Chương 1. Cơ sở lý luận về thiết chế tự trị của tổ chức khoa học và công nghệ công lập. Thực trạng hoạt động của Viện Nghiên cứu Hải quan. Đề xuất các giải pháp nhằm đổi mới hoạt động của viện Nghiên cứu Hải quan theo thiết chế tự trị.
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ THIẾT CHẾ TỰ TRỊ CỦA TỔ CHỨC KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ CÔNG LẬP. Chương này làm rõ những khái niệm cơ bản được sử dụng trong luận văn liên quan đến chế độ “ tự chủ, tự chịu trách nhiệm” của tổ chức KH & CN, vai trò của chế độ tự chủ, tự chịu trách nhiệm trong hoạt động KH & CN và cách thức hoạt động của chế độ “ tự chủ, tự chịu trách nhiệm trong toàn bộ hoạt động KH&CN. Từ lịch sử phát triển khoa học, quyền “tự chủ, tự chịu trách nhiệm” có từ khi khoa học được sinh ra. Quan điểm của tác giả cho rằng nó tồn tại dưới cái tên khác là “ quyền tự trị” của hoạt động KH&CN.
Trong thực tế sử dụng các thuật ngữ này hiện nay, những khái niệm như “tự chủ”, „Tự chịu trách nhiệm”, “tự trị” đều đang được hiểu rất khác nhau. Sau đây là những khái niệm và cơ sở lý luận thống nhất xuyên suốt luận văn. Khái niệm tổ chức khoa học và công nghệ công lập 1. Khái niệm tổ chức Khoa học và công nghệ.
Khái niệm tổ chức Khoa học và công nghệ (KH&CN) Tổ chức KH&CN là tổ chức có chức năng thực hiện các hoạt động khoa học và công nghệ Hoạt động KH&CN Hoạt động KH&CN (Science and Technology Acitivitie) là một thuật ngữ trong các văn kiện chính sách KH&CN của UNESCO từ lâu nay, hoạt động KH&CN có thể bao gồm một số nội dung sau: - Hoạt động nghiên cứu và triển khai (R&D), loại hoạt động này được thực hiện trong các trường đại học, trong các doanh nghiệp và cũng có cả các viện nghiên cứu độc lập; - Hoạt động phát triển công nghê, bao gồm mở rộng công nghệ, nâng cấp công nghệ và đổi mới công nghệ; z 7 - Hoạt động dịch vụ KH&CN. NC&TK (Research and Development Chuyển giao Phát triển Triển khai tri thức công nghệ NCCB NCƯD (Technonogical (Transfer) trong sản xuất (Fundamental (Applied Experimental bao gồm cả (technology Research) Research) Development) CGCN Development) Dịch vụ KH&CN (Science and Technology Services) Hình 1. Hoạt dộng KH&TK theo khái niệm của UNESCO. * Hoạt động nghiên cứu và triển khai (R&D).
Năm 1980, UNESCO đưa ra khái niệm NC&TK như sau: - Nghiên cứu (research) bao gồm hai loại, NCCB (fundamental research), NCUD (applíe research), trong đó NCCB chia thành NCCB thuần tuý và NCCB định hướng; NCCB định hướng chia thành NCCB nền tảng và nghiên cứu chuyên dề. - Quá trình “triển khai” bao gồm 3 giai đoạn: tạo vật mẫu – prototype, tạo quy trình – làm pilot để tạo công nghệ và làm thí điểm loạt nhỏ - sản xuất thử loạt 0 hay làm “Sêri 0” - “Triển khai” là một phần của hoạt động NC&TK. Đó là sự kế tục các kết quả nghiên cứu để tạo ra sản phẩm mẫu, là tiền đề cho sự ra đời những sản phẩm mới và công nghệ mới. Trong quá trình triển khai, trong tư duy của người nghiên cứu và trong phòng thí nghiệm chỉ mới xuất hiện những nguyên lý công nghệ và những thực nghiệm đang tiến hành để thực hiện hoá ý tưởng công nghệ thể hiện trên sản phẩm mẫu, chưa hề tồn tại bất cứ một công nghệ nào.
