiệm vụ thu thập tư liệu tại thực địa di tích.
- Đổi mới sử dụng tư liệu thông qua tổ chức dạ hội lịch sử: Sân khấu hóa các tác phẩm văn học, sự kiện lịch sử dựa trên tư liệu chính sử; tổ chức thi đố vui, trưng bày báo tường/sản phẩm học tập lịch sử.
- Kết quả thực nghiệm sư phạm:
- Địa bàn và quy mô: Triển khai thực nghiệm từng phần và toàn phần tại các trường THPT ở Hải Phòng đối với cả bài học nội khóa và hoạt động ngoại khóa.
- Kết quả định lượng: Điểm số trung bình của các lớp TN luôn cao hơn lớp ĐC; tỉ lệ điểm khá, giỏi của lớp TN vượt trội so với lớp ĐC; tỉ lệ điểm yếu, kém giảm rõ rệt. Kiểm định toán học cho thấy giá trị $t$ tính toán đều lớn hơn giá trị tới hạn $t_\alpha$ ($t > t_\alpha$), khẳng định sự khác biệt giữa kết quả học tập của lớp TN và ĐC có ý nghĩa thống kê ở độ tin cậy $\alpha = 0,05$.
- Kết quả định tính: Học sinh lớp TN thể hiện mức độ hứng thú cao hơn, chủ động tham gia thảo luận, phát biểu ý kiến, nâng cao kĩ năng tự học, năng lực khai thác tư liệu và tình yêu đối với lịch sử dân tộc.
Kết quả và những đóng góp mới
Đóng góp mới về mặt lý luận
- Hệ thống hóa và làm sâu sắc khái niệm tư liệu, tư liệu gốc và bản chất của việc "đổi mới sử dụng tư liệu" trong dạy học lịch sử ở trường THPT theo định hướng phát triển phẩm chất, năng lực người học của CTGDPT 2018 (2022).
- Làm rõ các đặc điểm, phân loại và luận giải toàn diện 5 cơ sở xuất phát cũng như vai trò, ý nghĩa của việc đổi mới sử dụng tư liệu đối với việc hình thành năng lực chung và năng lực đặc thù lịch sử cho học sinh THPT.
Đóng góp mới về mặt thực tiễn
- Khảo sát và phản ánh bức tranh chân thực về thực trạng sử dụng tư liệu trong dạy học lịch sử tại các trường THPT thuộc 4 vùng miền trên phạm vi cả nước, chỉ rõ những hạn chế và nguyên nhân thực tế.
- Tuyển chọn, biên soạn và hệ thống hóa danh mục tư liệu lịch sử Việt Nam từ thế kỉ X đến giữa thế kỉ XIX một cách khoa học, đồng bộ, bám sát yêu cầu cần đạt của chương trình giáo dục phổ thông.
- Đề xuất hệ thống quy trình và biện pháp sư phạm đồng bộ gồm 5 biện pháp dạy học bài học nội khóa và 2 biện pháp tổ chức hoạt động ngoại khóa, có hướng dẫn chi tiết cách thức triển khai.
- Kiểm chứng tính khả thi và hiệu quả của các biện pháp đề xuất thông qua thực nghiệm sư phạm với các dữ liệu toán thống kê đáng tin cậy.
Kiến nghị và giải pháp đề xuất
- Đối với Bộ Giáo dục và Đào tạo và các Sở GD&ĐT: Tiếp tục bồi dưỡng, tập huấn cho giáo viên phương pháp khai thác, sử dụng tư liệu và đổi mới kiểm tra đánh giá theo định hướng phát triển năng lực; đầu tư trang thiết bị, số hóa nguồn học liệu lịch sử.
- Đối với các trường THPT và tổ chuyên môn: Tăng cường sinh hoạt chuyên môn theo hướng nghiên cứu bài học gắn với sử dụng tư liệu; tạo điều kiện kinh phí và thời gian tổ chức các hoạt động ngoại khóa trải nghiệm di tích lịch sử.
- Đối với giáo viên Lịch sử: Chủ động sưu tầm, tích lũy hồ sơ tư liệu; chuyển đổi phương pháp dạy học từ truyền thụ sang tổ chức hoạt động cho học sinh tự chiếm lĩnh kiến thức qua tư liệu; tăng cường câu hỏi sử dụng tư liệu trong kiểm tra đánh giá.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
- Hạn chế:
- Phạm vi khảo sát thực nghiệm sư phạm tập trung chủ yếu trên địa bàn thành phố Hải Phòng, chưa mở rộng thực nghiệm toàn phần tại các tỉnh miền núi, vùng sâu vùng xa do điều kiện tổ chức.
- Hệ thống tư liệu và biện pháp sư phạm giới hạn trong phạm vi lịch sử Việt Nam từ thế kỉ X đến giữa thế kỉ XIX cấp THPT.
- Hướng nghiên cứu tiếp:
- Mở rộng nghiên cứu quy trình và biện pháp đổi mới sử dụng tư liệu cho các giai đoạn lịch sử khác (lịch sử thế giới, lịch sử Việt Nam cận đại và hiện đại) và các cấp học khác (THCS).
- Nghiên cứu ứng dụng công nghệ số, công nghệ thực tế ảo (VR/AR), trí tuệ nhân tạo (AI) trong việc xây dựng bảo tàng ảo và số hóa không gian di tích lịch sử phục vụ dạy học bộ môn.
Giá trị tham khảo
Công trình luận án mang lại giá trị tham khảo thiết thực cho nhiều nhóm đối tượng:
- Giáo viên Lịch sử trường THPT: Tham khảo hệ thống danh mục tư liệu chọn lọc ở Chương 3 và quy trình 5 biện pháp nội khóa, 2 biện pháp ngoại khóa ở Chương 4 để trực tiếp áp dụng soạn giáo án, thiết kế bài giảng phát triển năng lực và xây dựng đề kiểm tra đánh giá.
- Nghiên cứu sinh, học viên cao học, sinh viên ngành Sư phạm Lịch sử: Sử dụng làm tài liệu tham khảo khoa học về cơ sở lí luận, phương pháp luận nghiên cứu giáo dục học, kĩ thuật xử lí dữ liệu thống kê toán học và cách thức thiết kế thực nghiệm sư phạm.
- Cán bộ quản lý, chuyên viên chỉ đạo bộ môn tại các Sở GD&ĐT, Phòng GD&ĐT: Tham khảo để xây dựng tài liệu tập huấn chuyên môn, định hướng đổi mới phương pháp dạy học và kiểm tra đánh giá môn Lịch sử theo CTGDPT 2018.
Câu hỏi thường gặp
1. Luận án định nghĩa "tư liệu gốc" như thế nào và nhấn mạnh giá trị gì của nguồn tư liệu này?
Theo luận án, tư liệu gốc là tư liệu mang những thông tin trực tiếp về sự kiện, hiện tượng lịch sử, ra đời cùng không gian, thời gian của sự kiện, hiện tượng lịch sử; là nguồn tư liệu nguyên chất nhất trong các tư liệu lịch sử. Tư liệu gốc có độ tin cậy và chính xác cao nhất, giúp học sinh tiếp cận trực tiếp với dấu vết quá khứ, tránh hiện tượng hư cấu hoặc "hiện đại hóa" lịch sử.
2. Luận án phân loại các nguồn tư liệu lịch sử thành những nhóm cụ thể nào?
Dựa vào nội dung lịch sử được phản ánh và tính chất nguồn tư liệu, luận án phân chia tư liệu thành 4 nhóm chính: (1) Tư liệu vật chất (thành quách, cung điện, chùa miếu, công cụ lao động, hiện vật khai quật); (2) Tư liệu thành văn/chữ viết (chính sử, văn bia, hương ước, sắc phong, số liệu thống kê); (3) Tư liệu hình ảnh - hình vẽ (tranh ảnh chụp, tranh vẽ đương thời); (4) Tư liệu ghi âm, ghi hình; cùng với các nguồn tư liệu dân gian bổ trợ (ca dao, truyền thuyết, gia phả).
3. Luận án đề xuất những biện pháp cụ thể nào để đổi mới sử dụng tư liệu trong bài học nội khóa?
Luận án đề xuất 5 biện pháp sư phạm trong bài học nội khóa:
- Sử dụng tư liệu để tạo động cơ học tập cho học sinh (hoạt động khởi động).
- Hướng dẫn học sinh sử dụng tư liệu để khám phá, chiếm lĩnh kiến thức mới.
- Sử dụng tư liệu để củng cố, luyện tập.
- Sử dụng tư liệu trong giờ học thực hành lịch sử.
- Sử dụng tư liệu để đổi mới kiểm tra, đánh giá.
4. Hoạt động ngoại khóa đổi mới sử dụng tư liệu được tổ chức theo những hình thức nào?
Luận án đề xuất 2 hình thức ngoại khóa chính: (1) Tổ chức cho học sinh trải nghiệm di tích lịch sử thông qua hoạt động tham quan ngoại khóa theo quy trình chuẩn bị - thực địa - báo cáo với phiếu nhiệm vụ học tập; (2) Tổ chức dạ hội lịch sử cho học sinh thông qua sân khấu hóa, biểu diễn kịch lịch sử dựa trên tư liệu và thi tìm hiểu kiến thức lịch sử.
5. Kết quả thực nghiệm sư phạm của luận án tại Hải Phòng chứng minh điều gì?
Kết quả thực nghiệm sư phạm chứng minh tính khả thi và hiệu quả của các biện pháp đề xuất. Điểm số trung bình và tỉ lệ khá giỏi của các lớp thực nghiệm cao hơn rõ rệt so với lớp đối chứng; kiểm định thống kê cho thấy giá trị $t > t_\alpha$ với mức ý nghĩa $\alpha = 0,05$, khẳng định việc đổi mới sử dụng tư liệu thực sự nâng cao chất lượng học tập bộ môn và phát triển phẩm chất, năng lực của học sinh.
Kết luận
Luận án tiến sĩ của tác giả Phạm Thị Út là một công trình nghiên cứu chuyên khảo hoàn chỉnh, nghiêm túc thuộc chuyên ngành Lí luận và phương pháp dạy học lịch sử. Luận án đã giải quyết thỏa đáng vấn đề lí luận và thực tiễn về đổi mới sử dụng tư liệu trong dạy học lịch sử Việt Nam từ thế kỉ X đến giữa thế kỉ XIX ở trường THPT theo định hướng phát triển phẩm chất và năng lực của Chương trình Giáo dục phổ thông 2018 (2022). Hệ thống danh mục tư liệu được tuyển chọn công phu kết hợp cùng các biện pháp sư phạm đồng bộ trong bài học nội khóa và ngoại khóa đã được kiểm chứng tính khả thi qua thực nghiệm sư phạm tại Hải Phòng. Công trình là tài liệu tham khảo có giá trị cao cho giáo viên phổ thông, giảng viên, sinh viên sư phạm và các nhà nghiên cứu phương pháp dạy học lịch sử.