Theo UNESCO: “NC&TK” là hoạt động sáng tạo được thực hiện một cách có hệ thống để tăng cường vốn tri thức, bao gồm tri thức về con người, văn hoá, xã hội và sử dụng vốn tri thức này để tìm ra các ứng dụng mới”. Các loại hình nghiên STT Mục đích nghiên cứu cứu 1 Nghiên cứu mô tả Mô tả chân thực hiện trạng, phù hợp quy luật 2 Nghiên cứu giải thích Làm rõ nguyên nhân 3 Nghiên cứu giải pháp Tìm ra giải pháp mới 4 Nghiên cứu dự báo 1. Dự báo mô tả 2. Dự báo giải thích 3.
Dự báo giải pháp Hình 1. Phân loại hoạt động NC&TK theo chức năng của nghiên cứu. - Phân loại theo phương thức thu thập thông tin (thư viện, điền dã, labô) - Phân loại theo các giai đoạn của nghiên cứu (NCCB, NCƯD và triển khai thực nghiệm): NCCB thuần túy Nghiên cứu tổng thể 1. NCCB NCCB định hướng Nghiên cứu chuyên để 2.
Triển khai thực nghiệm Pilot (tạo quy trình) Sản xuất thử “Sê ri 0” Hình 1. Phân loại hoạt động NC&TK theo các giai đoạn của nghiên cứu a. Nghiên cứu cơ bản (FR – Ffundamental Research) z 9 NCCB là những nghiên cứu nhằm tìm ra những thuộc tính, cấu trúc, động thái của các đối tượng nghiên cứu, các sự vật và hiện tượng. Kết quả của NCCB có thể là những phân tích lý luận, những kết luận về quy luật, định lý, định luật,.
Trên cơ sở đó, hình thành nên các phát hiện, phát minh và các hệ thống lý thuyết mới. NCCB được chia thành hai loại: - NCCB thuần tuý, còn gọi là NCCB tự do hay NCCB không định hướng, là những nghiên cứu tìm hiểu về bản chất sự vật và quy luật của các hiện thượng tự nhiên và xã hội, nhằm nâng cao nhận thức, tri thức mà chưa có hoặc chưa bàn đến bất kỳ một ý nghĩa ứng dụng nào. Loại hình nghiên cứu này, nhìn chung mang đậm dấu ấn cá nhân của nhà nghiên cứu: họ tự suy nghĩ ra, tự đề xuất đề tài nghiên cứu, quyết định chọn lựa đối tượng nghiên cứu và tổ chức nghiên cứu với tính tự chủ rất cao. - NCCB định hướng: còn gọi là nghiên cứu thăm dò, là những NCCB đã dự kiến trước mục đích ứng dụng.
NCCB định hướng lại được chia thành: + Nghiên cứu nền tảng là những nghiên cứu về quy luật tổng thể của một hệ thống sự vật, ví dụ như các hoạt động điều tra cơ bản tài nguyên thiên nhiên, điều tra cơ bản về các điều kiện tự nhiên như địa chất, khí tượng, thuỷ văn, điều tra cơ bản về KT-XH. + Nghiên cứu chuyên đề là nghiên cứu có hệ thống về một hiện tượng, sự vật. Nghiên cứu chuyên đề có thể dẫn đến những cơ sở lý thuyết quan trọng và những ứng dụng có ý nghĩa to lớn trong đời sống, KT-XH. Nghiên cứu ứng dụng (AR Applied –Research) NCƯD là sự vận dụng các lý thuyết, quy luật thu được từ trong NCCB, tức là dựa trên cơ sở các kết quả, sản phẩm của NCCB, để đưa ra những mô tả, giải thích, dự báo hoặc những nguyên lý về các giải pháp (giải pháp được hiểu theo nghĩa rộng nhất của thuật ngữ này, có thể là các giải pháp về công nghệ, vật liệu, sản phảm, giải pháp về xã hội, quản lý, tổ chức,.
NCƯD cũng có thể là nghiên cứu để áp dụng các kết quả nghiên cứu đã thành công ở z 10 một môi trường nhất định, vào trong một môi trường mới của sự vật, hiện tượng. Kết quả NCƯD có thể là một hệ thống tri thức về nhận dạng trạng thái của sự vật, hiện tượng trong hiện tại và tương lai. Cũng có thể là một hệ thống tri thức về giải thích nguyên nhân, nguồn gốc, động thái, cấu trúc, tương tác, hậy quả, quy luật chung chi phối sự vật, hiện tượng. Sản phẩm của NCƯD có thể là một giải pháp mới về công nghê, vật liệu, sản phẩm, về xã hội, tổ chức và quản lý,.
Trong đó, một sản phẩm đặc biệt của NCƯD là sáng chế - thành từ trong lĩnh vực khoa học kỹ thuật và công nghệ. Tuy mang tên gọi như vậy, nhưng kết quả của NCƯD vẫn chưa thể ứng dụng được ngay mà còn phải trải quan một giai đoạn nữa – gọi là triển khai mới có thể đưa chúng vào sử dụng trong thực tế. Triển khai (D – Development) Triển khai ở đây là viết tắt của một thuật ngữ đầy đủ là triển khai thực nghiệm kỹ thuật (TED – Technology Experimental Development hoặc viết gọn là D – Development), hay còn gọi là triển khai thực nghiệm công nghệ là hoạt động vận dụng các quy luật (kết quả của NCCB) và các nguyên lý, giải pháp (kết quả của NCƯD) để tạo ra vật mẫu và công nghệ sản xuất vật mẫu với các tham số kỹ thuật khả thi. Triển khai bao gồm ba giai đoạn: - Tạo vật mẫu (Prototype) là giai đoạn thực nghiệm nhằm tạo ra được sản phẩm mẫu hay còn gọi là vật mẫu chức năng (Functional Prototype), mà chưa quan tâm đến quy trình sản xuất ra vật mẫu và quy mô áp dụng vật mẫu đó.
- Tạo quy trình, công nghệ (Pilot) là giai đoạn tìm kiến, thử nghiệm và tạo ra công nghệ để sản xuất sản phẩm theo mẫu mới vừa thành công ở giai đoạn trước; còn gọi là giai đoạn tạo vật mẫu kỹ thuật (Engineering Prototype). - Sản xuất thử loạt đầu (sản xuất “ Sêri 0”) là giai đoạn kiểm chứng độ tin cậy của công nghệ trên quy mô nhỏ hay làm thí điểm, trong thực tế còn được gọi là sản xuất bán đại trà hay bán công nghiệp. z 11 Theo lý thuyết, kết quả nghiên cứu sau giai đoạn triển khai sẽ được chuyển giao vào sản xuất thông qua CGCN. Tuy nhiên, thực tế có thể do doanh nghiệp chưa sẵn sàng tiếp nhận, cũng có thể do tổ chưc NC&TK còn muốn giữ lại làm bí quyết (know-how) hoặc muốn tiếp tục hoàn thiện công nghê,.
Trường hợp này, thúc đẩy tổ chức NC&TK lập ra các doanh nghiệp vệ tinh (Spin-off) để tự mình đưa ra thị trường các công nghê, sản phẩm mới. * Hoạt động phát triển công nghệ (DT – Development of Technology). Phát triển công nghệ là sự mở rộng và/ hoặc nâng cấp công nghệ bao gồm hoạt động phát triển công nghệ theo chiều rộng – nhân rộng, mở rộng công nghệ và hoạt động phát triển công nghệ theo chiều sâu – nâng cấp công nghệ. “Phát triển công nghệ” theo tiếng Anh cũng có chữ “Development” như “Triển khai” nhưng có sự khác biệt về thời điểm thực hiện và tiêu chí quản lý như sau: Kết thúc “Triển khai”, công nghệ được chuyển giao và vận hành trong sản xuất, lúc đó hoạt động “Phát triển công nghệ” (bao gồm nhân rộng công nghệ và nâng cấp công nghệ) mới bắt đầu.
Quản lý hoạt động “Triển khai” đòi hỏi quan tâm tới các đặc điểm về tính mới”, tính rủi ro, tính bất định, tính phi kinh tế và tính trễ. Quản lý hoạt động “Phát triển công nghệ” đòi hỏi quan tâm tới các đặc điểm tính lặp lại theo chu kỳ, tính tin cậy, tính xác định của sản phẩm, tính kinh tế,. * Đổi mới công nghệ (TI – Technology Innovation) Đổi mới công nghệ là việc chủ động thay thế phần quan trọng (cơ bản, cốt lõi) hay toàn bộ công nghệ đã, đang sử dụng bằng một công nghệ khác tiên tiến hơn, hiệu quả hơn.